Vai trò nữ Phật tử thời Lý

18
Tôn tượng Ni sư Diệu Nhân

I . Dẫn nhập
Phật giáo du nhập Việt Nam từ rất sớm, vào khoảng thế kỷ đầu công nguyên, theo hai con đường: Đường bộ từ Ấn Độ truyền vào Trung Quốc theo “con đường tơ lụa” rồi sang Việt Nam bằng đường thủy, từ Ấn Độ theo các thương thuyền dọc bờ biển Đông Dương, Nam Dương, đi qua các nước Sri Lanka, Phù Nam, Chăm Pa rồi truyền vào Việt Nam. Sử liệu còn ghi lại, ngay từ thời Lạc Việt, nước ta đã có trung tâm Phật giáo Luy Lâu nổi tiếng, xuất hiện trước cả hai trung tâm Bành Thành và Lạc Dương của Trung Quốc.

Trong suốt thời kỳ dài Bắc thuộc, Phật giáo nước ta phát triển rất mạnh mẽ, nhiều tông phái, cao Tăng xuất hiện như Khương Tăng Hội, Mâu Bác, Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông… Phật giáo lúc ấy tuy chưa trở thành quốc giáo nhưng đã đóng vai trò quan trọng chủ đạo như một tôn giáo dân tộc trong sứ mạng tham gia bảo vệ chủ quyền và nền văn hóa của dân tộc Việt. Ngoài Phật giáo Ấn Độ, Giao Châu khi ấy còn chịu ảnh hưởng của hai phái Thiền đến từ Trung Quốc là Tỳ Ni Đa Lưu Chi (từ cuối thế kỷ VI) và Vô Ngôn Thông (từ đầu thế kỷ IX). Đây là hai Thiền phái lớn tạo cơ sở cho sự phát triển của Phật giáo tại Việt Nam sau này.

Đến thời Đinh – Tiền Lê (từ cuối thế kỷ X), sau khi đất nước độc lập, thoát khỏi ách đô hộ của phương Bắc, Phật giáo bấy giờ trở thành lực lượng tinh thần trọng yếu của nước nhà. Những nhà sư lỗi lạc, uyên thâm đã trở thành những trụ cột tham mưu vững chắc trong tất cả các đường lối chiến lược xây dựng, phát triển và ổn định đất nước về mọi mặt chính trị, văn hóa, quân sự… sau thời gian quá dài bị đô hộ.

Đến đời nhà Lý, Phật giáo chính thức trở thành Quốc giáo của Đại Việt. Hơn 200 năm (1009 – 1225), trải qua chín đời vua, triều Lý được công nhận là một triều đại lớn để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trong nền lịch sử Việt Nam. Từ việc dời đô từ Hoa Lư đến Thăng Long, việc đặt quốc hiệu mới, đặc biệt là các cuộc chiến chống ngoại xâm hào hùng đến quá trình xây dựng đất nước, phát triển kinh tế, ngoại giao, văn hóa, giáo dục… đều đạt được những thành tựu rực rỡ. Trong tất cả những thành quả đạt được đó đều có sự đóng góp chủ lực của Phật giáo với vai trò cố vấn tối cao. Đây là thời kỳ mà Phật giáo đạt đến đỉnh cao của sự hưng thịnh. Tăng Ni tu học rất đông và được tổ chức chặt chẽ, quy củ. Chùa tháp được xây dựng khang trang và mỗi Tự viện đều được cung cấp nguồn đất riêng rất lớn. Nhiều vị cao Tăng lỗi lạc phò vua giúp nước tiếp nối vai trò Quốc sư qua các đời vua như Thiền sư Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Thông Biện, Viên Thông, Không Lộ… cũng chính trong thời kỳ này đã xuất hiện các vị Ni, nữ Phật tử xuất sắc, để lại những nét son sáng ngời trong trang sử Phật giáo nước nhà.

II. Những nét đặc sắc của Phật giáo thời Lý
Từ bối cảnh gắn kết chặt chẽ giữa Phật giáo và dân tộc như đã trình bày, Phật giáo thời Lý đã để lại những dấu ấn, cột mốc quan trọng, đánh dấu sự hưng thịnh vượt bậc, đặc biệt là hai sự kiện sau đây:

1. Sự hình thành chùa Một Cột

Từ giấc mộng của vua Lý Thái Tông (1028 – 1054) thấy Phật bà Quán Âm ngồi trên đài sen dẫn vua lên đài, đã hình thành nên ý tưởng xây chùa Diên Hựu (tức chùa Một Cột). Nhà vua cho dựng cột đá giữa hồ, trên đỉnh cột xây một cái điện nhỏ bằng gỗ lợp ngói, mái cong hình hoa sen, bên trong thờ Đức Phật bà Quán Thế Âm. Nhìn từ xa đúng là một đóa sen lớn mọc giữa hồ và cây cột trở thành cọng sen. Qua bao thăng trầm lịch sử chùa Một Cột vẫn luôn là biểu tượng tâm linh độc đáo gói trọn hồn dân tộc Việt trong ý niệm:

Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của Tổ tông.

2. Thiền phái Thảo Đường
Với tinh thần tự tôn dân tộc mãnh liệt, các vua triều Lý đã nuôi mộng thành lập một tông phái Thiền riêng biệt mang đậm bản sắc đặc thù của nước Nam. Niềm mong ước càng được nung nấu mạnh mẽ và đã trở thành hiện thực dưới đời vua Lý Thánh Tông. Trong một lần đánh Chiêm Thành, nhà vua đã bắt được rất nhiều tù binh, Ngài Thảo Đường bị lẫn trong số đó. Ngài vốn là vị Sư từ Trung Hoa, cùng với Thầy mình sang ở đất Chiêm Thành. Vua đã đem Ngài dâng cho quan Tăng Lục (tức vị Tăng cao cấp quản lý Tăng đoàn) để làm thị giả. Nhân một lần vị Tăng quan này đang viết Ngữ Lục thì có việc nên đi ra ngoài, để ngỏ trên bàn, sư Thảo Đường đã xem trộm rồi lén sửa chữa vài chỗ, vị Tăng quan kinh ngạc về tài trí của người thị giả bèn tâu lên vua. Nhà vua hết sức vui mừng, liền tôn Ngài làm quốc sư, lập Ngài làm Tổ, lấy tên Ngài làm môn phái rồi nhà vua tự làm đồ đệ đầu tiên đời thứ nhất. Như vậy, đứng trên phương diện lịch sử, người sáng lập ra Thiền phái Thảo Đường là vua Lý Thánh Tông. Thế nên, Thiền phái này mang đậm bản sắc của Lý Thánh Tông trong tinh thần cởi mở và dung nhiếp. Tư tưởng chủ đạo của phái Thảo Đường là tổng hợp Thiền và Tịnh, thực hành trên cả ba phương diện tham Thiền, quán chiếu và niệm Phật thích hợp với tất cả căn cơ, tầng lớp trong xã hội, đồng thời thâu nhiếp, hòa hợp với nhiều Tông phái cũng như tín ngưỡng dân gian khác. Đây chính là thành tựu lớn lao và hết sức ý nghĩa trong giai đoạn ổn định, xây dựng và phát triển đất nước.

III. Người nữ Phật tử thời Lý

1. Nguyên phi Ỷ Lan (1044 – 1117)

Điểm đặc biệt dưới triều vua Lý Thánh Tông là sự liên quan vô cùng mật thiết giữa nhà vua và hình tượng Bồ tát Quán Thế Âm, thể hiện bàng bạc qua mọi lĩnh vực tín ngưỡng, văn hóa, kiến trúc… Ngoài ra, còn một sự kiện quan trọng khác nữa là cuộc gặp gỡ định mệnh giữa vua và người con gái họ Lê ở làng Thổ Lỗi.

Bấy giờ, vua Lý Thánh Tông đã 40 tuổi mà chưa có con trai nên thường đến các đền chùa để cầu tự. Ngự giá đến đâu cũng được công chúng nô nức chào mừng, đổ xô chen lấn để được chiêm ngưỡng thánh nhan. Duy chỉ có nàng thôn nữ xinh đẹp họ Lê của làng Thổ Lỗi là vẫn thản nhiên tiếp tục hái dâu rồi đứng tựa gốc cây lan cất tiếng hát hồn nhiên trong trẻo. Vua cho gọi đến hỏi thì thấy nàng tuy ăn vận quê mùa nhưng cử chỉ đoan trang, lời nói dịu dàng, đối đáp phân minh, lễ nghĩa khác hẳn những người con gái mà vua đã từng gặp. Vua cảm mến bèn lệnh cho nàng theo xa giá hồi kinh, phong làm Ỷ Lan phu nhân (Ỷ Lan tựa là gốc cây lan), đổi tên làng Thổ Lỗi thành làng Siêu Loại. Không lâu sau đó Ỷ Lan phu nhân đã hạ sanh hoàng nam cho vua, chính là Thái tử Càn Đức (vua Lý Nhân Tông sau này), bà được sắc phong Nguyên Phi sau đó. Như vậy, đối với triều đình và nhân dân, chỉ riêng việc này thôi thì sự xuất hiện của bà đã như một vị cứu tinh của dân tộc khi sinh được một vị Thái tử anh minh, xuất chúng cho Đại Việt.

Nguyên Phi Ỷ Lan là người thông tuệ, nhân hậu, có biệt tài quản lý chính sự, điều hành quốc gia xuất sắc. Trong cuộc đời bà đã hai lần đương nhiệm Nhiếp Chính Vương tại hai triều đại: một lần khi ở địa vị Nguyên Phi dưới triều Lý Thánh Tông và một lần trong cương vị Hoàng Thái Hậu dưới triều Lý Nhân Tông.

Mùa Xuân năm Kỷ Dậu (1069) khi xuất chinh đánh Chiêm Thành, vua Lý Thánh Tông đã trao quyền Nhiếp Chính Vương cho Ỷ Lan. Bà đã lãnh đạo và điều hành đất nước vô cùng tốt đẹp, ban hành nhiều chính sách đem đến phúc lợi, no ấm cho nhân dân, người người đều kính quý, tôn xưng bà là Quán Âm nữ (con gái của Bồ tát Quán Âm). Bấy giờ, nhà vua sau nhiều ngày thân chinh chiến đấu mệt mỏi mà không thành, nản chí bèn hạ lệnh lui binh. Nhưng dọc đường hồi kinh đi đến đâu cũng nghe dân chúng ca tụng Nguyên Phi trị nước xuất sắc, cảm hóa lòng dân hòa hợp một mối, dân chúng ca tụng như Bồ tát sống. Nhà vua tự thẹn nên lập tức lệnh toàn quân quay lại chiến trận, quyết tâm chiến đấu và đã làm nên chiến thắng vẻ vang trong lịch sử.

Khi Lý Nhân Tông lên ngôi chỉ mới 7 tuổi (1072), nhà Tống đã nhân cơ hội này trù định kế hoạch xâm chiếm nước ta. Vị Hoàng Thái Hậu trẻ tuổi lại một lần nữa phải gánh vác trọng trách Nhiếp chính cùng với tể tướng Lý Thường Kiệt và bá quan bàn bạc những sách lược xuất quân thần tốc, đánh bật và đẩy lui được quân giặc, lập nên phòng tuyến Sông Cầu nổi tiếng. Với tài thao lược chính trị, trị quốc sáng suốt, Ỷ Lan ngoài thì bình định được ngoại xâm, giữ yên bờ cõi, trong thì thống nhất lòng dân, chăm lo phát triển kinh tế, giúp trăm họ vượt qua thiên tai, đói kém, an cư lạc nghiệp. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của bà, Đại Việt đã trở thành một quốc gia hùng mạnh bậc nhất trong khu vực thời đó.

Điều làm nên những kỳ tích lịch sử của người phụ nữ xuất chúng này chính là ở nền tảng đạo Đức Phật giáo mà bà đã được thấm nhuần từ bé. Nguyên phi Ỷ Lan vốn là một Phật tử thuần thành, ham tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu giáo lý. Bà là người có công rất lớn trong việc truyền bá Phật pháp thông qua việc kiến tạo hàng trăm công trình chùa tháp, ủng hộ Tăng Ni tu học, biên dịch Kinh điển. Bà cũng để lại nhiều thi kệ thấm đượm Thiền vị. Sức ảnh hưởng của người Phật tử đặc biệt này vô cùng rộng lớn, trăm họ thời đó nhất nhất noi gương bà mà sống đời đạo đức, minh triết của người con Phật. Phật giáo dưới sự ngoại hộ đắc lực của bà đã đạt đến đỉnh cao rực rỡ, huy hoàng.

2. Ni sư Diệu Nhân (1041 – 1113)

Có hai nguồn sử liệu khác nhau về thân thế vị Ni sư đầu tiên của nước ta. Nguồn thứ nhất là sử liệu Phật giáo, tức Thiền uyển tập anh và nguồn thứ hai là Đại Việt sử ký toàn thư. Theo Thiền uyển tập anh, Ni sư Diệu Nhân tức công chúa Lý Ngọc Kiều, là trưởng nữ của Phụng Yết Vương (tức Phụng Càn Vương Lý Nhật Trung, hoàng tử thứ hai của Lý Thái Tông) bẩm tính hiền thục, ôn hòa. Vua Lý Thánh Tông lúc ấy chưa có con bèn nhận cháu ruột làm con nuôi, đem vào cung dạy bảo, ban cho hiệu Thụy Thánh công chúa. Lớn lên, công chúa hạ giá với Châu Mục Chân Đăng họ Lê, cháu của vua Lê Đại Hành, sinh được một người con trai là Lê Xương (tức Phụ Thiên Đại Vương sau này). Sau khi chồng chết và con đã lớn khôn, bà xin xuất gia và thọ Bồ tát giới với Thiền sư Chân Không (1046 – 1100). Bà tinh tấn tu học, sau tỏ ngộ thiền cơ, trở thành bậc Trưởng lão Ni mô phạm, kiệt xuất trong Ni giới Việt Nam.

Thuở ấy, đồ chúng đến tham học với Sư rất đông, Sư đem giáo lý Đại thừa mà giảng dạy. Tư tưởng chủ đạo là Kinh Duy Ma và Kinh Kim Cang trong ý niệm quay về tìm lại chân tâm Phật tánh của chính mình, không vọng cầu kinh sắc bên ngoài.

Một hôm, tự biết thời khắc của mình, Sư để lại bài kệ đắc ngộ nổi tiếng rồi an nhiên tọa hóa:

Sanh lão bệnh tử
Tự cổ thường nhiên
Dục cầu xuất ly
Giải phược thêm triền.
Mê chi cầu Phật
Hoặc chi cầu Thiền
Thiền Phật bất cầu
Uổng khẩu vô ngôn.

Dịch nghĩa:

Sanh già bệnh chết
Xưa nay lẽ thường
Muốn cầu thoát ra
Mở trói thêm ràng
Mê đó tìm Phật
Lầm đó cầu Thiên
Phật, Thiền chẳng cầu
Uổng miệng không lời.
(Thiền sư Thích Thanh Từ dịch)

Ni sư Diệu Nhân là vị Sư đầu tiên của Việt Nam mà thân thế và hành trạng được ghi vào chính sử một cách chi tiết, điều mà tất cả các công chúa khác sau khi xuất giá không thể có được. Việc này cho thấy sức ảnh hưởng to lớn của Sư đối với lịch sử Phật giáo nói riêng và nước nhà nói chung. Chính vì thế, hai mươi năm sau ngày Sư viên tịch, vua Lý Thần Tông đã truy phong là Ni sư.

Tinh thần sống an nhiên tự tại, xem sanh tử không đáng vướng bận của Ni sư Diệu Nhân đã tác động mạnh mẽ đến mọi tầng lớp xã hội thời đó, từ dân chúng cho đến Hoàng triều quý tộc, đặc biệt là nữ giới. Những người nữ nước Nam từ đó noi theo gương sáng của Sư mà sống tích cực, mạnh mẽ, hiếu đạo với tổ tiên cha mẹ, tròn nghĩa vụ với Tổ quốc non sông, vẹn trách nhiệm và bổn phận với gia đình và xã hội, biết tu tâm dưỡng tánh, quay về nẻo giác, thật là đời đạo đều tốt đẹp cân phân. Sách sử ngàn năm vẫn lưu danh vị Ni tài ba, đức hạnh là tấm gương sáng cho tất cả thế hệ Ni lưu hậu học Việt Nam.

IV. Chính sách nhu viễn và vai trò của người phụ nữ thời Lý

Nói đến thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ lãnh thổ của triều Lý thì không thể không nhắc tới một kế sách độc đáo do chính vua Lý Thái Tổ đề ra và được tiếp nối qua các triều đại sau, đó chính là chính sách “Nhu viễn”.

Bấy giờ, miền núi rừng biên cương phía Bắc, nước Đại Việt ta giáp với các nước Nam Chiếu, Đại Lý và nước Tống. Việc bình định, thu phục các tù trưởng tại vùng biên giới này trở thành mối bận tâm hàng đầu của triều đình. Nhà vua đã đưa ra chủ trương mềm dẻo qua các mối liên kết hôn nhân ngoại giao bằng việc gả các nàng công chúa cho các vị tù trưởng có thế lực lớn ở các vùng biên cương. Thông qua các mối hôn nhân chính trị này, triều đình nhà Lý vừa được tiếng khoan dung vừa nắm được đất đai và dân chúng miền biên ải, đồng thời thắt chặt mối đại đoàn kết các dân tộc, mở rộng phạm vi ảnh hưởng của triều đình. Bên cạnh đó, nhà Lý kiên quyết dẹp tan những cuộc nổi loạn mang tính cát cứ, đồng thời phủ dụ các thủ lĩnh thông qua việc gia phong chức tước, biến các tù trưởng thành lực lượng của triều đình, có trách nhiệm quản lý và bảo vệ vùng biên cương nơi sinh sống của dân tộc thiểu số. Nhờ đối sách vừa mềm dẻo vừa kiên quyết ấy, nhà Lý đã nhanh chóng thâu tóm được dải biên cương rộng dài của đất nước. Các tù trưởng mang ơn tác thành của nhà vua nên một lòng trung thành, ra sức báo đáp, không còn gây bất lợi cho triều đình.
Như vậy, trong công cuộc bảo vệ an ninh đât nước, giữ vững độc lập chủ quyền, bảo đảm trật tự vùng biên giới và mở mang bờ cõi nước nhà đã có sự đóng góp, hy sinh thầm lặng mà vô cùng lớn lao của các nàng công chúa, đại diện cho nữ giới của cả nước. Chính từ những mảnh đất được các tù trưởng dâng cho triều đình làm sính lễ mà lãnh thổ nước Việt ta ngày càng được mở rộng. Tất cả được đánh đổi bằng cuộc đời của những người con gái Đại Việt. Những nàng công chúa cành vàng lá ngọc tuổi vừa trăng tròn đã phải xa rời cha mẹ, quê hương, đơn độc khăn gói lên đường đến làm dâu vùng biên ải xa xôi hoàn toàn xa lạ. Trong mối quan hệ hôn nhân chính trị này, người con gái bé nhỏ phải gánh lấy trọng trách là cầu nối, làm gắn kết, cân bằng và tốt đẹp mối quan hệ giữa triều đình và nhà chồng. Ở đây không nói đến có hạnh phúc hay không. Đó là sứ mạng mà cũng chính là số phận của những người con gái sinh trong hoàng tộc.

Trên đời này có sự hy sinh nào mà không đẫm nước mắt nhưng hy sinh hạnh phúc cả đời để đổi lấy lợi ích cho dân tộc thì thật là cao cả và đáng khâm phục. Nếu những nàng công chúa này không được ươm mầm và tưới tẩm lòng vị tha vô ngã, hy sinh quên mình, sự mạnh mẽ điềm tĩnh của nhà Phật từ thơ ấu thì thật khó mà làm tròn trọng trách này. Chính vì những nàng công chúa thời Lý lớn lên trong cung đều được học Phật pháp, là những nữ Phật tử thuần thành nên được thấm nhuần lối sống đạo đức, có trách nhiệm với tổ tiên đất nước, sẵn sàng hy sinh bản thân cho sự an ổn của mọi người.

V. Kết luận

Phải nói rằng chưa có một triều đại nào mà Phật giáo tạo nên trang sử vẻ vang huy hoàng trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc như triều Lý. Phật giáo thời Lý mang sức sống mãnh liệt, năng lực phi thường trong việc giáo dục, đào tạo nên con người toàn diện về cả hai mặt, xuất thế cũng như nhập thế. Vua và dân đều sùng đạo, học Thiền, hướng đến sự giác ngộ, khai phóng tâm linh. Rồi sau đó, ứng dụng vào đời sống để Phật hóa xã hội. Khắp nơi trên đất nước, Tự viện, đạo tràng được dựng lập, trường học được mở ra để nguồn ánh sáng nhiệm mầu bất tận của Phật pháp soi rọi, lan tỏa đến muôn nơi từ cung vua, kinh thành, cho đến làng quê hẻo lánh… nơi nơi trên đất nước đều được thấm nhuần mưa pháp. Cả ba Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường khi ấy cùng nhau nở rộ, phát triển cực thịnh, tạo nên sức sống mãnh liệt của Phật giáo, đồng thời cũng thể hiện ý chí tự lực, tự cường của dân tộc Việt.

Trải qua chín đời vua với hơn hai thế kỷ, nhà Lý đã dùng Phật pháp để cai trị đất nước, dùng chính tư tưởng Phật giáo để dung hòa những mâu thuẫn đối kháng trong xã hội, đặc biệt hóa giải những xung đột, bất bình, những bạo ác tàn dư từ cuối thời Tiền Lê để lại. Phật giáo thời Lý đã làm tròn trọng trách là một quốc giáo, luôn nắm vai trò chủ đạo trong mọi phương diện từ chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế đến văn hóa, giáo dục, kiến trúc, nghệ thuật… Tất cả đều mang đậm tinh thần Trí tuệ, Từ bi, Vô ngã vị tha của nhà Phật. Phật giáo bấy giờ không chỉ đơn thuần là chùa tháp, Tăng Ni mà đã hòa nhập trong lòng dân tộc, trở thành ngôi nhà tâm linh chung của toàn dân. Chùa cũng chính là trường học chung của dân chúng và tất cả tầng lớp quý tộc, mà Sư Tăng chính là Thầy giáo, cũng là Thầy thuốc của dân. Tinh thần Từ bi, Vô ngã, Vị tha hướng đến hòa bình an lạc của Phật giáo đã thấm đẫm trong mọi tầng lớp xã hội từ vua quan đến dân chúng và đã trở thành hệ tư tưởng chủ đạo xuyên suốt thời Lý.

Đặc biệt, trong sự đóng góp lớn lao và toàn diện của Phật giáo đối với quá trình xây dựng đất nước cũng như nền văn minh Đại Việt, vai trò của người nữ Phật tử chiếm một vị thế vô cùng quan trọng. Từ hình tượng Phật bà Quán Thế Âm trong tín ngưỡng dân gian, đến sự hình thành nên chùa Một Cột, sự xuất hiện mang tính đột phá của nguyên phi Ỷ Lan – người được dân chúng đương thời tôn xưng là “Quán Âm nữ” – đến tinh thần tự tại, giải thoát, khí phách hào sảng xem nhẹ sinh tử của Ni sư Diệu Nhân hay sự hy sinh thầm lặng và cao cả của các nàng công chúa Phật tử qua chính sách Nhu viễn… tất cả điều chứng minh một điều rằng: người Phật tử thời Lý thật bản lãnh, kiên cường, trí tuệ và đảm lược, nhập thế hay xuất thế đều vẹn toàn, viên mãn. Hiếu, Trung, Đạo, Nghĩa thảy đều tốt đẹp cân phân. Thật xứng danh là nữ tử Đại Việt, là trưởng nữ của Như Lai, là tấm gương sáng cho thế hệ Ni giới hậu học ngàn sau noi theo.

TKN. Như Bảo (Ni viện Thiện Hòa)


Tài liệu tham khảo
1. Mai Thục (2016), Vua Lý Thánh Tông và Thiền phái Thảo Đường, vanhoaphatgiaovietnam.net.
2. Ngô Sĩ Liên (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Quyển 2, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội.
3. Nguyễn Đăng Thục (1967), Thiền học Việt Nam, NXB. Lá Bối, Sài Gòn.
4. Nguyễn Lang (1973), Việt Nam Phật giáo sử luận, NXB. Lá Bối, Sài Gòn.
5. Thích Mật Thể (1960), Việt Nam Phật giáo sử lược, NXB. Minh Đức, Đà Nẵng.
6. ThS. Lê Thị Cúc (2018), Vai trò của Phật giáo thời Lý và sự phát triển văn minh Đại Việt, https://thuvienhoasen.org/a30009/vai-tro-cua-phat-giao-thoi-ly-va-su-phat-trien-van-minh-dai-viet.
7. Trần Văn Giáp, Tuệ Sĩ dịch (1968), Phật giáo Việt Nam, NXB. Ban Tu thư – Viện Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn.