TP.HCM: HT. Giác Toàn chia sẻ pháp thoại “Trách nhiệm Trụ trì trong việc định hướng tu tập và Hoằng pháp trước thời duyên”

158

Chiều ngày thứ 2 khóa Bồi dưỡng Trụ trì 2019, đáp lời kiền thỉnh của hơn 300 hành giả, HT. Giác Toàn – Phó Chủ tịch HĐTS GHPGVN, Trưởng ban Thường trực HPKS, đã quang lâm pháp tòa chia sẻ đến đại chúng phần thứ 2 về chủ đề “Trách nhiệm của trụ trì trong việc định hướng tu tập và Hoằng pháp trước thời duyên” tiếp theo phần 1 đã được Hòa thường trình bày trong Khóa bồi dưỡng năm 2018.

Mở đầu pháp thoại, Hòa thượng nhấn mạnh đến mỗi vị Tăng Ni, đang đảm nhiệm, hoặc sắp đảm nhiệm vai trò trụ trì tại mỗi trú xứ cần luôn nỗ lực để trang nghiêm tự thân thông qua việc thực hiện cho tốt tôn chỉ, những điều trưởng dưỡng, un đúc tinh thần của một vị Phạm hạnh, phải có tố chất cầu học cầu tu; trợ duyên, giúp đỡ Tăng chúng (Ni chúng) thuận duyên tu học, hướng dẫn tín đồ tu tập đúng Chánh pháp thông qua biểu hiện của hành động (thân), lời nói (khẩu) và tư duy (ý) mang tính gương mẫu, thể hiện tính “thân giáo” trong đời sống sinh hoạt, tu tập của vị trụ trì để giáo hóa, nhiếp phục nhân sinh. Đây là hai nội dung cốt yếu được Hòa thượng triển khai sâu rộng trong pháp thoại này.

Để định hướng tu tập tại trú xứ nơi vị trụ trì đảm nhận, Hòa thượng đã trích giảng Chơn lý “Tâm” và “Trên mặt nước” của đức Tổ sư, nhấn mạnh đến tư cách đạo đức, phẩm hạnh trang nghiêm cuả một vị xuất gia giải thoát thông qua trau dồi thân tâm trong đời sống thường nhật:

“Những bậc tu xuất gia, tuy không còn dính dấp với xã hội gia đình, nhân loại nhưng cũng đem thân mạng đền trả cho đời bằng gương nết hạnh, hiền lương; và lời nói, việc làm, ý niệm, đạo lý đem giúp cho xã hội, gia đình bình yên, trong sạch, sáng láng, nên mới được đứng vững lâu dài, không rối loạn” (Chơn lý “Trên mặt nước”)

Chính sự trang nghiêm phẩm hạnh này là món quà vô giá cho Tăng (Ni) chúng, cư gia bá tánh mỗi khi được diện kiến.

“Người tu là kẻ chữa bệnh, bệnh ấy là tâm pháp đạo tà, là thân khẩu ý xấu. Người tu là rèn trau thân khẩu ý tốt, lấy pháp hay thuốc quý nào đó làm tâm và thật hành mãi cho đến khi kết quả mạnh lành, chơn như thành Phật… (Chơn lý “Tâm”)

Nền tảng thứ hai là luôn thực hiện lời Phật dạy là lấy “Giới – Định – Tuệ” làm nền tảng cho tu tập và giáo hóa giáo pháp. Khi tâm định tĩnh, làm chủ được tam nghiệp, tiến dần đến sự giác ngộ giải thoát cho mình và cho người.

Đức Tổ sư đã xác lập phương châm lập đạo và hành đạo của mình là “Nối truyền Thích-ca Chánh pháp – Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam”, tức là Ngài tu học và kế thừa Chánh pháp của Đức Phật ngang qua con đường thực hành Giới – Định – Huệ:

Người Khất sĩ chỉ có ba pháp tu học vắn tắt là Giới, Định, Huệ. Bởi giữ giới y bát là giải thoát mọi điều trói buộc phiền não ô nhiễm rồi, nên hằng được thong thả rảnh rang ở trong cái thật, cái không xao động, chỉ còn có nhập định và tham thiền, tức là vừa tìm học trong trí não, vừa để tâm yên lặng đứng ngừng, gọi là tâm nghỉ ngơi và trí làm việc, khỏe làm, mệt nghỉ. Khi trí làm thì năng sanh huệ, lúc tâm nghỉ thì phát thần thông. Cho nên, quả linh và đạo lý tiến triển nhiệm mầu, mà người Khất sĩ thì không có phút nào gọi là lêu lổng…(Chơn lý “Y bát chơn truyền”)

Người trụ trì trong thời duyên hiện nay nên cố gắng thực hành và duy trì những 4 nét đặc sắc của Giáo pháp Khất sĩ được Đức Tổ sư dạy rất rõ trong quyển Chơn lý “Hòa bình”, đó là: Không chen lộn trong đời về ch ở; Không bận rộn về vấn đề ăn mặcKhông tiền – buông sở chấpBình đẳng vô trị – vô ngã vị tha

Tóm lại, các sự tu học giúp ích cho người, cho mình, việc chí thiện lành trong sạch, đều có thể làm được trong khi gặp gỡ. Ấy tức là thật hiện lẽ sống chung tu học, quán xét hạnh phúc của chung, mà xin học lẫn nhau, y theo chơn lý Võ trụ và đạo Phật (phận sự của Tăng-già Khất sĩ xuất gia giải thoát đạo Niết-bàn). Đó là sự thật hành pháp giải thoát lý trung đạo theo Kinh, Luật, Luận; Pháp bảo Tam tạng của từ xưa chư Phật dạy là: Nên phải tập sống chung tu học”.

Với sứ mạng “Tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự”, vị trụ trì cần phải xây dựng cho mình một đời sống chuẩn mực đạo đức, khéo giao tiếp ứng xử, trang nghiêm phẩm hạnh trong chốn thiền môn. Có như thế, vị trụ trì mới nhiếp phục, cảm hóa được Tăng (Ni) chúng và Phật tử. Từ sự cảm hóa đó, hội chúng sẽ đoàn kết, hết lòng ủng hộ giúp vị trụ trì gánh vác, đương đầu những khó khăn để hoàn thành các Phật sự tại trú xứ của mình.

Với sứ mạng “hoằng pháp lợi sinh” của vị trụ trì trước thơi duyên thì mỗi vị trụ trì cần phải tích lũy tâm đức, tự ý thức trách nhiệm, sứ mạng thiêng liêng của một “Sứ giả Như Lai” hoằng dương Chánh pháp, đưa Đạo vào Đời bằng các 4 phương thức: Hạnh nguyện khất thực hóa duyên được thay thế bằng tinh thần “thiểu dục tri túc”; Hoằng pháp qua con đường giáo dục (giảng dạy);Hoằng pháp qua việc tổ chức các khóa tu; Hoằng pháp bằng con đường văn hóa và ứng dụng công nghệ.

Mỗi vị Tăng (Ni) trụ trì cần phải đảm nhận vai trò thiêng liêng là một sứ giả của Như Lai. Tại nơi đạo tràng tịnh xá, trong những buổi ngọ trai, hoặc ngày cúng Hội một tháng 4 kỳ (mùng 8, 15, 23, 30) tùy theo hoàn cảnh thực tế và điều kiện cho phép có thể thuyết giảng đôi điều kinh pháp nhằm mục đích giúp cho cư gia bá tánh hữu duyên nhận thức rõ con đường đạo đức, chuyển hóa các pháp bất thiện, hướng dẫn họ tu tập đúng với Chánh pháp của chư Phật.

Thiết lập chương trình, nội dung tu học sao cho phù hợp với chủ đề của khóa tu; hình thức sinh hoạt, độ tuổi tham gia phải phù hợp với tiêu chí khóa tu, cũng như phải biết cách duy trì khóa tu một cách bài bản và khoa học… Tùy theo mức độ tu tập, hành trì và khả năng của vị trụ trì, cộng thêm nhu cầu tu học của Phật tử mà từ đó có thể thiết lập các chương trình như: Giảng dạy tại các trú xứ, già-lam, tự viện, tịnh xá; Mở những khóa tu cho các Phật tử thanh thiếu niên; Mở khóa tu gieo duyên; Mở những khóa tu định kỳ như Bát quan trai, Niệm Phật, Tu thiền, Một ngày An lạc…

Vị trụ trì ngoài khả năng am hiểu nội điển cần phải có những kiến thức cơ bản về lịch sử và đặc tính văn hóa từng vùng miền; nỗ lực trau dồi những kỹ năng như viết lách, sáng tác thơ văn, nghiên cứu dịch thuật các mảng văn học, lịch sử, triết học, văn hóa… Thế kỷ 21 là thế kỷ của khoa học công nghệ. Hoạt động báo chí, truyền thông và xuất bản là lĩnh vực rất cần thiết cho xã hội, đặc biệt là trong Hoằng pháp và giáo dục. Những hoạt động này rất hữu ích và phù hợp, đáp ứng với mục tiêu Hpháp thời hiện đại. Do vậy, vị trụ trì cần ứng dụng các thiết bị công nghệ hiện đại vào chương trình Hoằng pháp của mình thông qua việc đưa các bài viết, các buổi thuyết giảng đăng tải trên các trang website, facebook, youtube,… hầu đáp ứng nhu cầu tu học ngày một rộng của nhiều tầng lớp người trong xã hội.

Không nên xem trụ trì là chức vụ quyền hành, mà đó là trách nhiệm phải gánh vác để lập công bồi đức, “vui gánh những gánh nặng đang gánh”. Vị trụ trì cũng cần phải tăng trưởng sự tu học, biết lắng nghe và chọn lọc ý kiến để có giải pháp cho việc bảo quản, chăm sóc sự tướng – cảnh quan của ngôi chùa, ngôi tịnh xá trong ý nghĩa kế thừa “tục diệm truyền đăng”. Vị trụ trì cũng phải biết thương Tăng, Ni trong trú xứ cũng như Phật tử, tín đồ hữu duyên, biết cách nâng đỡ để cùng thăng tiến trong tu tập và giáo dưỡng trong Chánh pháp.

 

Vị trụ trì đương nhiên là người cần nắm rõ Hiến chương, các Nội quy về Tăng sự cũng như các ban ngành khác của Giáo hội; hiểu và nắm vững pháp luật, Pháp lệnh Tín ngưỡng – Tôn giáo do Nhà nước ban hành bên cạnh nắm vững nếp sinh hoạt của đạo, đó là những yếu tố chính giúp vị trụ trì làm tốt công việc thiêng liêng mà mình được giao phó.

Vị trụ trì cần chuyên tâm tầm cầu học tập kinh điển và hành trì giáo pháp để hoàn thiện phẩm chất của một vị xuất gia giải thoát. Nếu không làm được như thế thì quả thật là một thiết sót lớn và xem như nhiệm vụ, sứ mạng của vị trụ trì khó mà hoàn thành. Điều này, Tổ sư đã giáo huấn rằng:Người Khất sĩ phải là có thật học, phải đủ đức hạnh, phải có chơn tu mới được gọi đúng danh từ Khất sĩ… Giá trị của người Khất sĩ là mắt tai mũi lưỡi miệng thân ý phải cho trọn lành trong sạch, do nhờ đời trước có tu hiền. Phải là người có tu tập bố thí phước lành không bỏn xẻn; phải là người có nhơn đức biết thương yêu cứu giúp chúng sanh, không tham sân si tật đố ích kỷ tự cao…”. (Chơn lý “Y bát chơn truyền”).

Minh Nguyên
theo
phatsuonline