Thất thánh tài

1115

<HĐ>Đối với thế gian, tài sản là một trong năm thứ mà con người luôn hướng đến, luôn tìm cầu để sở hữu và thụ hưởng: tài (tiền bạc, của cải), sắc (hình sắc, chủ yếu là vẻ đẹp nam, nữ; nhục dục), danh (tiếng tăm, danh vọng, địa vị), thực (ăn uống, hưởng thụ), thùy (ngủ nghỉ). Trong xã hội ngày nay, việc tạo ra tài sản được đặt lên hàng đầu để đáp ứng mục đích thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ, con người quay cuồng trong đời sống vật chất với bao khát vọng, tham muốn không cùng. Tiền bạc, của cải được xem là phần quan trọng không thể thiếu, gắn liền với sinh mạng con người (đồng tiền liền khúc ruột, đồng tiền xương máu, đồng tiền mồ hôi nước mắt, vật bất ly thân v.v..), bởi con người đánh đổi rất nhiều thứ (mồ hôi nước mắt, sức khỏe, tâm trí thậm chí cả lương tâm, đạo đức) để đổi lấy tài sản của cải. Trong xã hội tiêu thụ thực dụng thì tiền bạc là tất cả, có tiền mới có được những giá trị vật chất khác, mà nhu cầu vật chất là căn bản được đặt lên trên những nhu cầu khác nên không có tiền bạc bị xem như không có gì cả, đời sống bị khiếm khuyết, mai một rất nhiều. Vấn đề bức thiết mà xã hội hiện nay đặt ra là: Tạo ra tiền bạc của cải bằng cách nào, và cách thức đó là lương thiện hay không lương thiện? Sử dụng tiền bạc như thế nào cho hợp lý, sử dụng vào mục đích gì, chân chính hay không chân chính? Việc chạy theo những giá trị vật chất một cách thái quá, xem nhẹ những giá trị đạo đức những giá trị tinh thần đã gây nhiều bất ổn trong đời sống cá nhân và xã hội.

Nhưng cho dù đồng tiền có vị thế như thế nào trong xã hội thì nó cũng chỉ là những giá trị phù du tạm bợ có ý nghĩa tùy thuộc vào những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau, cho nên trong đời sống đạo đức không đặt nó lên vị trí hàng đầu. Đức Phật cho rằng tiền bạc, của cải là tài sản của năm nhà: lửa, nước, vua quan, trộm cướp, vợ con phá tán*, tài sản không của riêng một ai, chúng chỉ là vật sở hữu tạm thời trong tay người này một thời gian rồi lại sang tay của kẻ khác. Điều đó ai cũng thấy rõ, ngay cả tấm thân con người khi chết đi còn bỏ lại, huống hồ tài sản là những vật ngoài thân. Một trận bão lũ đi qua có thể cuốn trôi tất cả; một cơn hỏa hoạn có thể thiêu rụi hoàn toàn; chiến tranh, trộm cướp hoặc vua quan tịch thu, sung công, chiếm đoạt; vợ con không lương thiện (đam mê rượu chè cờ bạc, ăn chơi hưởng thụ, biếng nhác ươn hèn) cũng làm tiêu tan tài sản mình đang có, chỉ trong phút chốc có thể trắng tay, sáng còn là đại gia, chiều trở thành ăn mày cũng có.

Cho nên trong đời sống đạo đức, tài sản chỉ được xem là phương tiện giúp con người đáp ứng các nhu cầu về vật chất để có một đời sống ổn định, giúp con người thực hiện những tâm nguyện, chí hướng cao cả để làm đẹp cuộc đời, vì mục đích an vui hạnh phúc cho cá nhân và cộng đồng, xã hội, rộng hơn nữa là nhân loại, chúng sinh (cúng dường, bố thí, phóng sinh, hoằng pháp, từ thiện, ủng hộ các công trình công ích, văn hóa, giáo dục, an sinh xã hội v.v..). Trong kinh Tăng chi bộ III, chương Bảy pháp, phẩm Tài sản, Đức Phật dạy các vị Tỳ kheo như sau: “Này các Tỳ-kheo, có bảy tài sản này, thế nào là bảy? Tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài và tuệ tài. Ở đây, vị Thánh đệ tử có lòng tin, tin tưởng vào sự giác ngộ của Như Lai, gọi là tín tài. Vị Thánh đệ tử từ bỏ sát sinh, trộm cắp, tà hạnh, nói dối, say sưa, gọi là giới tài. Vị Thánh đệ tử có xấu hổ đối với thân, miệng, ý làm ác, gọi là tàm tài; có sợ hãi đối với thân, miệng, ý làm ác, gọi là quý tài. Vị Thánh đệ tử nghe nhiều, giữ gìn những gì đã nghe, đề cao đời sống phạm hạnh, đọc tụng nhiều lần, chuyên tâm quán sát, thành tựu chánh kiến, gọi là văn tài; tâm từ bỏ xan tham, ưa thích xả ly, san sẻ vật bố thí, gọi là thí tài; có trí tuệ về sinh diệt, thành tựu Thánh thể nhập, đưa đến chân chánh đoạn diệt khổ đau, gọi là tuệ tài. Này các tỳ kheo, đây gọi là bảy tài sản, ai có được những tài sản này được gọi là không nghèo khổ”.

Tài sản mà Đức Phật nói không phải là tiền bạc, của cải vật chất, mà là tài sản về tinh thần, tài sản tâm linh, trí tuệ, đạo đức. Tín, giới, tàm, quý, văn, thí, tuệ là bảy thứ tài sản không bao giờ mất, không bị đánh cắp, chiếm đoạt, không bị phá hủy trừ khi tự người tạo ra chúng phá hủy chúng. Trong kinh Ugga**, Đức Phật tuyên bố: “Bảy tài sản này, này Ugga, không bị lửa, nước, vua quan, trộm cướp, những kẻ thừa tự không khả ái hay thù địch chi phối”. Đây được xem là tài sản của bậc Thánh (Thất Thánh tài). Bảy tài sản này tuy được xem là tài sản tinh thần, nhưng cũng chính từ đó sản sinh ra tài sản vật chất, vì thế người có bảy loại tài sản này được xem là người giàu có, đầy đủ nhất về phương diện vật chất lẫn tinh thần, như lời Đức Phật đã nói ở trên: “Này các Tỳ-kheo, đây gọi là bảy tài sản, ai có được những tài sản này được gọi là không nghèo khổ”(Không nghèo tức là giàu có; không khổ tức là an vui, hạnh phúc).

Tại sao Đức Phật nói có được bảy thứ tài sản đó là có tất cả mọi thứ tài sản khác trên đời (không nghèo, không khổ)? Thứ nhất, về phương diện đời sống tâm linh: khi có đầy đủ tín, giới, tàm, quý, văn, thí, tuệ thì không coi trọng đời sống vật chất, thấy thân mình và mọi thứ tài sản khác phù du, tạm bợ, từ đó không tham ái và chấp thủ, vô cầu, vô dục,  nhờ đó tâm an ổn, không lo lắng, sầu muộn, khổ não, không bị đời sống vật chất làm bận tâm. Cũng như lời kinh Bát đại nhân giác nói: “Ít muốn, vô vi thì thân tâm được tự tại” (Thiểu dục, vô vi, thân tâm tự tại). Hay trong kinh Di Giáo: “Người thiểu dục, không mong cầu ham muốn thì không khổ não”, “Người thiểu dục thì tâm an nhiên không lo sợ, gặp việc có dư, thường không thiếu thốn. Người có thiểu dục thì có Niết bàn”, “Nếu muốn khỏi các khổ não, phải quán tri túc, vì pháp tri túc là chỗ giàu có, vui vẻ và an ổn. Người tri túc tuy nằm dưới đất cũng thấy an vui; người không tri túc tuy ở thiên đường cũng không vừa ý. Người biết tri túc tuy nghèo mà giàu; người không biết tri túc tuy giàu mà nghèo”(“Thiểu dục chi nhơn vô cầu vô dục, tắc vô khổ não”; “Thiểu dục chi nhơn, tâm tắc thản nhiên vô sở ưu úy, xúc sự hữu dư thường vô bất túc; hữu thiểu dục giả tắc hữu Niết bàn”, “Nhược dục thoát chư khổ não, đương quán tri túc. Tri túc chi pháp tức thị phú lạc an ổn chi xứ. Tri túc chi nhơn tuy ngọa địa thượng du vi an lạc. Bất tri túc giả tuy xử thiên đường diệc bất xứng ý. Tri túc chi nhơn tuy bần nhi phú; bất tri túc giả tuy phú nhi bần”).

Thứ hai, về phương diện nhân quả đạo đức: Nhờ có Tín, Giới, Tàm, Quý, Văn, Thí, Tuệ mà chúng ta không tạo tác các nghiệp bất thiện đưa đến khổ đau, biết chọn lựa pháp lành để tạo, chọn lựa những nhân duyên tốt đưa đến an vui hạnh phúc cho hiện tại và tương lai, đời này và đời sau. Nhờ biết cúng dường, bố thí, cung kính, phụng sự các bậc tôn trưởng (các bậc thánh hiền, cha mẹ, thầy tổ…), làm lợi ích cho chúng sinh (có Thí tài) mà được sinh ra trong hoàn cảnh tốt, mang thân phận cao sang quyền quý; Nhờ siêng năng tinh tấn tu học, trau giồi phẩm hạnh, đạo đức, phát triển trí tuệ (có Văn tài, Giới tài, Tuệ tài) mà hiện đời và tương lai những đời sau sinh ra làm người tài đức vẹn toàn có ích cho xã hội; Nhờ có đạo đức (Giới tài), biết liêm sỉ (Tàm tài, Quý tài), luôn hướng đến những điều tốt đẹp, chân chánh, thiện mỹ mà nhân cách cao đẹp được mọi người kính trọng, yêu quý. Đó  chính là có Thất Thánh tài là có tất cả những tài sản trên thế gian.

Về giá trị lợi ích các tài sản của bậc Thánh (tín, tàm, quý, văn, giới, thí, tuệ), bàng bạc trong nhiều kinh điển đề cập đến. Kinh Hoa nghiêm dạy: “Niềm tin (Tín) là mẹ sinh ra các công đức”(Tín vi công đức mẫu); Kinh Tứ thập nhị chương: “Thấy người làm đạo bố thí, vui vẻ giúp cho họ thì được phước rất lớn”( Đỗ nhơn thí đạo, trợ chi hoan hỷ, đắc phước thậm đại). Chỉ tùy hỷ bố thí thôi còn được phước rất lớn huống chi là tự mình bố thí. Kinh Di giáo: “Nếu người nào thường hay giữ gìn tịnh giới thì người ấy có được thiện pháp. Nếu không tịnh giới, các công đức lành đều không sinh được. Do đó phải biết, giới là chỗ ở của công đức an ổn nhất” (Nhược nhơn năng trì tịnh giới, thị tắc năng hữu thiện pháp; nhược vô tịnh giới, chư thiện công đức giai bất đắc sinh; thị dĩ đương tri giới vi đệ nhất an ổn công đức chi sở trụ xứ); “Áo hổ thẹn, đối với các thứ trang sức thật là hơn hết. Hổ thẹn ví như móc sắt có thể ngăn dứt được sự phi pháp của người. Thế nên thường phải biết hổ thẹn, không được quên bỏ. Nếu xa lìa hổ thẹn thì mất các công đức. Người có hổ thẹn thì có các thiện pháp. Người không biết hổ thẹn so với loài cầm thú không khác chút nào vậy” (Tâm sỉ chi phục, ư chư trang nghiêm tối vi đệ nhất. Tâm như thiết câu, năng chế nhơn phi pháp, thị cố thường đương tàm sỉ, vật đắc tạm thế. Nhược ly tàm sỉ tắc thất chư công đức. Hữu quý chi nhơn, tắc hữu thiện pháp. Nhược vô quý giả, dữ chư cầm thú vô tương dị dã!) Kinh Bát đại nhân giác nói về văn và tuệ tài: “Bồ tát thường nhớ học rộng nghe nhiều, tăng trưởng trí tuệ, thành tựu biện tài, đều vì niềm vui lớn”(Bồ tát thường niệm quảng học đa văn, tăng trưởng trí tuệ, thành tựu biện tài, tất dĩ đại lạc), hay “An vui với cái nghèo mà giữ đạo, chỉ lấy trí tuệ làm sự nghiệp”(An bần thủ đạo, duy tuệ thị nghiệp)

Cho nên có thể nói, tài sản trên thế gian không gì hơn tín, giới, tàm, quý, văn, thí và tuệ. Đây là thứ tài sản không bao giờ mất, có giá trị vĩnh hằng trừ khi chúng ta hủy hoại nó. Có nghĩa là tài sản đó chỉ hao tổn, sa sút hoặc mất đi khi chúng ta không còn niềm tin, không có đạo đức, không còn tinh tấn học hỏi, tu tập, không biết xả ly tâm tham lam ích kỷ để chia sẻ với tha nhân, không biết xấu hổ, hổ thẹn khi làm điều lỗi lầm, sai trái. Tín, giới, tàm, quý, thí, văn, tuệ không chỉ là thứ tài sản làm giàu, làm đẹp cho những con người có tâm cao thượng, mà đó còn là thứ tài sản giúp con người vươn tới phẩm vị Thánh hiền.    


                                                                                                     

Chú thích

*ĐTKVN, Tăng chi bộ kinh II, chương Năm pháp, phẩm Du hành dài, kinh Tài sản, VNCPHVN ấn hành, 1996)

**ĐTKVN, Tăng chi bộ kinh III, chương Bảy pháp, phẩm Tài sản, kinh Ugga, VNCPHVN ấn hành, 1996

Thiện Tài