Vô Tự Chân Kinh

168

Cực Ngu Cực Khôn

Vậy thì những chuyện vô công rỗi nghề, khám phá điên khùng tưỡng tượng trên trời đó của các khoa học gia, các nhà bác học, các hiền triết, các thánh nhân, và các bật thiện tri thức để làm gì? Động lực nào đả thúc đẩy họ, và họ làm với mục đích gì? Vì họ muốn quên mình để phục vụ nhân loại hay vì họ vị kỷ cá nhân muốn được nổi danh và giàu có? Thực tế hơn, những nổ lực tìm tòi, nghiên cứu, và khám phá không ngừng đó của nhân loại, từ khi khai thiên lập địa tới ngày hôm nay, có ích lợi gì cho cái bản tánh vị lợi, và ích kỷ cho cuộc sống giá áo túi cơm của chúng ta không?   Câu trã lời là, “Không! Nó không ích lợi gì cho những kẽ ngu muội cả, nói ra còn hại cho họ nữa. Ngược lại những khám phá trên là ấn chứng quý báu cho những tiện ngộ, đốn ngộ, và đại ngộ của các bật thiện tri thức, các nhà bác học, các hiền triết, khoa học gia, và những người đả giác được an tâm kiến tánh và ngộ được chơn như diệu pháp trong như huyễn tam muội.” 

Phật nói, “Trí Tuệ của Như Lai như hằng hà lá rừng ở trên núi, nhưng những điều Như Lại dạy chỉ như vài cọng lá này trong tay ta.”  Đa số những kẻ ngu muội tưởng cái đống rừng lá trên non kia chả ích lợi gì cho cái đầu óc vị lợi và ích kỷ của họ cả.  Đa số những người này thiếu cái điều kiện tiên quyết (prerequisite) để ghi danh vào đại học Phật Giáp để học Pháp.  Trái lại, vì tham dục tốc đạt giác ngộ, giải thoát khỏi khổ đau, tai qua nạn khỏi, mạnh khoẻ, thành công và hạnh phúc; đó mới thật sự lý do và mục đích mà họ theo đạo Phật.  Ngược lại, có nhiều kẻ “nữa tĩnh nữa điên, nữa ngu nữa dại” như Albert Einstein, các khoa học gia, bật hiền triết, thánh nhân, bật thiện tri thức, và các Tổ là những kẻ ‘ngu muội’ mới chạy theo cái đám lá trong rừng đó.  Có phải họ là những kẻ ngu si – bỏ cái “có”(hữu) theo cái “không”(hư) – trong đó có cả Đức Phật Thích Ca và Phật Hoàng Trần Nhân Tông, bỏ đi làm kẻ vô gia cư (homeless,)mong tìm đạo pháp để cứu độ chúng sinh, và quên mình để phục vụ nhân loại? 

Trong Kinh Pháp Đàn, Phẩm Cơ Duyên Thứ 7, Thần Hội lễ bái cầu xin sám hối. Lục Tỗ lại nói, “Ngươi nếu tâm mê chẳng thấy cần phải hỏi thiện tri thức để chỉ đường, ngươi nếu tâm ngộ tức tự thấy tánh, phải y pháp tu hành. Nay ngươi mê chẳng thấy tự tâm, lại đến hỏi ta thấy hay không thấy, ta thấy tự ta biết, chẳng dính dáng cái mê của ngươi, ngươi nếu tự thấy, cũng chẳng dính dáng cái mê của ta, sao chẳng tự thấy tự biết, mà lại hỏi ta thấy hay chẳng thấy!”

Vậy thì, ai khôn ai, ai dại, ai hiền ai ngu, ai điên, ai tĩnh đây?  Cực hiền như cực ngu, cực ngu như cực khôn, quả thật là quá đúng.  Bodhisattva Vidyuddeva said, “Knowledge (vidyaa) and ignorance (aavidyaa) are dualistic. The natures of ignorance and knowledge are the same, for ignorance is undefined, incalculable, and beyond the sphere of thought. The realization of this is the entrance into non-duality.” Tôi tạm phóng dịch: Kiến thức (vidyaa) và ngu muội (aavidyaa) là nhị nguyên.  Tự tánh cả hai đều giống nhau mà ngu muội là không định nghĩa được, không đo lường được, và nó vượt ngoài cái vòng cầu của ý thức.  Nhận ra như vậy là đả bướt vào vô tự quan của Tâm Pháp Bất Nhị với sự cứu cánh của chư Phật, vi diệu đối với từng lớp, từng thành phần, thảy đều đặng Tri Kiến Phật, thảy đều Giải Thoát Môn, không kể kẻ nghèo người giàu, bất luận bậc trí tuệ, hoặc kẻ kém trí tuệ, miễn là Tín Tâm liền sở đắc Chân Lý Bất Nhị.