Trung thu hồi đó

157

  Alo alo… Chín, mười giờ sáng, ông hai Duyệt, cầm cái loa tay rỉ sét, chạy chiếc đòn dông đi khắp thôn thông báo: “Alo… alo… Xin thông báo, chiều nay đúng 2 giờ sẽ phát quà Trung thu cho các cháu thiếu nhi tại trường Mẫu giáo thôn Thiệp Sơn…” Thế là trưa đó đám nhỏ trong xóm thay vì ngủ trưa hoặc rủ nhau đi phá làng phá xóm như mọi ngày thì í ới réo nhau, đứa nào cũng cầm theo cái bịch nilon vô trường Mẫu giáo đợi.

Tiếng kẻng đổ báo hiệu giờ phát quà đã đến cho bọn trẻ biết mà chạy tới, giờ cũng là có lệ chứ tụi nhỏ đã bao kín ngoài mấy cửa sổ. Mấy bác chính quyền có một cuốn sổ ghi rõ nhà ai, có mấy đứa con trong tuổi nhận quà (tuổi nhận quà là hết lớp 9). Đứa nào qua lớp 10 cũng coi như hết tuổi thơ). Quà Trung thu hồi đó mỗi suất là 2-4 gói mì giấy đục đục vàng vàng có hình mấy con tôm, 1-2 bịch kẹo 4 mùa gì đó lâu quá cũng không nhớ nữa. Vậy mà đứa nào cũng không muốn bỏ sót, thậm chí có đứa em mới sinh chưa kịp đưa tên vô sổ cũng kể để nhận luôn năm này và bác ghi sổ sẽ lấy bút đỏ đánh tên vào hộ nhà đó để sang năm chuẩn bị quà. Có một điều chắc chắn là một năm có khi không biết dân số của thôn giảm mấy người do đi làm ăn ở Sài Gòn hay chết đi nhưng đảm bảo là dân số tăng mấy đứa, nhà nào thì không thể nào không biết được…

Trung thu của quê, ngày 12, 13 đã nghe tiếng trống múa lân. Mấy đứa nhà khá khá chút trong xóm hùn nhau mua cái đầu lân nhỏ xíu về lấy vải đủ màu chắp lại làm cái mình, rồi xé dây nilon may bao tua rua ra để cột vào tay vào chân, cái trống là mượn của dàn đám ma trong xóm, to đùng nên cột trên xe dắt đi. Chiều mờ mờ là tụi nhỏ đòi ăn cơm sớm để khi tối xuống, chúng ríu rít gọi nhau rước đèn đi chơi. Quê nghèo chẳng mấy đứa có được cái đèn ông sao 5 cánh, toàn là đèn tự chế. Nhớ hồi lớp 2 lớp 3 gì đó, giờ học môn kỹ thuật, thầy cô có dạy cách cắt, gấp lồng đèn. Thế là gần Trung thu, mấy đứa rủ nhau kiếm giấy to hoặc lấy cơm thay hồ dán mấy đôi giấy lại thành một tấm giấy to hình vuông rồi gấp, cắt làm thành cái lồng đèn giấy. Đứa nào màu mè thì tô màu lên giấy trước cho lồng đèn có thêm màu sắc. Mấy thằng con trai thì khôn hơn, chúng mon men xuống quán ông Điểm xin mấy cái lon sữa bò về cạy nắp rửa sạch rồi đục lỗ. Không biết bọn nó làm bằng cách gì mà thành cái đèn lon, có một thanh cây tre nữa dùng để đẩy “xe lồng đèn” chạy trên đường rổn rẻng, cái lon quay quay mà cây đèn cầy vẫn không tắt. Hồi đó, hai chị em tôi đòi miết má mới mua cho một cái đèn Trung thu làm bằng nhựa dẻo có 1.000 đồng, với mấy cây đèn cầy xíu xiu, chơi hết Trung thu đến 17 là má dắt lên mái nhà đến Trung thu sau lại lấy xuống rửa bụi rồi chơi tiếp.

Hồi đó, chưa có ti vi mỗi nhà như giờ nên Trung thu không chỉ là Tết thiếu nhi mà còn là tết chung cho mọi người. Mấy ngày này mọi người sẽ thức trễ hơn bình thường, con nít trong xóm í ới gọi nhau xách đèn đi chơi, cả đoàn khoe nhau lồng đèn ríu rít, mấy người lớn cũng nhân đó tụm lại nói chuyện đó đây, đàn ông đánh cờ, bàn chuyện thời sự nghe trên đài phát thanh mỗi sớm, đàn bà kể chuyện chồng con, công cán vụ mùa…

Lũ trẻ râm ran cả đoàn đi theo con lân, hết nhà này đến nhà kia, lũ chó trong xóm sủa om sòm, nhà nào nghe tiếng trống không muốn cho lân vô cứ đóng cửa tắt đèn tối om. Nhưng chẳng mấy ai làm thế, nhà nào cũng sẵn sàng cho lân vô nhà, nhảy lên nhảy xuống, khắp nhà, đứa mang mặt nạ ông địa cầm cái quạt cứ đi theo quạt ông chủ nhà đến khi nào được cho tiền mới đi…

Hồi đó, nhà thằng Phát “rụng răng” là giàu nhất thôn, có nhà lầu, xe 67, có cả cái ti vi. Ba nó đi buôn gỗ xa lắm, nhưng đến Trung thu năm nào, ông cũng về nhà, lân vô nhà ông là thích lắm vì bọn trẻ được coi lân nhảy lâu, ông còn treo tiền lên cây đứng trên lầu thòng xuống bắt lân phải nhảy cao, đứng lên ghế, có khi đứng lên xe và cõng nhau để lấy tiền, lân lấy được tiền cả đám vỗ tay, reo hò cổ vũ… Hết nhà này đến nhà khác, cứ thế, dưới ánh trăng thu sáng tỏ, đám trẻ con trong xóm kéo nhau theo đoàn lân đi khắp xóm, đến khi thay hết mấy cây đèn cầy ngắn củn cho lồng đèn mới lũ lượt kéo về.

Có bữa, chúng tụ tập dưới cống ông Điểm, ra thả đèn xuống dòng kênh, đứa nào cũng về xé giấy vở, xếp thành những chiếc thuyền to nhỏ, thắp đèn cầy rồi thả trên dòng kênh như kiểu bây giờ người ta thả hoa đăng vậy. Chẳng biết có đứa nào khéo tưởng tượng còn nói: “Mình ước mơ cái gì mình ghi lên thuyền của mình rồi thả đi sẽ thành sự thật”. Mấy chiếc thuyền ấy tự nhiên trở thành những chiếc thuyền chuyên chở ước mơ của đám trẻ con quê mình thuở ấy. Thuyền đứa nào không bị tấp vô bờ hay đèn cầy tắt, chìm là thắng. Cả một đoạn kênh lung linh những chiếc thuyền nến! Mà hồi đó, đám trẻ con không biết thưởng thức vẻ đẹp ấy, chỉ hơn thua nhau coi đèn đứa nào trôi nhanh, trôi xa không bị tắt, bị tấp thôi… Giờ nhớ lại đoạn kênh ấy, đêm thu ấy, mới thật đẹp làm sao!

Đám trẻ con ngây thơ hồn nhiên thuở ấy… hơn 20 năm rồi. Giờ đứa nào cũng lớn, cũng đã có gia đình, sự nghiệp riêng. Có đứa thành công, có đứa còn nhọc nhằn, bôn ba với cuộc sống. Trung thu nay, có thể chúng đều dư khả năng để mua cho các con của chúng những cái lồng đèn điện tử có nhạc tin tin, có thể phá những mâm cỗ đầy với đủ loại bánh Trung thu ngon lành mà hồi nhỏ có mơ cũng chẳng thấy, được xem những đoàn lân chuyên nghiệp biểu diễn đầy nghệ thuật… Chẳng biết hơn 20 năm rồi, bây giờ có đứa nào còn hay bất chợt nhớ Tết Trung thu năm nào nơi xóm nhỏ?

Hôm qua, có Phật tử biếu cho tôi hộp bánh Trung thu. Tối về mở ra, tự nhiên tôi nhớ… nhớ hương vị bánh Trung thu hồi đó, quán ông Điểm bán một cái 400 đồng. Bánh làm bằng bột mì, được nướng vàng màu cánh gián, nhân bánh toàn thịt mỡ bằm, một cái bánh có thể chia ra cho mấy đứa ăn chung. Bây giờ, bánh Trung thu được làm khung vuông vắn, có nhiều loại nhân ngon lành, lại đắt nữa, nhưng sao tôi vẫn không thấy thơm ngon bằng cái bánh 400 đồng hồi đó. Nghe thèm dễ sợ, hương vị bánh ngày xưa!

Có lẽ tôi là người hoài cựu, điều đó không có nghĩa tôi làm nhiệm vụ cất giữ tuổi thơ cho đám trẻ con trong thôn. Tôi là một trong đám trẻ con thời ấy nên khi viết những dòng này là không phải viết cho riêng mình, mà cho cả thôn quê ấy một thời: Thôn Thiệp Sơn, mùa Trung thu, có tiếng rao đục ngầu của ông hai Duyệt đi cùng xóm, có tiếng kẻng báo hiệu phát quà Trung thu nơi trường Mẫu giáo nhỏ, có cống ông Điểm với những chiếc thuyền chuyên chở ước mơ lung linh, có con lân nhỏ nhảy thùng thình theo tiếng trống mượn của các bác đội đám ma, có lũ trẻ con ríu rít, nhà nhà rủ nhau rước đèn khắp xóm…

Tự nhiên tôi muốn hỏi: “Mấy đứa mày hồi đó, bây giờ ở đâu?”

Ni Sinh Huệ Quang
Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM