Tỏa sáng tình lam

59

  Tôi đến thăm Ni sư M.T. vào buổi ban mai nắng ấm, cảnh vật đang e thẹn vươn mình chào đón ánh thái dương.

Ôi! Mệt thật, phải thức cả đêm, xe mới dừng trước cổng chùa bé nhỏ tọa lạc tại sườn đồi thoải dốc hoang sơ! Từng bước chân mỏi mệt, tôi cố lan nhanh theo đường mòn nho nhỏ dẫn vào chùa (K.P.) tỉnh Kon Tum.

Thập niên 1965 – 1975, Sư và tôi đều là đôi bạn chí tình từ chùa Bồ Đề Nguyễn Khuê (gần chợ cầu Muối), rồi đến Đại học Văn Khoa, đời sinh viên thuở ấy sao mà nghèo khó quá, nhưng lối sống “tình trường nghĩa bạn” không bao giờ tắt nắng, dân chúng cơ hàn vì bom đạn chiến tranh, vĩ tuyến 17 với dòng sông Bến Hải, nước trôi lững lờ trầm mặc nhỏ lệ chia đôi tình Nam Bắc.

Em Trung, anh Bắc, chị Nam
Tuy rằng ba chỗ mà chung một nguồn.

Đã xa rồi bước chân viễn xứ, đất nước u buồn Tỉnh làng tràn ngập những bão súng thiêu rụi quê hương, dân quê sống đời đồng ruộng ven sông luôn bị báo động, cái chết sẽ đến bất ngờ vì viên đạn vô tình không tránh một ai.

Đầu năm 1975, học sinh và sinh viên các trường cũng hòa mình vào nỗi đau đất nước, ở tỉnh nhiều làng quê di dời, tại thành phố thì nhiều phố phường bốc cháy, cảnh rối loạn nếp sống sinh hoạt đời thường đến mức báo động.

Kể từ đó, lòng dân sợ hãi, lời Kinh, mõ sớm chuông chiều dốc lòng cầu nguyện nỗi khổ chinh chiến vơi đi cho hòa bình sớm trở lại, và ước nguyện của mọi người đã được đáp ứng trong khí thế mừng đất nước hòa bình độc lập ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhịp cầu Nam Bắc nối dài bước chân máu mủ “con Lạc cháu Hồng”.

Sau 1975, trường Đại học tạm ngưng và Sư chị cũng như bao sinh viên khác đều về quê cả hoặc nổi trôi hoang đảo biển khơi! Người ở lại thành phố, đa số các chùa đều ra ngoài tỉnh, chư Ni nương vào rẫy bái sinh nhai, vui với mây ngàn cỏ nội, ôn tồn với tiếng mõ lời kinh.
Hai năm sau giải phóng (1977), Đại Học Văn Khoa cũng như Đại học Vạn Hạnh thông báo chiêu sinh các khóa trở lại học khóa bồi dưỡng chính trị hai năm do các giáo sư miền Bắc vào đảm trách, tôi và số bạn cũ họp mặt lại trường với nhiều tâm trạng khác nhau, vì trống vắng những người bạn thâm tình xa xưa, ngay cả M.T. cũng xa rời và bặt vô âm tín, nỗi buồn chợt đến chợt đi, nghe lòng quặn đau và tê buốt tâm tư!

Với tôi sau 1979, nhiều lốc xoáy cuộc đời tu sĩ, nên vẻ đẹp thư sinh đầy hoa bướm ngày xưa đã chai lì. Giờ chỉ đọng lại trong ký ức những suy tư bươn chải với nhịp sống khó khăn. Xa thành phố, chùa tranh vách đất, câu nói: “Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân” là ánh sáng soi đường cho tôi hoàn thành nhiều cơ sở Tôn giáo và nuôi chúng đông, hơn hai mươi năm lúc nào chỉ số chư Ni nội trú sinh hoạt cũng hơn hai trăm vị, vững chắc và an vui tu học.

Cuối năm 2009 đầu năm 2010, Đại hội Nữ giới Phật giáo Quốc tế Sakyadhita mở màn sinh khí mới sau ba mươi năm chư Ni thầm lặng với nhịp mõ lời kinh. Dù còn nhiều nguyện ước chưa vuông tròn nhưng Phân ban Ni giới Trung ương và các tỉnh thành đã kề vai chung bước, chỉ mong nếp xưa Thiền môn quy củ được vẻ vang, tông phong vĩnh chấn, để chư Tăng và Giáo hội đỡ gánh âu lo và thế gian cơ hiềm giới phẳng lặng lời bình. Tưởng chừng như đã lãng quên và không còn đọng lại trong tôi chút nào tình bạn chung lớp chung trường thuở xưa, ngày ấy đã qua nhanh.

Chim trời cánh nhạn bay đi
Tiếc thương nỗi nhớ ôm ghì tay không.

Thật vậy, tôi thật vô tình… để hôm nay, cánh thư trắng mỏng báo tin chị đang bệnh nhiều, như trên đã dẫn Sư chị rất mong gặp lại tôi để có chút thâm tình “Linh Sơn cốt nhục”. Thế rồi, ngày hôm sau tôi quyết định khởi hành đi tìm Sư chị M.T., với nỗi vui mừng khôn tả.
Với đôi tay gầy guộc, Sư chị cố nắm chặt tay tôi và nghẹn ngào để dòng nước mắt chảy thay lời muốn nói, cả hai cùng im lặng, thật lâu và sâu lắng! Trưa hôm ấy, bữa cơm đạm bạc rau khoai nhưng rất ngon miệng vì bụng đói và muôn ngàn câu chuyện đã khơi đề…
Một ngôi chùa quá cũ kĩ, Sư chị với một bà cụ phụ bếp và một chú điệu tuổi khoảng mười lăm chung sống quả là quá tiêu sơ cùng với buôn làng dân tộc Châu Ro cộng Tày… hiện nét đói nghèo trên từng gương mặt, thương quá là thương!

Tôi không ở lại đêm vì có nhiều Phật sự sau đó, nên gạt lệ ra về, Sư chị biết tánh tôi nên không cố giữ, giung giăng tiễn nhau ra cổng, một cái gói nho nhỏ bọc vải lam cũ rích, Sư chị nhét vào tay nải của tôi và nói: “Em về tới chùa mới được mở ra, bí mật đấy, nhớ lời, đừng sai ngoa là có tội”. Từ xa xưa đến giờ, tôi luôn trân trọng thư tín người gởi, nên dù có tò mò, tôi luôn nhắm mắt niệm Phật mong cho thời khắc qua mau, cho xe đưa về lại chùa rạng sáng hôm sau. Tay tôi run lên khi mở cái gói Sư chị cho mình. Ồ, thật là! Mắt mình có lầm không? Xem kỹ lại lần nữa thì ra là một cây vàng SJC với bức thư dặn dò, đây là của chắt mót nhiều năm lắm, chị cúng dường cho em để nuôi chúng và tùy duyên Phật sự, chỉ có đôi dòng chữ ngắn, sao tim mình đập nhanh và giọt vắn giọt dài như lã chã mưa rơi!
Tình Lam muôn đời thơm ngát hương sen, Sư chị đã đưa tôi gần kề tỉnh Kon Tum, sau đó với những phần quà cúng dường chùa và sẻ chia cùng đồng bào dân tộc chén cơm manh áo, người xưa thường nói:

Một thuở kết giao tình mặc khách
Trăm năm xin hẹn nghĩa kim bằng.

Phải chăng đã nhủ lời cùng hậu thế, rằng tình người là trên hết để lối sống và cách sống của Phật đà thấm mặn từng bước chân đi. Nguyện trân trọng và giữ gìn chân tình góc bể chân mây.

TKN. Như Như