Tri nguyên

15

 Dòng đời tuy chầm chậm trôi chảy, nhưng thoắt qua thật nhanh. Nhớ ngày nào, tôi bỗng giật mình thức giấc sau một giấc mơ dài, vẫn còn văng vẳng bên tai những lời thơ:
Hiểm nguy chớ có lo toan,

Con nên cố gắng chịu cam khổ tình.
Nghiệp xưa vùng dậy thình lình,
Nhất tâm trì niệm tâm linh giải nàn…

Cố gắng đuổi theo ký ức, nhưng tôi chỉ ghi lại được bốn câu, hình như bài thơ còn dài mà tôi không tài nào nhớ hết. Bàng hoàng không biết những lời thơ trên là của Ngài nào? Phải chăng là của Cố Hòa thượng Linh Quang (huynh đệ của Bổn sư tôi đã thị tịch cách thời ấy năm bảy năm) hay là của Tổ khai sơn bổn tự nơi tôi đang ở chăng? Lời thơ như một sự cảnh tỉnh trong thời điểm tôi đang hoang mang về tinh thần, khủng hoảng khi bị hàm oan về những tin đồn thất thiệt. Cũng may là các tỷ muội và một số quý Thượng tọa cùng thời đã hiểu và hết sức thông cảm cho hoàn cảnh của tôi.

Trước giấc mơ trên, niềm đau và sự ấm ức vì mặc cảm trong tôi ngập đầy, tôi luôn có ý nghĩ bi quan chồng chất, tôi muốn được chết để về với Đức Phật Di Đà; hay tôi muốn được đi đến một vùng trời xa xôi để không một ai biết về tôi hay gặp lại những người thân quen nơi đất Thần kinh thân thương này nữa. Tôi nhớ láng máng nội dung bài thơ, Ngài khuyên tôi hãy cố gắng tinh cần hành sám để cho chướng duyên được tiêu trừ, vì nghiệp duyên này xảy ra trong quá khứ đã đến lúc tôi phải đón nhận. Từ từ tu tập tôi sẽ được về với Phật, miễn là tôi cố gắng chăm lo Phật sự tại bổn tự thì đó là nhiệm vụ tối ưu để đền đáp công ơn Phật Tổ, điều mà tôi cần phải làm trong những ngày sắp tới. Suy ngẫm kĩ, tôi như ngộ ra, có lẽ đây là lời khuyến tấn an ủi của chư Tổ trong lúc tâm tư tôi vô cùng tuyệt vọng và khổ đau. Rồi từ đó tôi thường chuyên tâm lễ tụng “Lương hoàng sám” và mỗi khi đi đâu trở về vừa nhìn thấy mái chùa cổ kính, tự nhiên lòng tôi cảm thấy ấm lại và không còn có ý tưởng muốn đi xa… Kể từ ngày đó đến nay đã tròn 40 năm, nhiều thăng trầm xảy ra trong đời sống tu tập tại đây, nhờ ơn Tam bảo che chở tôi vẫn đứng vững.

Rồi một sự cố lớn lại xảy đến với tôi: từ tháng 5/2018 tôi bỗng phát bệnh nặng: u hạch ở dưới cuống phổi, thêm vào đó cạnh lỗ rốn, là một limpho ác tính. Thời gian ấy, sau hơn một tháng chữa trị tại khoa phổi ở Bệnh viện Trung Ương Huế, một người thân ở Hà Nội đề nghị tôi đến khám tại Bệnh viện Quốc tế Thu Cúc ở đường Thụy Khuê – Hà Nội. Ở đây, tôi sẽ được điều trị tốt hơn vì bệnh viện này có nhiều trang thiết bị y tế hiện đại và đội ngũ y, bác sĩ quốc tế giỏi.

Ở tại đây, tôi gặp được bác sĩ Lim, một bác sĩ nổi tiếng về phác đồ và phương pháp chữa trị căn bệnh ung thư. Tôi đã lưu lại Hà Nội từ tháng 8/ 2018 đến tháng 1/2019 để điều trị chứng bệnh này. Sau khi khám bệnh và xem xét kết quả nội soi, CT scan (chụp cắt lớp vi tính) ở Bệnh viện Trung Ương Huế, bác sĩ chịu trách nhiệm điều trị đã đề nghị tôi sang Singapore để xét nghiệm một lần nữa trước khi bắt đầu chữa trị. Vì thế, tôi đã đến Bệnh viện Parkway (Novena) tại trung tâm của Singapore. Hội đồng bác sĩ ở đây đã cho kết quả thẩm định tôi bị một limpho ở dưới cuống phổi với cường độ tiền ung thư 20%. Trong những tháng ngày chữa trị ở Bệnh viện Quốc tế Thu Cúc, tôi đã trải qua một giai đoạn khủng khiếp. Nhất là sau lần hóa trị thứ tư thì sức khỏe của tôi xuống cấp trầm trọng vì không chịu đựng nổi lượng thuốc được tăng thêm. Một hôm, huyết áp tụt xuống 7/8 bác sĩ Việt Nam phụ trách khoa ung thư đã đưa tôi vào khoa cấp cứu. Trong năm ngày chữa trị ở khoa này, tôi phải chi trả một số tiền khá lớn mà bản thân không hề nghĩ tới. Mỗi khi nhìn thấy thùng thuốc đa phần là máu tươi, mà các cô y tá trực chuyển đến để tiếp máu trong những ngày này, tôi vô cùng lo lắng và không tránh khỏi những giây phút hồi hộp. Vì tôi rất sợ phải nhìn thấy những bịch máu đỏ và kể từ đó tôi không còn cảm giác muốn ăn. Sức khỏe gần như cùng kiệt, các chị đệ tử ở Huế ra thăm đều lo ngại và có cảm nhận tôi không qua khỏi sau đợt hóa trị này. Cũng trong những ngày đó sư Như Minh ở chùa Tây Linh – Huế điện thăm và đề nghị tôi nên vào Huế để được gần gũi người thân trong giai đoạn này. Tôi cũng thầm nghĩ nếu huyết áp xuống 6/8 tôi sẽ nhờ các chị thị giả chuyển tôi về Huế (về chùa) theo đúng tâm nguyện của những người thân. Cũng may nhờ sự chăm sóc tận tình của các y, bác sĩ ở bệnh viện này, huyết áp của tôi từ từ tăng lên 8, 9, 10/8. Tuy nhiên, sức khỏe của tôi ở thời điểm ấy còn quá suy nhược, có lần tôi còn bị ngã trong phòng vệ sinh. Nhưng sau đó nhờ được chăm sóc, bồi dưỡng của người thân cùng y, bác sĩ thì tôi vẫn được tiếp nhận các đợt hóa trị 5, 6. Và khoảng cuối tháng 1/2019 tôi được trở về Huế để đón Tết Kỷ Hợi, trong những ngày này tôi phải nghỉ ngơi và hạn chế tối đa sự thăm viếng của những người thân. Sau đó, sức khỏe tạm ổn định và cứ hai tháng tôi phải trở lại bệnh viện để gặp bác sĩ Lim làm các thủ tục xét nghiệm và khám bệnh định kỳ.

Hôm nay, hồi tưởng lại những lần vào phòng nội soi, CT hoặc pet, tôi thường có cảm giác như mình đang cận kề với cái chết trong đường tơ kẽ tóc. Trước những giây phút hồi hộp, âu lo khiến huyết áp tăng đến 180/10. Nếu không có đại dịch Covid-19 xảy ra thì tháng 3/2020 tôi phải trở lại Hà Nội để xét nghiệm và tái khám. Vì, vào giai đoạn này ở Singapore dịch bệnh đang bùng phát mạnh mẽ; bác sĩ Lim cũng không về Hà Nội như định kỳ hai tháng một lần. Hiện tại, tôi chỉ biết thành tâm cầu nguyện Tam bảo gia hộ cho bệnh tình trong tôi được ổn định để yên tâm tu tập.

Tiếp tục theo dòng hồi ức, từ lúc tôi rời chùa Hồng Ân đến chùa Đông Thiền vào năm 1979 cho đến bây giờ vừa gần 41 năm. Thuở mới đến Đông Thiền, chúng tôi tự canh tác nương rẫy, nào trồng khoai lang, khoai mì, đậu bắp, củ, quả các loại rau xanh,… Để phục vụ cho việc canh tác có hiệu quả, chúng tôi thường đi theo đến chỗ những đàn bò ăn cỏ trên những ngọn đồi thông của người dân địa phương. Chúng tôi nhặt lượm những mảnh phân tươi trên đồi, rồi sau đó thường đi bứt cây bổi về ủ với phân bò làm thành phân hữu cơ để chăm bón cho các loại cây bầu bí, mướp ngọt, rau đậu để có thức ăn độ nhật. Có nhiều lúc chưa kịp đến mùa thu hoạch củ quả, chúng tôi ăn độn chín phần vả với một phần cơm và rau chấm nước tương là thức ăn quen thuộc mỗi bữa để sống qua ngày.

Đời sống tuy đạm bạc, đơn giản nhưng vô cùng thiền vị. Cuộc sống nông thiền vất vả nhưng tôi thường có giấc ngủ bình yên không mộng mị và âu lo như bây giờ. Hiện nay cơm gạo chưa thiếu nhưng những tiêu cực từ văn minh vật chất và bệnh tật đã ảnh hưởng đến tình cảm và tinh thần trong tôi không ít. Vì thế những lúc nghĩ nhớ về quá khứ, tôi có cảm nhận thời điểm những năm tháng ấy, chúng tôi có một đời sống hồn nhiên, thanh thản và vô cùng hạnh phúc.

Nhớ về những năm tháng đầu tiên khi tôi tiếp quản cổ tự Đông Thiền, chùa đang trong thời kỳ xuống cấp trầm trọng, bất cứ ai đến thăm và mục kích hoàn cảnh của chùa buổi ấy đều thương cảm và xót xa nhiều cho tôi. Đặc biệt là cố Hòa thượng tọa chủ chùa Pháp Hải. Thời ấy, với vai trò Phó trưởng Ban Trị sự tỉnh Thừa Thiên – Huế, Người đã giới thiệu cho tôi một số ngôi chùa mà tôi cần chọn lựa. Nhưng khi vừa đến Đông Thiền, một cảm giác thân quen đến lạ trỗi dậy khiến tôi đã chọn tiếp quản nơi đây. Rồi một hôm khi đến thăm chùa Đông Thiền, Hòa thượng đã dạy: “Khi biết con quyết định nhận ngôi chùa này, thầy vô cùng xúc động đến độ nổi da gà. Bởi, ở đây một cái chổi đót cũng không có thì liệu con có kham nhẫn được không?” Hòa thượng chống gậy thăm quanh chùa và an ủi tôi: “Nhưng con ơi! Phước địa sẽ đãi phước nhân”. Nghe lời dạy của Thầy, tôi cảm thấy an lòng, bởi lúc đến nhận ngôi cổ tự này tôi thường suy nghĩ là mình đến đây để phụng sự Tam bảo hơn là tâm niệm hưởng thụ, suy cho cùng thì đây có lẽ là nhân duyên tiền kiếp giữa bổn tự với tôi.
Đúng là tôi đến Đông Thiền như một nhân duyên tiền định, cư trú một thời gian, tôi mới nhận ra đây là ngôi tổ đình do Đại lão Hòa thượng dòng Lâm Tế đời 36 (thượng Tế hạ Vĩ) khai sơn vào khoảng giữa thế kỷ thứ XVIII, kế Ngài có Hòa thượng Đại Quang – hiệu Tuệ Chiếu, rồi đến Hòa thượng Đạo Tâm Trung Hậu. Sau nữa là công chúa Nguyễn Phước Ngọc Cơ, pháp danh Hải Châu, hiệu Thiện Hương đến tu học và đại trùng tu xây dựng nhiều hạng mục, chú tạo tượng Phật Tam Thế, Bồ tát Quán Thế Âm bằng đồng…

Trong quyển “Danh lam xứ Huế” của các nhà nghiên cứu Sử học Trần Đại Vinh – Nguyễn Văn Thông – Lê Văn Sách không ghi chép được năm sinh và năm thị tịch của Tổ khai sơn, chỉ đề cập đến chi tiết: năm 1768, Tổ vẫn còn sống và được thí chủ Trương Văn Dạng cùng mẹ cúng dường một pháp khí nhỏ (chiếc khánh đồng). Chùa đang ở trong tình trạng hoang phế, ngôi tháp Tổ khai sơn cũng đã xuống cấp trầm trọng. Sau năm 1980, Ni chúng chùa Đông Thuyền nhờ sự hỷ cúng của cố Hòa thượng Tọa chủ chùa Linh Mụ đã trùng tu lại tháp Tổ tương đối chắc chắn, nhưng kích thước chỉ bình thường, đơn giản. Những năm gần đây tôi có tâm nguyện muốn trùng tu lại ngôi tháp Tổ khai sơn nhưng vẫn chưa thực hiện được vì bệnh duyên. Thời điểm ấy, tôi vô cùng tuyệt vọng, không mong gì thực hiện được hiếu nguyện đại trùng tu tháp Tổ khai sơn để đền đáp công ơn Ngài trong muôn một. Nhưng đúng là hiếu tâm cảm ứng đến thiên địa và nhờ ơn Tam bảo bệnh tình tôi tạm ổn định. Tháng 3 năm 2019, tôi khởi đầu việc Đại trùng tu Bảo tháp của Tổ khai sơn chùa Đông Thiền và Phật sự này được hoàn tất sau sáu tháng thi công.

Trong lòng bia tháp vẫn giữ lại những chữ khắc chạm nội dung chính khai sơn chùa Đông Thiền Hòa thượng thượng Tế hạ Vĩ, tự Trường Chiếu, hiệu Viên Hiệu (Hạo) Đại lão Tổ sư, Đông Thiền phụng lập.

Hiện trên lòng bia, trụ tháp quý Hòa thượng vẫn còn đó, những dòng chữ đề:
圓 號 塔
Viên Hiệu Tháp
Nguyên Xuất Trường Chiếu Tâm
源出長照心
BổnLaiTếVĩHạnh
本来際偉行

Hai trụ giữa
Trụ phải: 渺渺際之前長空只見孤輪月
Trụ trái: 茫茫偉於後剎海澄清夜漫秋
Phiên âm:
– Miễu miễu tế chi tiền trường không, chỉ kiến cô luân nguyệt
– Mang mang vĩ ư hậu sát hải, trừng thanh dạ mạn thu.
Phỏng dịch:
– Mịt mờ phía trước bầu trời, chỉ thấy vầng trăng quạnh
– Mênh mang sau rốt lặng lẽ vào thu biển Phật trong.
Hai trụ hai bên:
Trụ phải: 紅藕開時悟煩惱菩提閑對敵
Trụ trái: 青山低處見涅槃生死漫羅籠
Phiên âm:
– Hồng ngẫu khai thời ngộ phiền não bồ đề nhàn đối địch.
– Thanh sơn đê xứ kiến Niết bàn sanh tử mạn la lung.
Phỏng dịch:
– Khi ngộ sen đỏ nở phiền não bồ đề ràng buộc dối.
– Chỗ thấp thấy non xanh sanh tử Niết bàn đối địch suông.

Hoàn thành tâm niệm đại trùng tu ngôi bảo tháp của Tổ khai sơn bổn tự, cũng nhờ sự thương tưởng và hỗ trợ của Hòa thượng chùa Hiếu Quang người đã đề lên những câu đối trên lòng bia và trụ tháp nhằm ẩn chứa ý nghĩa công đức và tuệ giác của Tổ khai sơn. Với ý nghĩa uyên thâm nhưng trong khả năng hiểu biết của tôi, tôi xin giữ nguyên văn về những câu đối trên.

Rất tiếc trong tập “Danh lam xứ Huế” chỉ sót lại chi tiết năm 1768 Ngài vẫn còn tại thế, tại chùa Đông Thuyền và trước đó Ngài đã từng tu học với Tổ thượng Liễu hạ Quán ở Thiền Tôn Thiên Thai tự, nơi mà nhà thơ Nguyễn Du thời gian làm quan tại Huế đã từng lên thăm viếng. Hình ảnh ngôi chùa cổ lấp ló dưới lá vàng mùa thu, vị Sư già trong mây trắng và quả đại hồng chung thời Cảnh Hưng vẫn nung nấu trong nỗi lòng hoài vọng của nhà thơ qua bài:

Vọng Thiên Thai tự
Thiên Thai sơn tự đế thành đông
Cách nhất điều giang tự bất thông
Cổ tự thu mai hoàng diệp lý
Tiền triều tăng lão bạch vân trung
Khả liên bạch phát cung khu dịch
Bất dữ thanh sơn tương thủy chung
Ký đắc niên tiền tằng nhất đáo
Cảnh Hưng do quải cựu thời chung.

Dịch thơ:

Trông chùa Thiên Thai
Thành vua, đông có núi Thiên Thai
Cách dải sông như khó tới nơi
Chùa cổ lá vàng thu phủ kín
Triều xưa mây trắng sãi già rồi
Thương cho đầu bạc còn vương lụy
Cùng với non xanh trót phụ lời
Chuông cũ Cảnh Hưng treo vẫn đó
Nhớ hồi năm trước đã lên chơi.
                                                                              (Phạm Khắc Khoan & Lê Thước dịch)

Từ Thiên Thai tự, Ngài đến cắm dùi khai sơn Đông Thiền tự, trong bài Vãng cảnh Phật tử Nguyên Phương cảm nhận qua những lời thơ:

Vãng cảnh rong chơi gặp Đông Thiền
Vừng trăng huyền nhạc đạo vàng thiêng
Anh linh cổ tự oai hùng khí
Người về an trú cõi như nhiên.

Vâng, bây giờ tháp Tổ khai sơn được an tọa trên đỉnh đồi vừa thoáng đạt, vừa nghiêm phong dưới bầu trời trong xanh có nhiều mây bạc đang trôi về nơi vô định. Mùa Phật đản 2564 sắp về, có nhiều biến cố lịch sử, tôi hồi nhớ về Đức Tổ với những dòng kỷ niệm đầy vơi nhưng không kém phần sâu lắng.

Mong cầu cho thế hệ Ni chúng Đông Thiền mai sau, nỗ lực tu học truyền đăng tục diệm, tiếp nối mạng mạch lưu truyền Phật pháp của chư Tổ xưa nay, để tri ân công lao khai sáng, duy trì và phát triển của chư liệt vị Tổ sư chùa Đông Thiền. Ngoài các Ngài, còn có những danh Ni có công lớn trong việc đại trùng tu và phát triển sự nghiệp hoằng pháp là công chúa Nguyễn Phước Ngọc Cơ (Pháp hiệu Thiện Hương) ái nữ thứ 13 của Hoàng đế Gia Long và Sư trưởng thượng Diệu hạ Không, Bổn sư của chúng tôi.

Hơn thế nữa, tôi xin thành kính cầu nguyện cho nhân thế sớm thoát khỏi cảnh lầm than do ảnh hưởng đại dịch Covid-19, thiên tai mưa bão hạn hán “không tiền khoáng hậu” tác động.

TKN. Như Đạt