Vu lan là lễ báo hiếu

9

  Khi đến ngày 15 tháng 7 âm lịch, ai cũng ít nhất một lần đến chùa tham dự lễ này. Vu lan là một lễ lớn của Phật giáo. Hầu hết các cơ sở tự viện trên của Phật giáo khắp thế giới đều tổ chức lễ Vu lan hàng năm. Trong dịp đại lễ Vu lan năm nay, người viết xin chia sẻ cùng quý vị đề tài: “Vu lan lễ báo hiếu”1. Khắp nơi trên thế giới đều long trọng tổ chức Đại lễ Vu lan, tạo cơ hội cho các Phật tử và những người chưa phải là Phật tử về chùa làm thiện sự báo hiếu công ơn. Cho nên, lễ đó gọi là lễ báo hiếu.

Lễ Vu lan (Lễ Báo hiếu)
Lễ Vu lan được bắt nguồn từ xưa khi chư Tăng sau ba tháng miên mật tu tập thành tựu đạo quả muốn hồi hướng cho tất cả tín chủ của mình, trong đó gồm có Đàn na tín thí, cha mẹ, Sư trưởng… “những ai có lòng tịnh tín đối với Ba Ngôi Báu và các giới”2 đều được sinh lên cõi trời, cõi người. Ban đầu, Kinh chỉ dạy là như thế, nhưng dần dà trải qua các bản Kinh Đại thừa gốc Bồ tát Mục Kiền Liên, đại đệ tử của Đức Phật. Không phải tự dưng cứ đến ngày Rằm tháng Bảy âm lịch hàng năm, Phật giáo trên khắp mọi miền đều long trọng tổ chức “Đại lễ Vu lan – Báo hiếu” thật trang nghiêm, từ hình thức cho đến nội dung, nhằm mang ý nghĩa nhân văn trên bình diện tâm linh và văn hóa của con người. Lễ hội này phát xuất từ sự tích Phật giáo được ghi lại trong Kinh Vu Lan Bồn là (giải đảo huyền)3 “cứu cái khổ treo ngược ở chốn địa ngục”. Như vậy, có thể hiểu từ “Vu Lan Bồn” là giải cứu người có tội bị treo ngược.

Hình tượng Tôn giả Mục Kiền Liên trong lễ Vu lan
Để đề cao tấm lòng hiếu hạnh và chống lại sự đả kích của xã hội tôn sùng đạo hiếu của Khổng Tử và cho rằng Phật giáo chối bỏ ân nghĩa, các nhà tri thức Phật giáo phát triển đã sáng tạo câu chuyện này. “Tôn giả Mục Kiền Liên cứu mẹ là bà Thanh Đề khỏi địa ngục”4. Theo Kinh Vu Lan Bồn thì ngày xưa, khi Tôn giả Mục Kiền Liên tu hành thành tựu, nhớ đến mẫu thân, đã dùng tuệ nhãn kiếm tìm khắp nơi trong trời đất, liền thấy mẹ mình đang ở trong loài ngạ quỷ, bị cực hình rất khổ sở. Thương mẹ, Tôn giả đã dùng thần thông xuống cõi ngạ quỷ dâng bát cơm đầy cho mẹ. Nhưng bà Thanh Đề hãy còn quá tham sân, bởi do ác nghiệp thọ báo còn quá nặng nên khi bốc cơm đưa vào miệng thì cơm biến thành lửa. Tôn giả Mục Kiền Liên không có cách nào cứu được. Ngài liền cầu cứu nơi Đức Phật và được Đức Phật dạy: “Chỉ có một cách duy nhất là nhờ oai lực chú nguyện của mười phương Tăng bảo mới có thể chuyển hóa được nghiệp lực giúp mẹ ông thoát khỏi cảnh khổ”5. Nhưng Bạch Thế Tôn, làm sao con thỉnh được chư Tăng khắp mười phương về để cúng dường cùng một lúc như vậy được? Đức Phật dạy: “Ngày Rằm tháng Bảy là ngày Tự Tứ của chư Tăng. Ngày đó dù các vị ở trong thiền định hay thọ hạ kinh hành, hay hóa độ nhân gian, cũng tập trung lại để cùng Tự Tứ. Đây là ngày Phật Trời hoan hỷ để thỉnh chư Tăng, hãy sắm sửa lễ cúng dường vào ngày đó”6. Tôn giả Mục Kiền Liên y theo lời Phật mà làm. Sau đó, mẹ của Ngài được giải thoát. Trong dịp này, Đức Phật cũng dạy: “Chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng theo cách này (Vu Lan Bồn Pháp) mà làm”7 và ngày lễ Vu lan ra đời. Từ đó hàng năm các chùa đã tổ chức lễ Vu lan. Ngày nay, lễ Vu lan không còn đơn thuần chỉ có ý nghĩa tôn giáo thiêng liêng ca ngợi lòng hiếu thảo đối với mẹ không thôi mà đã trở thành “lễ hội” mang tính văn hóa nói lên lòng hiếu kính của tất cả mọi người đối với cả mẹ lẫn cha hiện tiền, hay ông bà, cha mẹ đã quá vãng mà còn là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt.

Ý nghĩa bông hồng cài áo trong lễ Vu lan
Nét đẹp trong ngày Vu lan là có chương trình “bông hồng cài áo”8. Buổi lễ thiêng liêng ấy, ai còn cha mẹ sẽ được cài lên ngực áo một đóa hoa hồng, ai mất cha mẹ được cài lên ngực đóa hồng trắng, với ý nghĩa chia sẻ nỗi mất mát của những số phận không may đã mất cha hoặc mất mẹ hay cả hai.

Tại sao làm con phải có hiếu?
Mỗi người chúng ta có mặt trên cõi đời này là nhờ vào tinh cha huyết mẹ. Mẹ cưu mang chín tháng mười ngày, ngày đêm nuôi dưỡng nên ơn sanh thành của cha mẹ kể sao cho xiết. Trong cuộc sống có hạnh phúc nào lớn hơn hạnh phúc còn cha mẹ và không có bất hạnh nào lớn hơn bất hạnh của kẻ mồ côi. Không có mẹ bên cạnh ai lo bú mớm, tắm rửa, ẵm bồng, chăm sóc chúng ta? Không có cha bên cạnh ai lo tảo tần làm việc kiếm tiền nuôi nấng, dạy dỗ chúng ta? Lúc còn nhỏ chúng ta cần cha mẹ mỗi phút mỗi giây ngay lúc khỏe mạnh cũng như lúc trái gió trở trời đau ốm. Khi lớn lên, ra đời, chúng ta chạy đua theo đời, mê say sự nghiệp, bận lo lắng tô bồi cho hạnh phúc lứa đôi, hay bận lo chăm sóc cho con cái của riêng mình quên bẵng đi cha mẹ. Vì bận rộn nên chúng ta không cảm nhận rõ sự cần thiết cha mẹ bên cạnh chúng ta. Chỉ khi nào gặp cảnh ngộ không may, làm ăn thất bại, vợ bỏ, chồng bỏ, con hư, khi tám ngọn gió đời quật chúng ta nghiêng ngả, vùi dập đến nỗi chúng ta không còn niềm tin đối với người xung quanh. Lúc đó chúng ta mới chợt tỉnh ra rằng, chúng ta còn cha mẹ. Cha mẹ lúc nào cũng vẫn là chiếc nôi ấm áp cho chúng ta quay về nương tựa. Cha mẹ đón nhận chúng ta vô điều kiện dù chúng ta thành công hay thất bại, dù chúng ta hạnh phúc hay khổ đau. Ân sủng thiêng liêng ấy, tình cảm cho đi bao la bất tận ấy, ta có thể tìm được nơi đâu, ngoài cha mẹ của chúng ta? Cho nên, việc phụng dưỡng cha mẹ không phải chỉ là trách nhiệm và bổn phận của người làm con, mà đó là một sứ mệnh thiêng liêng. Dù nỗ lực để tận hiếu nhưng công ơn cha mẹ thật rất khó mà đáp đền. Trong Kinh có dạy: “Có hai hạng người, này các Tỷ kheo, ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và cha… Nếu đấm bóp, tắm rửa, và dẫu tại đấy họ có đại tiểu tiện, như vậy cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha!”9. Hiếu đạo theo Phật giáo, không phải chỉ cung kính cha mẹ và phụng dưỡng cha mẹ về mặt vật chất là đủ, mà chúng ta còn cần phải khuyến hóa cha mẹ trở về Chánh pháp để giúp cha mẹ thoát khỏi cảnh bị đọa lạc sau khi lìa đời. Đó mới là cách báo hiếu trọn vẹn.

Lời kết
Lễ Vu lan là ngày báo hiếu vô cùng cao đẹp của Phật giáo. Lễ Vu lan còn mang một ý nghĩa thật thiêng liêng cao cả, giúp cho con cái nghĩ nhớ đến công ơn cha mẹ, khơi dậy trong lòng họ tinh thần hiếu hạnh đáng quý. Riêng chúng ta là người con Phật nhận thức sâu sắc lời dạy, đối với cha mẹ ngày nào cũng là ngày đáng quý, đáng báo hiếu cha mẹ, vì cuộc đời vô thường, ai biết được một ngày nào đó không còn cha mẹ. Cho nên, báo hiếu mẹ cha chúng ta báo hiếu hàng ngày chứ không chờ đến ngày lễ Vu lan.

Giác Minh Hữu


Chú thích
1. Vu lan thắng hội hay còn gọi là Vu lan báo hiếu.
2. HT. Thích Minh Châu dịch (1991), Kinh Tương Ưng 5 Đại Phẩm, Chương XI Tương Ưng Dự Lưu IV. Phẩm Phước Đức Sung Mãn V. Phẩm Phước Đức Sung Mãn Với Kệ VI. Phẩm Với Trí Tuệ VII. Phẩm Đại Trí Tuệ, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, tr. 587.
3. HT. Thích Thiện Hoa (2012), Phật học phổ thông 1, Khóa II Bài Thứ Hai: Vu Lan Bồn, Nxb. Tôn Giáo, Hà Nội, tr. 207.
4. Thích Minh Thời (biên soạn) (2008), Kinh Nhật tụng, Nxb. Tôn Giáo, Hà Nội, tr. 306.
5. Thích Minh Thời (biên soạn) (2008), Kinh Nhật tụng, Nxb. Tôn Giáo, Hà Nội. tr. 305-316.
6. HT. Thích Phước Sơn (2010), Một số vấn đề Giới luật, 14. Kiết Hạ An Cư, Nxb. Phương Đông, TP. Hồ Chí Minh, tr. 154.
7. HT. Thích Trí Quảng (2012), Nghi thức tụng niệm, Nghi thức Vu lan – Báo Hiếu, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 168.
8. Đại học Vạn Hạnh, Tư Tưởng Số 8 (Năm 1971), Bản thuyết trình về tình yêu trong Triết học KIERKEGAARD, Thư viện Đại học Vạn Hạnh, tr. 58.
9. HT. Thích Minh Châu dịch (1996), Kinh Tăng Chi Bộ 1, Chương II Hai Pháp IV. Phẩm Tâm Thăng Bằng, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, tr. 119.