Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác phụ nữ trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

60

  Lồng ghép trong chương trình tu học của chư Ni Hạ trường học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh, vừa qua, chiều ngày 19/7, Hội Liên hiệp Phụ nữ TP. Hồ Chí Minh đã kết hợp với Ni chúng học viện tổ chức Hội nghị báo cáo chuyên đề: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác phụ nữ – Vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Tại hội nghị, bà Phạm Phương Thảo – Nguyên Phó Bí thư Thành ủy, nguyên Chủ tịch Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã trao đổi, bàn thảo và diễn trình hai vấn đề chính: Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác phụ nữ và sự tham gia đóng góp của Ni giới đối với các phong trào tại Thành phố. Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh đến quyền bình đẳng và phát huy vai trò sáng tạo cũng như năng lực, tiềm lực, nguồn lực của phụ nữ nói chung và Ni giới nói riêng.


Qua tư tưởng Hồ Chí Minh, bà Thảo cho biết, trong tổng số gần 2.000 bài viết của Hồ Chủ tịch, Bác đã có nhiều bài viết nhắc về vai trò và vị trí của nữ giới trên thế giới, ở phương Đông lẫn phương Tây. Riêng ở Việt Nam, Bác đề cao phụ nữ trong sự nghiệp bảo vệ dân tộc: “Xem trong lịch sử cách mệnh, chẳng có lần nào không có đàn bà, con gái tham gia.” Một trong những hình ảnh cao đẹp và tiêu biểu đi đầu trong phong trào này là sự đóng góp của Hai Bà Trưng. Họ xứng đáng được đón nhận 8 chữ vàng của Hồ Chủ tịch trao tặng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.

Những con người, những nhân cách ấy như những ngọn đuốc sáng, soi rọi cho phụ nữ nhiều thế hệ biết rằng sức mạnh của nữ giới đã đập tan lối nhìn méo mó về một thành phần trong xã hội được xem là “chân yếu tay mềm”. Có lẽ vì thế, Bộ trưởng Bộ ngoại giao – nhà văn hóa Xuân Thủy đã không ngần ngại khi ca ngợi nữ giới:

Vừa hiền vừa dịu lại vừa tươi
Mà lúc xông pha mạnh tuyệt vời
Đánh giặc, giữ nhà, xây việc nước
Đảm đang lừng lẫy bốn phương trời.

Trong lời di chúc, Hồ Chủ tịch một lần nữa đề cập đến những đóng góp của phụ nữ trong công tác chiến đấu, trong đó Đảng phải có kế hoạch bảo vệ, đặc biệt bảo vệ quyền bình đẳng cho nữ giới. Dù vậy, ghi nhận những nỗ lực của phụ nữ không chỉ dừng lại đó, “Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh”. Nếu chỉ một phía quan tâm thì quyền bình đẳng chỉ mang tính khẩu hiệu, chẳng khác gì tiếng vỗ của 1 bàn tay. Do vậy, để bình đẳng giới là một cuộc cách mạng lớn, đòi hỏi sự nỗ lực của mỗi bản thân chị em phụ nữ.

Trước sự phát triển của nền văn minh, công nghệ, nữ giới không chỉ là những người vợ, người mẹ,… Nữ giới trong xã hội văn minh cần được trang bị và phát triển về mặt trí thức, phải góp phần trong sự nghiệp văn hóa, tự nâng cao trên mọi lĩnh vực, từ bỏ tâm lý tự ti và thụ động. Qua đó, ngoài việc được giải phóng ra khỏi những phạm vi đời thường mặc định, phụ nữ còn phải được giải phóng ra khỏi định kiến hẹp hòi của xã hội phong kiến. Họ là một thành phần cần được tạo điều kiện từ gia đình và xã hội. Tất nhiên, người phụ nữ phải biết cân bằng giữa việc nhà và việc nước.

Điểm qua những đóng góp trên nhiều lĩnh vực cho thấy, nữ giới là một thành phần không thể thiếu trong xã hội xưa nay. Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng Vì thế, được thể hiện rõ ràng trong các Hiến pháp, pháp luật nhà nước. Nhất là về tư tưởng bình đẳng giới được đề cập trong Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013. Cập nhật Hiến pháp gần đây nhất là năm 2013, ghi rõ tại điều 16 và 26. Trong đó, Điều 16 nhấn mạnh: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Điều 26:

“1. Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới.
2. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.
3. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.”

Gần đây, các nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII, XIII, XIV đã có những văn bản lồng ghép giới. Các văn bản đã hiện thực, cụ thể hóa hơn về những nguyên tắc cơ bản. Qua một số báo cáo về tình hình chung được cập nhật về những đóng góp của nữ giới trên nhiều lĩnh vực: từ tỉ lệ dân số, lao động nữ làm chủ, lao động nữ ở hộ gia đình, lao động nữ đầu tư ở nước ngoài, trong nông nghiệp, chế biến, thương mại, dịch vụ ăn uống, tài chính, giáo dục, y tế, nghệ thuật giải trí lẫn tuổi thọ… đều chiếm tỉ lệ trên 50%. Điều này đúng với lời nhận định của Hồ Chủ tịch khi Người cho rằng: “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng xã hội chủ nghĩa một nửa.”

Riêng nói về những đóng góp của Ni giới, Hội nghị cũng đã cho thấy các hoạt động tương tác đối với các phong trào Thành phố như: an sinh xã hội, bảo vệ môi trường. Ni giới cũng vinh dự khi có thành viên được ứng cử vào Đại biểu Quốc hội (Ni sư Tín Liên). Thêm đó, một bộ phận được xem là cơ quan ngôn luận của Nữ giới Phật giáo cũng đã góp phần không nhỏ trong việc nâng cao dân trí, phổ biến đời sống tâm linh tín nưỡng cũng như thuần phong mỹ tục, những nét đẹp văn hóa, con người được thể hiện trong nhiều số báo Đặc san Hoa Đàm kéo dài gần 10 năm qua.

Như vậy, phụ nữ có phải là phái yếu hay không? Có vẻ, “cái yếu” dành cho phụ nữ bây giờ không chỉ đánh giá trên sự mệt nhọc, yếu kém của thể xác, mà còn được đánh đồng trong trên nhiều phương diện. Trong khi, so với cánh nam giới, họ đủ cân sức, cân tài trên các thương trường lẫn Phật trường. Rõ ràng, người nữ không cần một chức phận riêng nhưng họ cần được đối xử công bằng trên mọi phương diện, từ tinh thần đến thể xác. Đó cũng chính là lí do giáo lý nhà Phật luôn đề cao sự bình đẳng, không chỉ giới hạn trong bình diện giới tính, chủng tộc mà còn được thể hiện ngay cả trên quả vị tu chứng.

Xét đó, để hỏi chư Ni đã đóng góp gì cho xã hội, cho dân tộc và tôn giáo? Họ có thể khiêm cung để trả lời bằng những hành động đầy nhân văn, đạo đức được chuyển tải trong đời sống tu tập hàng ngày nơi họ. Không cần làm gì lớn lao hay to tát, họ chỉ cần sự sửa đổi trong từng tâm niệm, chuyển dữ thành lành, chuyển ngụy thành chơn… Thế thì ai dám bảo cửa Phật là nơi ẩn náu cuối đời của những lớp người già nua, là nơi dung chứa của bao kẻ mê muội, thất tình, trốn tránh món nợ trần gian?

Hương Trầm