Truyền thuyết tết Nguyên Đán

655

《HĐ》 Người Trung Quốc ăn mừng Tết truyền thống đến nay đã có hơn ba ngàn năm lịch sử, bác nông dân cảm tạ ông trời ban cho mùa bội thu, đồng thời cũng cầu nguyện cho năm sau tiếp tục được mùa. Nhưng đằng sau việc chúc mừng năm mới có một câu chuyện, dưới đây chính là truyền thuyết về việc chúc mừng năm mới. Tương truyền, có một loài dã thú ăn thịt người tên là “Niên”, cái miệng máu to rộng của nó có thể ăn một lượt hết mấy người. Khi con quái vật này không tìm được thức ăn trên núi, nó sẽ lần xuống tìm đến ngôi làng gần đó tấn công và ăn tất cả mọi động vật nào mà nó ăn được, bao gồm con người. Dân làng phải trải qua một mùa đông lạnh giá tràn ngập nỗi lo âu sợ hãi. Nhiều truyền thuyết khác cũng nói, có một con quái vật “Niên” sống trong hoang dã, ăn thịt người, miệng nó to khủng khiếp, nhai một cái “rốp” là nuốt hết mấy người. Con thú này xuất hiện trong làng khi mùa đông vừa kết thúc, có hay không có thức ăn, nó cũng đều sẽ vào làng, gặp loài gì ăn được là ăn sạch. Vì vậy, dân làng sống trong lo âu sợ sệt suốt cả mùa đông. Mùa đông năm sau, dã thú cứ như hẹn mà đến, bi kịch cứ thế tái diễn. Sức mạnh của dã thú không người tầm thường nào đánh đổ nổi, tất cả dân làng đều đem theo già trẻ, cả gia đình trốn vào trong núi sâu để tránh tai họa  trở thành mồi ngon cho “Niên”. Một ngày nọ, một cụ già trí tuệ thông thái đi ngang qua làng, bảo với một bà lão rằng: “Ta sẽ chỉ cho bà cách làm Niên hoảng hồn chạy mất”. Tối hôm đó, khi Niên bò vào làng thì đã là lúc nửa đêm. Nó trông thấy tất cả các ngôi nhà trong làng đều tối om, trừ căn nhà của bà lão là còn sáng đèn. Niên bò sát vào vách nhà, thè lưỡi liếm mép, trông đợi bữa ăn tối của nó. Thình lình, tiếng pháo nổ chát chúa muốn thủng màng nhĩ vang bên tai liên tục, Con “Niên” bị tiếng pháo làm giật bắn mình, bỗng phát hiện bên ngoài ngôi nhà dán giấy đỏ lòe, dã thú sợ điếng hồn tháo chạy. Dân làng trở lại thôn xóm phát hiện bà lão không bị tổn hại mảy lông cọng tóc nào.

Sau đó, mọi người mới biết loài dã thú tên “Niên” này sợ tiếng động ồn và màu đỏ. Do đó, những người có tiếng tăm trong làng đều tán đồn rằng: Lần sau, khi “Niên” “chiếu cố” đến làng, mỗi nhà đều phải đốt đuốc trước cửa, tụ tập ăn uống vui đùa (còn gọi “Thủ tuế”, tập tục đêm Giao thừa của người Trung Quốc) , rồi tạo ra các âm thanh động.

Năm thứ hai sau đó, Những người có thế lực trong làng đã chuẩn bị đầy đủ, họ đã chuẩn bị pháo, thắp tất cả các loại đèn, trang hoàng màu đỏ cam cho các ngôi nhà, trên cửa dán giấy đỏ, mặc quần áo đỏ, tay xách đèn lồng đỏ. Các cô gái gõ phèng la, đánh trống, ca hát vang lừng, nhảy múa, đi tới đâu đốt pháo tới đó. Niên từ đó về sau, không dám bén mảng đến làng kiếm ăn nữa. Việc làm của dân làng đã trở thành một truyền thống chúc mừng năm mới bình an của người Trung Quốc. Cứ như thế, người Trung Quốc đã lấy truyền thuyết này để chúc mừng năm mới, mãi đến ngày nay.

Truyền thuyết 1: Trừ Tịch.

Tương truyền, thời xưa ở Trung Quốc có con quái thú tên “Tịch”, đầu mọc sừng, hung tợn dị thường. “Tịch” quanh năm sống dưới đáy biển, mỗi khi đến ngày cuối của năm mới bò lên bờ, ăn nuốt động vật, tổn hại tính mạng con người. Do đó, mỗi khi đến ngày cuối năm, mọi người dắt díu già trẻ trốn sâu trong núi, để không bị “Tịch” làm hại.

Một năm nọ, người trong làng Hoa Đào đang vội vàng lên núi tỵ nạn, dân làng người bít cửa sổ, khóa cổng, người thu dọn hành trang, người dắt bò lùa dê, khắp nơi gọi nhau í ới, ngựa hí vang lừng, tạo thành một khung cảnh khẩn trương hoảng hốt. Chính lúc ấy, bỗng có một ông lão ăn xin từ ngoài bước vào làng, chỉ thấy tay ông cầm gậy, vai đeo tay nải, râu bạc bay phất phơ, mắt sáng như sao. Nhưng ngay lúc này, không ai còn lòng dạ nào để quan tâm đến cụ già ăn xin đó, chỉ có bà lão ở mé đông của làng cho ông cụ ít thức ăn và khuyên ông mau lên núi để trốn con “Tịch”. Ông lão vuốt râu cười, bảo rằng: “Nếu bà không ngại cho tôi ở trong nhà một đêm, chắc chắn tôi sẽ đuổi được con “Tịch” ấy đi.” Bà lão kinh ngạc nhìn kỹ ông lão, thấy ông cụ tuy đã già nhưng rất quắc thước, tinh thần tráng kiện, khí chất phi phàm. Nhưng bà vẫn tiếp tục khuyên ông hãy mau rời khỏi nơi này, ông lão ăn mày chỉ mỉm cười không nói chi. Bà lão không còn cách nào khác, vội khép cửa chạy lên núi tỵ nạn.

Lúc nửa đêm, con “Tịch” xông vào làng. Nó chợt phát hiện không khí trong thôn khác hẳn mọi năm: Nhà bà lão phía đông của làng, trước cửa dán giấy đỏ chót, trong nhà đèn đuốc sáng choang. Con “Tịch” toàn thân run lẩy bẩy, gào lên một tiếng, đưa mắt giận dữ nhìn nhà bà lão, rồi điên cuồng gầm gào tiến tới. Khi đến gần tới cửa, trong nhà bỗng vang rền tiếng pháo “tạch tạch, đùng đùng”, con “Tịch” run cầm cập, không dám bước tới nữa. Thì ra, nó sợ màu đỏ, ánh lửa và tiếng nổ. Lúc ấy, cửa nhà bà lão mở tung, chỉ thấy trước sân một ông lão mặc áo đỏ đứng đó cười ha hả. Con “Tịch” thất kinh, lủi đầu chạy trốn.

Hôm sau, ngày Mồng một tháng Giêng, những người tỵ nạn trở về thấy thôn xóm bình yên, vô cùng kinh ngạc. Lúc này, bà lão mới bàng hoàng hiểu ra, vội thuật lại lời hứa của ông lão ăn xin cho dân làng cùng nghe. Mọi người cùng nhau đi đến nhà bà lão, chỉ thấy trước cửa dán giấy đỏ, trong sân còn sót lại một mớ pháo trúc chưa cháy hết, đang nổ “lạch tạch”, trong nhà vài cây đèn cầy đỏ vẫn còn lập lòe phát sáng… dân làng vui mừng muốn phát điên, để chúc mừng điều lành đã đến, họ đua nhau thay quần áo mới, đội mũ mới, đến nhà bà con, bạn bè thăm hỏi chúc tụng. Sự việc này nhanh chóng được truyền đến các làng lân cận, mọi người đều biết được cách đuổi con “Tịch”. Từ đó về sau, mọi người đều gọi ngày này là “Trừ Tịch”, có nghĩa là trừ bỏ con thú Tịch. Sau đó, vào đêm Trừ Tịch mỗi năm, cửa cửa đều dán câu đối đỏ, đốt pháo trúc; nhà nhà đốt đèn cầy suốt đêm, canh thời gian đợi năm mới, tuổi mới (Thủ canh đãi tuế, gọi tắt là Thủ tuế). Sáng sớm Mồng một, còn phải đến nhà họ hàng, bạn thân để thăm hỏi chúc tụng. Phong tục này càng truyền càng lan rộng, trở thành “Tết” ngày lễ truyền thống long trọng nhất trong dân gian Trung Quốc.

Truyền thuyết 2: Thức khuya đón Giao Thừa (Thủ tuế)

Thủ tuế, có nghĩa là không ngủ trong suốt đêm ngày cuối cùng của năm cũ. Đó là phong tục thức thâu đêm đón mừng năm mới đến, cũng gọi là Trừ Tịch Thủ Tuế, gọi nôm na là “Ngao Niên”. Tìm hiểu nguồn gốc của phong tục này, trong dân gian lưu truyền một câu chuyện khá lý thú:

Vào thời rất xa xưa, có một con quái thú hung bạo, sống tản mác trong núi sâu rừng rậm, người ta gọi nó là “Niên”. Hình thù nó rất dữ tợn, bẩm tánh hung độc tàn ác, chuyên ăn các loại chim bay thú chạy, trùng cá thủy tộc. Mỗi ngày nó đều đổi một khẩu vị, từ loài trùng cánh cứng cho đến loài người, khiến người ta mỗi lần nhắc đến “Niên” là liền biến sắc. Về sau, con người dần dần nắm được quy luật hoạt động của “Niên”. Cứ cách 365 ngày, nó lại đến chỗ con người tụ tập ở một chỗ để thưởng thức khẩu vị mới, vả lại thời gian xuất hiện đều là sau khi trời đã tối hẳn. Chờ đến lúc gà gáy sáng, nó mới trở về rừng.

Tính chuẩn thời gian “Niên” tới phá hại, dân làng liền coi cái đêm đáng sợ ấy như một cửa ải cần canh chừng, gọi là “Niên quan”, còn nghĩ ra một cả một kế hoạch để vượt qua niên quan như sau: Mỗi lần đến tối ngày đó, mỗi nhà mỗi hộ đều chuẩn bị bữa tối từ sớm, tắt lửa dọn bếp, cài chặt toàn bộ chuồng bò, trại gà, đóng kín cửa nhà trước nhà sau, trốn trong nhà ăn “bữa cơm đêm con niên” (Niên dạ phạn). Do bữa cơm tối này mang ý nghĩa lành dữ còn chưa biết, nên làm rất thịnh soạn. Ngoài việc cần phải cả nhà lớn bé quân quần ăn chung một mâm biểu thị hòa mục đoàn viên, còn phải cúng kị tổ tiên trước khi ăn, cầu nguyện tổ tiên thần linh phù hộ bình an qua được đêm này. Sau khi ăn cơm xong, không một ai dám ngủ mà ngồi trò chuyện với nhau để lấy can đảm. Việc này cứ thế, dần dần trở thành thói quen trừ tịch ngao niên thủ tuế.

Phong tục thủ tuế bắt đầu từ triều nhà Lương thuộc thời kỳ Nam Bắc Triều, không ít văn nhân đều có thi văn thủ tuế. “Một đêm liền hai tuổi, Ngũ canh chia hai năm.” Mọi người đốt đèn cầy hoặc đèn dầu thức sáng đêm tượng trưng cho việc đuổi tất cả tà ôn bịnh dịch chạy xa, mong mỏi một năm mới tốt lành như ý. Phong tục này, được mọi người lưu truyền mãi đến ngày nay.

Truyền thuyết 3: Vạn Niên sáng tạo lịch.

Tương truyền vào thời xa xưa, có một chàng thanh niên tên là Vạn Niên, nhìn thấy thời tiết lúc bấy giờ rất rối, muốn tính lại cho thật chuẩn. Nhưng khổ một nỗi tìm không ra cách tính thời gian. Một ngày nọ, anh ta lên núi đốn củi, đến lúc thấm mệt, bèn ngồi dưới một bóng cây nghỉ ngơi. Bóng cây lay động đã gợi lên một ý tưởng, anh ta thiết kế ra một cái kim chỉ nam đo bóng mặt trời để tính giờ, đo đạc và định được giờ trong một ngày. Sau đó, những giọt nước suối tí tách trên vách núi lại gợi thêm ý tứ. Anh ta bắt tay chế tạo một cái bình có lỗ, 5 tầng để tính thời gian. Ngày qua tháng lại, anh ta phát hiện cứ mỗi cách 365 ngày, 4 mùa lại tuần hoàn một lần, sự dài ngắn của khí tiết cũng lập lại một lần. Thời bấy giờ, vua nước ấy tên là Tổ Ất cũng thường cảm thấy khổ não vì thời tiết mưa gió bất thường. Sau khi nghe được việc ấy, Vạn Niên đem theo kim chỉ nam đo mặt trời và chiếc bình có lỗ đi gặp nhà vua và nói cho vua nghe lí vận hành của mặt trời mặt trăng. Tổ Ất nghe xong, long nhan rạng rỡ, cảm thấy rất có lí bèn giữ Vạn Niên lại. Vua cho xây lầu Nhật Nguyệt trước Thiên Đàn (Đàn tế trời), dựng đài đo bóng mặt trời và đình đồng hồ cát, hy vọng có thể đo chuẩn quy luật vận hành của mặt trời mặt trăng, tính được chính xác thời gian sớm tối, sáng tạo ra lịch pháp, tạo phước cho toàn dân trong thiên hạ.

Có một lần, Tổ Ất đi tìm hiểu tiến triển đo đạc lịch pháp của Vạn Niên. Khi Vua bước lên đàn nhật nguyệt, trông thấy một bài thơ được khắc trên vách đá bên cạnh Thiên Đàn:

Mặt trời mọc, lặn ba trăm sáu,

Giáp vòng, trở lại như lúc đầu.

Cây cỏ héo, tươi phân bốn mùa,

Một năm tròn đủ mười hai tháng.

Biết rằng lịch pháp do Vạn Niên sáng tạo đã hoàn thành, Vua đích thân lên gác Nhật Nguyệt thăm Vạn Niên. Vạn Niên chỉ vào bầu trời nói với Tổ Ức rằng: “Hiện tại vừa đủ mười hai tháng, năm cũ đã kết thúc, xuân mới bắt đầu, xin bệ hạ định tên cho một tiết.” Tổ Ất nói: “Mùa xuân đứng đầu một năm, nên gọi là Tiết Xuân.” Tương truyền đây chính là nguồn gốc tên gọi Xuân Tiết. Phải chăng đây cũng là nguồn gốc chữ Tết ở Việt Nam, do cách đọc trại âm mà thành?

Đông đi xuân đến, năm này qua năm khác, Vạn Niên trải qua một thời gian dài quan sát, chuyên tâm suy lường tính toán, chế định chính xác lịch theo quy trình mặt trời, gọi là lịch Thái dương. Khi ông ta trao quyển Dương lịch này cho đức vua kế vị, thì râu tóc đã bạc phơ. Nhà vua vô cùng cảm động, để kỷ niệm công lao của Vạn Niên, vua gọi lịch Thái dương ấy là “Lịch Vạn Niên”, phong cho Vạn Niên hiệu Nhật Nguyệt Thọ Tinh. Về sau, vào ngày Tết mọi người thường treo tranh Ông Thọ, tương truyền là để kỷ niệm Vạn Niên, người đạo cao đức trọng.

Truyền thuyết 4: Dán câu đối và Môn thần.

Tương truyền tục lệ treo câu đối Tết bắt đầu khoảng thời kỳ Hậu Thục (một trong 10 nước thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc, trước triều Đường) hơn một ngàn năm trước, việc này có lịch sử chứng minh. Ngoài ra, căn cứ các trước tác “Bảo Chúc Ngọc Điển”, “Yến Kinh Tuế Thời ký”, v.v… ghi chép, hình thức ban đầu của câu đối xuân chính là “Đào phù” mà người ta thường nhắc tới trong Thần thoại cổ Trung Quốc. Tương truyền có một thế giới của loài quỷ, trong đó có một ngọn núi, trên núi có một cây đào lớn, tàng của nó che trùm khắp ba ngàn dặm, trên ngọn cây có một con gà vàng. Mỗi sáng sớm khi gà vàng gáy một hồi dài, những hồn quỷ phiêu bạt khắp nơi trong đêm bắt buộc phải trở về lãnh địa quỷ. Cửa lớn của lãnh địa quỷ nằm ở phía Đông bắc cây đào, cạnh cửa có 2 vị Thần đứng hai bên, tên là Thần Đồ và Uất Lũy. Nếu có hồn quỷ nào trong đêm làm những việc thương hại người, nghịch đạo trời, Thần Đồ và Uất Lũy sẽ lập tức phát hiện và bắt lấy, rồi lấy dây làm bằng cỏ bông lau trói lại đưa đến cho cọp ăn. Do đó, loài quỷ trong thiên hạ rất sợ Thần Đồ và Uất Lũy. Vì vậy, dân gian dùng gỗ cây đào khắc hình hai vị ấy, đặt trước cửa, để tránh tà khí làm hại. Về sau, mọi người làm gọn, khắc tên Thần Đồ, Uất Lũy lên miếng gỗ đào, cho rằng làm như vậy cũng có thể trấn tà khử ác. Loại gỗ đào này về sau được gọi là “Đào phù” (Bùa Đào).

Đến đời Tống, mọi người bắt đầu khắc câu đối lên miếng gỗ đào, một là không mất ý nghĩa trấn tà của gỗ đào, hai là biểu đạt tâm nguyện tốt đẹp của mình, ba là trang trí cửa nhà, để nhìn cho có vẻ mỹ quan. Người ta còn viết đối liễn trên giấy đỏ tượng trưng cho không khí vui vẻ cát tường, dán ở hai bên cửa trước thời điểm giao mùa xuân mới, để bày tỏ tâm nguyện tốt đẹp, mong cầu phước lộc may mắn cho năm tới.

Để cầu mong cả nhà mạnh khỏe, tăng phước tăng thọ, ở một số nơi, người ta vẫn giữ thói quen dán hình Môn thần (Thần giữ cửa). Tương truyền, dán hình hai vị môn thần trước cửa lớn, tất cả yêu ma quỷ quái trông thấy sẽ sợ hãi. Trong dân gian, môn thần tượng trưng chánh khí và uy lực. Người xưa cho rằng người nào có tướng mạo lạ lùng thì luôn có đầy đủ bẩm tánh thần kỳ và bản lãnh phi phàm. Tâm địa của họ chính trực, lương thiện, bắt quỷ trừ ma là thiên phú và trách nhiệm của họ. Chung Quỳ, vị thiên sư bắt quỷ mà mọi người đều ngưỡng mộ cũng có tướng mạo rất cổ quái. Vì thế, các vị Môn thần trong dân gian luôn luôn trợn to mắt lộ, tướng mạo dữ tợn, trên tay cầm các binh khí truyền thống, lúc nào cũng chuẩn bị cùng xuất hiện trước cửa chiến đấu với ma quỷ. Bởi vì cửa lớn trong dân gian Trung Quốc thông thường có hai cánh đối nhau, cho nên Môn thần cũng luôn đi thành cặp đối nhau.

Nhật Tuệ
sưu tầm và phiên dịch. Nguồn China Net