Trôi nổi với tình

69

  Trong một buổi tọa đàm về giáo lý, có một đạo hữu trẻ tuổi đang là sinh viên ngành kỹ sư điện tại Đại học MSU đưa ra một câu hỏi rất hay:

– Kinh Hoa nghiêm dạy rằng: “Nhất thiết duy tâm tạo”, nghĩa là mọi sự việc đều do tâm tạo tác, vậy tại sao chúng ta chẳng tạo thiên đàng mà cứ dựng ra cảnh địa ngục để chịu đau khổ?

Một đạo hữu trung niên, được coi như trưởng tràng của nhóm Phật học tại đấy đã đáp rằng:

– Biết là một chuyện nhưng ít ai thực hiện được cái biết của mình. Ví như ai cũng biết cõi Cực lạc là an vui, Địa ngục là thống khổ nhưng đâu phải ai cũng thẳng đường đến chỗ an vui? Vì tham, sân, si sai khiến, người ta sẵn sàng gây tạo ác nghiệp để nhận lấy hậu quả khổ đau. Chúng ta là phàm phu thường bị nghiệp lực chi phối nên không còn tự tại. Vì không còn tự tại nên không thể tùy tâm biến hiện thực.

Câu trả lời ngắn gọn ấy hình như chưa làm hài lòng bạn trẻ. Nhưng vì sự giới hạn của thời gian cũng như sự giới hạn về kiến thức Phật học của cả nhóm, chúng tôi đều nhận thấy không thể đi sâu vào vấn đề này.

Vài tháng sau, tôi được dịp chứng kiến một câu chuyện tình của đôi thanh niên nam nữ. Câu chuyện này có thể dùng trả lời thắc mắc của người bạn trẻ tuổi đã nêu câu hỏi, tuy ngây thơ mà rất thực tế trên. Tôi xin phép hai nhân vật chính trong chuyện (dĩ nhiên đã được đổi tên) để được kể ra đây, không phải nhằm mục đích chỉ trích, phê bình hay mua vui cho độc giả mà là để giúp cho các đạo hữu có dịp thấy rõ nghiệp lực đã lôi cuốn con người như thế nào. Như người chiến sĩ ra trận phải biết người biết ta thì mới có thể chiến thắng kẻ thù; người Phật tử trong cuộc chiến đấu dằn dai với nội tâm cũng phải biết “Phật cao nhất xích, ma cao nhất trượng” để cẩn thận hơn, không vội vàng khinh địch trong khi công phu, đạo lực của mình vốn còn non kém.

… Hai người gặp nhau trong tiệc cưới, chuyện tình nào cũng vậy, cái thuở ban đầu vô cùng đẹp đẽ, nên thơ. Càng nên thơ hơn khi nàng làm phù dâu cho cô bạn gái, chàng làm phù rể cho anh bạn thân.

Tuổi đôi mươi là tuổi sẵn sàng để yêu: Dung đã yêu Văn ngay buổi đầu gặp gỡ. Anh chàng thư sinh có đôi mắt buồn vời vợi ấy như có sức hút Dung rất mạnh mẽ. Phần Văn thì “thông minh vốn sẵn tính trời” nên chàng rất nhạy bén trong tình yêu. Bạn bè cặp đôi Văn và Dung trong tiệc cưới, Văn thấy vui vui, “Cô ấy cũng xinh”, Văn nghĩ thầm như vậy.

Chỉ vài tuần sau đó, Văn và Dung trở thành đôi tình nhân. Ở xứ Mỹ, tình yêu thường đốt giai đoạn nhưng riêng về trường hợp của hai người, họ cũng có lý do riêng. Văn vượt biên sang Mỹ chỉ một mình, dù được ông bố nuôi người Mỹ rất mực yêu thương, nhưng Văn cũng thấy thiếu tình cảm gia đình, trong đó có hình ảnh dịu dàng của người mẹ và sự vui tươi nhí nhảnh của đàn em. Nay được Dung săn sóc yêu thương, Văn cảm thấy ấm áp cả cõi lòng. Còn Dung vốn mồ côi cha từ nhỏ, sống với mẹ thì lại khắc khẩu. Hễ mở miệng ra thì bị rầy bị mắng; tình chị em lại chẳng ra chi. Bởi vậy, Dung rất khao khát một tấm chân tình để làm nơi nương tựa tình cảm.

Từ khi hai đàng thổ lộ được tâm tư, tình yêu nồng nhiệt bắt đầu. Hình như ngày nào họ cũng gặp nhau sau giờ tan học. Thế rồi, hoặc chui vào quán cà phê, hoặc vào rạp chiếu phim cho đến mờ mịt tối họ mới chịu ra về. Sự đi chơi quá độ của hai người làm cho hai bên gia đình đều lo lắng.

Ông bố Mỹ của Văn đêm nào cũng thức chờ Văn về. Ông nhắc nhở chuyện học hành, tương lai của Văn:
– Năm thứ nhất ở Đại học con phải cố gắng nhiều để tạo căn bản cho những năm về sau. Bài vở giáo sư kêu làm, mặc dù họ không xét, nhưng nếu con không làm, con sẽ không làm được các bài kiểm tra trong lớp.

Ban đầu, Văn còn chịu ngồi nén lại năm, ba phút nghe ông nói, nhưng sau đó thì chàng phớt lờ. Tội nghiệp ông bố già, ông thương Văn thiệt tình như con đẻ nên lắm khi ông phải điêu đứng, khổ sở vì Văn, vì lo cho tương lai của chàng. Thấy Văn cố tình lánh mặt, ông đổi chiến thuật, viết kể lể những kỷ niệm ngày nào bố con vui vẻ thân thiết với nhau cùng lo tương lai. Ông nhắc, có lần Văn nói với ông: “Con muốn sau này sẽ học tới Tiến sĩ.” Và ông đã trả lời: “Ba không tiếc gì với con, cả gia tài này là của con, con muốn học tới đâu, ba lo tới đó.”

Tội nghiệp những bức thư không tem, chỉ có cái đầu tiên là được mở ra, còn bao nhiêu đều bị vứt bỏ trong xó tủ. Đối với Văn lúc này chỉ có tình yêu là quan trọng. Tánh Văn rất nhạy cảm, Văn tự thấy mình sinh ra là để yêu, để “sống thác với tình”. Chỉ có tình yêu thôi, mọi thứ khác đều không đáng kể. Đôi khi, Văn cũng chợt nhớ về Việt Nam, nơi phố chợ vùng ngoại ô Sài Gòn, ở đó có hình ảnh mẹ già, đàn em thơ đang đặt cả tin tưởng và hy vọng vào Văn. Gia đình đang mong chờ ngày Văn tốt nghiệp Đại học để có đủ điều kiện hoàn tất thủ tục bảo lãnh. Văn đã viết thư về nói với mẹ: “Năm ba năm nữa thôi, khi con ra trường, có việc làm thì hồ sơ bảo lãnh của mẹ được hoàn tất.” Sức Văn học rất khá nhưng từ khi “hồn lỡ sa vào đôi mắt em”, chuyện học hành bị chểnh mảng sa sút rõ rệt. Văn tự bào chữa: “Sự học còn dài, cứ từ từ rồi cũng xong.”

Văn đã thế, dĩ nhiên Dung cũng chẳng khá gì hơn. Thông thường ở tuổi Dung người ta đã vào Đại học trong khi Dung lẹt đẹt ở lớp 11. Mất căn bản lại thiếu siêng năng nên Dung rất nản học. Bây giờ, có tình nhân, Dung càng hăng hái bỏ lớp để đi chơi với chàng, thật là sung sướng, thật là thú vị. Trường thông báo về nhà, mẹ và cậu vô cùng tức giận. Dung bị kiểm soát chặt chẽ hơn, điều đó làm Dung bực bội: “Mình đã 20 tuổi đầu, mà cứ xem mình như con nít. Ở xứ này, 18 tuổi là có quyền ra riêng đâu ai cản được.”

Ý nghĩ “thoát ly” manh nha trong đầu khiến Dung trở nên bướng bỉnh, đôi khi hỗn láo với mẹ. Mẹ Dung vốn nóng tính, bà không chịu nổi thái độ của Dung, khi cô chọc bà giận, bà quăng ném chén dĩa bừa bãi vào người Dung, có khi thuận tay, bà dùng chổi đánh Dung tơi bời. Thế là Dung cảm thấy mình bị ngược đãi, bị chèn ép. Ở nhà, hễ chị mở miệng xin cái gì mẹ cũng cho, em xin cái chi mẹ cũng chiều; chỉ có Dung là người chịu thiệt thòi như con ghẻ. Dung nghĩ: “Chỉ có Văn thương mình thôi, ước gì hai đứa được sống bên nhau.”

***

Thuận vừa nhận được cú điện thoại của Văn: “Anh đến đây gấp, em cần anh. Bạn gái của em vừa uống thuốc ngủ tự tử.” Thuận là huynh trưởng Gia đình Phật tử, đã tốt nghiệp kỹ sư, hiện tại đang tiếp tục bằng Cao học. Thuận quen biết Văn từ trại tị nạn ở Bidong, lúc hai người cùng chung sinh hoạt Phật sự. Thuận là người có lòng hào hiệp, sống có lý tưởng, thích giúp đỡ kẻ khác mà không cần suy nghĩ đắn đo. Cũng vì không chịu cân nhắc trước khi hành động mà lắm khi Thuận vướng vào những chuyện bực mình, cũng như “ách giữa đàng mang vào cổ” vậy.

Lần này, nghe tiếng kêu cầu cứu của Văn, Thuận cảm thấy nóng lòng vì trong thâm tâm Thuận xem Văn như người em ruột. Mà dù không thân thiết đi nữa, Thuận cũng cảm thấy có bổn phận phải cứu giúp khi có người cần đến mình. Không chần chừ một phút giây, Thuận phóng xe sáu tiếng đồng hồ không nghỉ ngơi để sớm gặp Văn, xem sự việc xảy ra như thế nào.

Khi Thuận đến nơi, thấy Văn đang ngồi bó gối nơi góc nhà. Gặp Thuận, Văn mừng quýnh:
– Anh cứu tụi em nghe anh!
Thuận đáp, có một chút gì như tự hào trong lời nói:
– Anh xuống đây là chú mày hiểu rồi. Đầu đuôi ra sao kể anh nghe coi!
Văn đứng lên:
– Để em rót nước anh uống rồi kể hết anh nghe.
– Còn bác trai đâu, anh muốn chào bác?
– Ba em mới đi dạo vòng vòng chung quanh cư xá. Ông đau tim, bác sĩ bảo mỗi ngày phải đi bộ một tiếng đồng hồ.

Sẵn dịp, Thuận nói luôn:
– Bác thương chú mày như con ruột, chú phải làm sao cho bác vui mới xứng đáng với tấm lòng của bác. Nhất là người đau tim phải tránh những chuyện đau buồn.

Uống xong ly nước trà nóng, Thuận bật lửa châm điếu thuốc rồi ngả ra ghế dài cho đỡ mỏi. Chặp sau, Thuận hỏi:
– Tình trạng Dung bây giờ thế nào?
– Sau khi được cứu tỉnh, Dung đã về nhà nhưng còn yếu lắm.
– Tại sao nó lại làm chuyện rồ dại đó?
Văn cúi đầu:
– Gia đình đối xử khắt khe với Dung quá! Dung bị cấm đoán đủ điều, bị bạc đãi như con ghẻ nên không chịu nổi.
– Nó bị cấm những gì?
Hơi lúng túng, Văn ngẫm nghĩ một chút mới nói:
– Dung lớn rồi, đâu còn bé bỏng gì mà cậu với má Dung bắt phải đi thưa về trình, không được đi chơi, không được có bạn trai. Em với Dung đâu phải chuyện qua đường, chúng em tính chuyện cưới hỏi đàng hoàng mà gia đình cũng cấm đoán.
– Anh muốn gặp Dung để biết rõ hơn, chú mày thấy có tiện không?
Văn chưa kịp trả lời thì có tiếng chuông điện thoại reo. Văn nghe xong, có vẻ hấp tấp:
– Anh đi theo em ngay, Dung lại uống thuốc lần nữa, may mà người nhà ngăn kịp. Dung đòi gặp em, có anh theo, em đỡ ngại hơn.
Lúc Thuận và Văn bước vào cửa nhà Dung, hai người chùn bước trước những gương mặt vừa đau khổ, vừa gay gắt của bao nhiêu người trong nhà. Văn gật đầu chào, không ai đáp lại. Thuận tiến tới bắt tay người đàn ông trong phòng. Thuận đoán là cậu của Dung, rồi tự giới thiệu:
– Thưa cậu, con là Thuận, anh bà con của Văn.
– Chào cậu!
Trên lầu có tiếng la, rồi tiếng ho, tiếng ụa mửa.
Mẹ Dung nói:
– Khổ quá, nó lại làm nữa rồi, con với cái! Thôi mời hai cậu lên gặp nó.
Không chần chờ, Văn phóng lên trước:
– Dung em!
Dung đang nằm thở dốc, nghe tiếng gọi của tình nhân vội vàng ngồi choàng dậy; ngã vào đôi cánh tay mở rộng của Văn. Hai người im lặng thật lâu, Dung mới thấy sự hiện diện của Thuận. Dung mếu máo:
– Anh Thuận, em không muốn ở đây, anh cứu em. Anh cho em lên nhà anh để đi học nghe!
– Gia đình em ở đây mà đòi bỏ đi đâu!
– Ở đây, em khó thở quá, thà chết còn sướng hơn
– Chết như vậy không giải quyết được gì cả; hễ có nghiệp thì phải ráng trả.
Biết Thuận đã đứng về phe mình, Văn tiếp theo luôn:
– Hay là anh cho Dung lên ở tạm nhà anh một vài tháng cho nguôi ngoai.
Thấy Thuận im lặng, Văn nháy mắt cho Dung:
– Vậy em sửa soạn đồ đạc, ngày mai theo ảnh luôn.
Dung mừng húm:
– Anh Thuận ơi, anh thương em thì thương cho trót. Anh cho Văn theo luôn nghe, Văn đổi lên đó học sẵn kèm Toán và Anh văn cho em luôn. Em không thể xa Văn được anh ơi!
Ngay lúc đó, mẹ Dung vừa bước vào phòng, bà có vẻ tức giận lắm:
– Xin lỗi cậu là ai mà tới đây đòi dẫn con gái tôi đi?
– Con không có ý định đó. Dung đòi đi ra khỏi nhà, chẳng lẽ bác bỏ cổ lang thang ngoài đường thân gái bơ vơ sao? Nhà con, con có quyền cho ai ở thì cho. Con bác trên 18 tuổi rồi, đối với pháp luật, cô ấy có quyền muốn ở đâu thì ở.
Bị đuối lý, bà tức lắm, vội kêu người em lên:
– Cậu Tư, cậu lên đây mà coi nè!
Người đàn ông bước vào phòng, đôi mắt sáng quắc của ông đảo qua một vòng và ông hiểu ngay tự sự. Ông nói:
– Thôi, mời tất cả xuống phòng khách nói chuyện! Gia đình tôi đang có chuyện bối rối, tôi không biết cậu và Văn có hảo ý gì giúp đỡ chúng tôi?
Câu hỏi quá khéo, Thuận chưa biết trả lời ra sao thì ông tiếp luôn:
– Con dại cái mang. Chúng tôi khổ sở vì dạy con không nổi. Ở xứ này, đa số trẻ em hư hỏng chỉ vì hiểu lầm hai chữ “tự do”. Chuyện tình cảm giữa Văn và Dung thật ra chúng tôi không cấm đoán nhưng chúng tôi phải giữ gìn cho Dung, nó là con gái, lỡ ra có bề gì nó phải chịu thiệt thòi, khổ thân. Chúng tôi chỉ yêu cầu hai đứa lo học hành tới nơi tới chốn, nhất là Văn, người con trai phải nên sự nghiệp trước khi tính chuyện hôn nhân. Vướng vào chuyện vợ con quá sớm, nó sẽ bỏ dở chuyện học hành, đời tụi nó sẽ chẳng ra gì. Vậy mà hai đứa không chịu nghe, cứ lén lút bỏ học đi chơi hoài. Nhiều khi đi chơi với nhau khuya lắc khuya lơ mới về. “Tiếng lành đồn gần, tiếng dữ đồn xa”, gia đình chúng tôi xấu hổ vì mang tai tiếng quá nhiều. Giờ lại xảy ra chuyện này nữa.
Thuận nói, có vẻ bào chữa:
– Giáo dục là cần thiết nhưng phương thức giáo dục càng quan trọng hơn. Đôi khi những biện pháp mềm dẻo lại có hiệu quả hơn sự cứng rắn.
Cậu Tư gật gù:
– Tôi cũng đồng ý như vậy nhưng con Dung thì cứng đầu, còn chị tôi nóng tánh, thành ra trong nhà có chuyện lục đục hoài.
– Hiện giờ, Dung có ý định bỏ nhà ra đi rất mãnh liệt…
Má Dung lại nổi nóng:
– Hứ! Nó muốn đi đâu thì kệ xác nó, hư lỡ cho hư luôn, khôn nhờ, dại chịu!
Cậu Tư ôn hòa hơn:
– Chị để yên tui tính cho! Cậu Thuận nè, nếu con Dung xin ở tạm nhà cậu vài tháng, cậu nghĩ sao?
Thuận đáp không do dự:
– Con ít khi từ chối, khi có người cần, con giúp đỡ ngay. Trường hợp của Dung, con nghĩ là nếu con cho Dung tá túc, con sẽ cứu được một mạng người.
Cậu Tư hơi nhếch mép như để giấu một nụ cười khi nghe Thuận dùng từ quá lớn lao: “Cứu một mạng người”. Đối với cậu, đây chỉ là trò làm nũng của cô cháu gái lậm tiểu thuyết tình cảm quá nhiều. Tuy nhiên, cũng cần vài tháng cho tình hình lắng dịu lại.
– Cho tới bây giờ, tôi vẫn nghĩ Văn là người tốt, còn cậu là anh họ của Văn, tư cách lại đàng hoàng nên tôi tin tưởng cậu. Tôi gửi cháu Dung lên cậu vài ba tháng, nhờ cậu khuyên giải, khi nào nó biết suy nghĩ phải trái, cậu cho nó về gia đình, tôi sẽ không quên ơn cậu.


Thuận nhìn đồng hồ rồi nói:
– Xin cậu đừng nói đến chuyện ơn nghĩa. Gặp chuyện phải làm, con không từ nan. Giờ con phải về nghỉ sớm, sáng mai con sẽ đi khoảng 10 giờ.

Diệu Nga