Thất niệm Mồi ngon cho Sars-Cov-2

122

  Mùa An cư năm nay (Canh Tý – DL. 2020) là mùa An cư thứ năm của Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chính Minh và cũng là mùa An cư thứ 61 của tôi. Mùa An cư đầu tiên của tôi, năm 1960, có rất nhiều biến động về xã hội, chính trị, quân sự,… Đó là năm Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời và chính phủ Ngô Đình Diệm cố gắng chặn đứng các phong trào. Mặc dù chúng ta tu hạnh xuất thế nhưng mối quan hệ giữa tôn giáo và xã hội bên ngoài luôn bị tác động với nhau. Trong Hội Phật học Nam Việt lúc đó, có một số huynh đệ của tôi bắt đầu dao động. Thứ nhất, một số sợ chính quyền trưng binh bắt đi lính. Thứ hai, một số vì ảnh hưởng bởi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, nên muốn vào chiến khu để kháng chiến. Hội Phật học Nam Việt lúc đó phải nói rất bất an. Trong lúc bất an như vậy, Hòa thượng Thiện Hòa, Giám đốc của hội, chỉ dạy rằng: “Các thầy nên tìm cái an trong bất an.” Nhưng các huynh đệ vẫn luôn cảm thấy bất an nên bỏ cuộc. Số chư Tăng ở lại chỉ còn khoảng một nửa. Vì dao động bởi xã hội, sự đóng góp của tôn giáo cũng bị giới hạn. Khi tâm ta bất an, dao động theo xã hội, càng làm cho xã hội bất an, dao động thêm, đời sống tinh thần đi xuống, vật chất theo đó đi xuống, khó khăn bắt đầu xảy ra cho xã hội chúng ta.

Nhớ lại mùa An cư của Đức Phật ở Kỳ Hoàn Tinh xá, cũng xảy ra một việc chấn động. Ngoại đạo đã giết một phụ nữ, chôn phía sau hương thất của Đức Phật và vu cáo Đức Phật cưỡng bức, giết người. Khi đó, chư Tăng ở Kỳ Hoàn tinh xá bắt đầu dao động, nhưng đối với các trưởng lão, như Ngài Kiều Trần Như, Xá Lợi Phất, những người thân cận với Đức Phật, đã đi sâu vào chánh định, giữ được chánh niệm, nên nhìn thấy xa hơn, tìm thấy an trong bất an.
Sự kiện tại Hội Phật học Nam Việt năm 1960 và sự kiện tại Kỳ Hoàn tinh xá thời Đức Phật thật giống nhau. Kết hợp hai chuyện lại, tôi quyết định tìm cái an trong bất an, nên trong mùa hạ đó, tôi cảm thấy rất an lành trong chánh niệm, chánh định. Chính cái an này đã ảnh hưởng đến bên ngoài. Lúc bấy giờ, tôi có cảm giác một số Phật tử thích gần gũi và học đạo với tôi hơn. Khi đó, tôi còn quá trẻ, nhưng tôi đã trở thành một giảng sư của Giáo hội Tăng già Nam Việt và được Hòa thượng Thiện Hoa chọn gửi lên vùng kinh tế mới Đồng Xoài để thuyết pháp. Đoạn đường đi đến Đồng Xoài khoảng hơn 100 cây số nhưng trên đường đi, tôi vẫn giữ được chánh niệm và chánh định.


Xã hội tuy bất an nhưng tâm chúng ta an, hoàn cảnh sẽ an theo. Cho nên, là tu sĩ, chúng ta phải cố gắng thực tập, đi sâu vào giáo pháp của Đức Phật, mới thấy được kết quả, một kết quả vượt lên trên hiểu biết của con người. Đây gọi là Đạo. Thực chất đạo Phật là đạo trí tuệ. Chúng ta không chỉ sử dụng trí tuệ bình thường của con người mà còn phải biết phát huy nó trở thành trí tuệ của Phật pháp.

Mùa An cư năm 1960, tôi mới ngoài hai mươi nhưng nhờ niềm tin Đức Phật, niềm tin vào giáo pháp của Ngài, nên tôi cảm thấy bình an lạ thường. Khi đến Đồng Xoài, nơi đó vẫn chưa có chùa, chỉ có một mái tranh và bên trong có một tượng Phật sơ sanh vẽ bằng tay. Chỉ với bấy nhiêu, nhưng bằng lòng thành kính và chánh niệm của mình, tôi đã tạo thành sức sống kỳ lạ tại vùng kinh tế mới mà ít nơi nào có thể làm được. Đạo tràng đó thanh tịnh giữa rừng núi một cách lạ lùng. Tôi nhận ra được trong cái khó khổ, người ta sẽ dễ nhiếp tâm hơn. Ngược lại, hoàn cảnh tốt thường làm chúng ta quên đi, sống theo nó, phần nhiều chúng ta lại rơi vào vọng niệm và cuồng tâm.

Sau mùa an cư đó, trở về Hội Phật học Nam-Việt, tôi có được kinh nghiệm tu và kết quả công phu của mình. Trong chánh niệm, ta mới kết nối được với chư Phật, được chư Phật hộ niệm. Có như thế, đạo tràng của chúng ta mới trở nên thanh tịnh trang nghiêm và thiêng liêng.

Đức Phật dạy vạn vật đều phải theo chu kỳ: sanh ra, tồn tại và mất đi. Khi một sự việc xảy ra, chúng ta phải quan sát để thấy rõ nghiệp duyên của nó. Tất cả đều khởi đầu từ nghiệp thức của con người. Mặc dù vô hình nhưng nó rất nguy hiểm và cũng rất thiêng liêng. Nếu chúng ta không thấy được nguy hiểm lẫn sự linh thiêng của nó, chúng ta sẽ bị cuống theo và dập chết ngay. Chết về thân tứ đại vật chất là chuyện bình thường, nhưng chết luôn cả linh hồn mới đáng sợ, vì cái này khó tìm lại được.

Lúc đó, có nhiều người bạn nói với tôi: “Chết tới nơi rồi mà không sợ!” “Chết tới nơi” nghĩa là chính quyền sắp đàn áp Phật giáo, sẽ có những việc rất nguy hiểm cho chư Tăng. Vì thấy chết tới nơi cho nên họ sợ, không dám mặc áo tu, không dám sống trong Tăng đoàn. Sau này, tôi thấy rõ là mấy thầy ấy vì chết tâm, chết niềm tin trước, nên cuối cùng lần lượt chết hết. Tôi nói: “Chết tới nơi rồi, sợ cũng chết.” Mình là con Phật, biết chết tới nơi, đáng lẽ không nên sợ, để giữ chánh niệm, may ra Phật hộ niệm cho mình. Quả thật đúng như vậy. Tôi sống cho đến ngày nay trên 60 năm tu kể từ ngày thọ Đại giới, tất cả những người thấy chết tới nơi mà sợ đều chết hết. Còn tôi, thấy chết tới nơi mà không sợ, bình tĩnh giữ chánh niệm, chánh định, nên tôi vượt qua tất cả.

Trở lại mùa an cư thứ 61 này, tôi thấy cũng có những cái lạ. Mới vào mùa an cư, có dịch Covid-19. Một số người lo lắng: “Không biết dịch bệnh như vậy, mình có cấm túc an cư được không? Nếu an cư, với cách ly này, trường của chúng ta có tu học được không? Nếu đàn việt không phát tâm cúng dường, Tăng Ni có sinh hoạt và tu được không? Tu được không?…” Số người này tu hành với tâm niệm đó được xếp vào hạng vá áo tu cơm, lúc nào cũng nghĩ đến cơm áo gạo tiền. An cư với số lượng trên 800 Tăng Ni như thế này, nào dịch bệnh, nào đời sống,… Đây đúng là việc phải lo, nhưng Phật lo nhiều hơn chúng ta, mà Phật vẫn ngồi mỉm cười, vậy tại sao chúng ta phải lo?

Hiện tại, Học viện sử dụng hội trường vừa như là chánh điện, vừa là giảng đường và vừa là trai đường. Nên tôi hạ quyết tâm xây dựng một ngôi chùa ở trước tòa Hành chánh của Học viện. Từ khi khởi công đến hôm nay, công trình đã sử dụng trên 70 tỷ đồng. Niềm an vui mà tôi thấy được trong mùa An cư năm nay là chư Tăng cũng như chư Ni ngoài giờ học, đều ra phụ công trình. Ngày xưa, nơi đó là một đám cỏ dại hoang vu. Bây giờ, nhờ những đôi tay của Tăng Ni, nơi đó đang trở thành điện thờ Phật. Chính vì ở trong nhiều khó khăn nên chúng ta phát huy được nội lực, trước nhất đã xua đuổi tất cả trần lao nghiệp chướng và phiền não.

Chúng ta đều nghe nói về con siêu vi Sars-Cov-2 nhưng có ai thấy nó như thế nào không? Vi khuẩn, chúng ta đã không thấy được bằng mắt thường, vậy làm sao chúng ta thấy được siêu vi? Nhớ lại câu chúng ta đọc mỗi ngày: “Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng.” Trong một bát nước trong, với mắt Phật, Ngài nhìn thấy vô số vi trùng trong đó. Ngày xưa, chúng ta không thể tin được điều này, nhưng ngày nay, chúng ta biết được vi trùng và siêu vi trùng. Chúng quá nhỏ nên chúng ta không thấy được bằng mắt, nhưng nếu ta có chánh niệm và chánh định, tuệ sanh ra, bằng mắt tuệ tri, chúng ta sẽ thấy được. Tôi cảm giác không chỉ có siêu vi Sars-Cov-2 làm cho cả thế giới khủng hoảng mà còn nhiều loại siêu vi khác nữa đang sắp hàng tiếp tục chuẩn bị tiến lên. Những tập thể siêu vi này từ đâu ra? Nó phát xuất từ tâm tưởng của con người, từ vọng niệm, từ tham sân si của con người. Cho nên, xã hội ngày nay cần có một tuệ giác để nhận ra và khắc phục. Sự nhận biết này được truy nguyên từ sự tu tập của chúng ta.

Mùa An cư thứ nhất của Học viện, tất cả Tăng Ni khóa 11 đều bất an, cộng thêm trụ xứ bất an. Lúc mới xây dựng, nơi đây thiếu thốn đủ thứ, nước không sạch, đầy mũi, rắn, rích,… và loài kiến ba khoang tấn công. Chúng ta đều thấy những loài này bằng mắt nhưng siêu vi thì không. Và chính nó đã làm cho tất cả Tăng Ni chúng ta mất chánh niệm, đó gọi là cuồng tâm, là vọng tưởng điên đảo. Cuồng tâm và vọng tưởng điên đảo tác động vào cuộc sống Tăng Ni, làm cho bất an thêm. Siêu vi này là chất độc tinh thần của những người mất chánh niệm, chánh định.

Khi gặp khó khăn, cố gắng giữ chánh niệm để tìm xem nguyên nhân từ đâu và nên khắc phục, trị liệu bằng cách nào. Cho nên, điều quan trọng nhất chính là giữ chánh niệm, từ trường của chánh niệm sẽ tỏa ra bên ngoài, tạo thành sức sống. Mùa an cư năm nay, cây cỏ xung quanh xanh tươi, kiến ba khoang, rắn, rích cũng di tản nơi khác. Từ trường của chúng ra tỏa ra làm cây cỏ tươi mát, cảnh vật xung quanh vươn lên sức sống. Thân tâm chúng ta an lạc, Phật tử đến viếng thăm, chiêm bái cúng dường cũng cảm thấy hoan hỷ. Nếu đến đây bất an, chắc chắn họ không đến nữa. Nhờ họ đến đây cúng dường chiêm bái và nhận ra sự an lạc, do đó sức khỏe, cuộc sống cũng như công việc của họ gặp nhiều thuận duyên hơn.

Khi khởi công xây dựng chánh điện, chúng ta bị bế tắc về tài chánh, nhưng trong lòng tôi có một niềm tin rằng Phật hộ niệm, nên tôi tiếp tục chỉ đạo công tác không được dừng. Một điều bất ngờ khi tôi đi Hà Nội để thăm Hòa thượng Phó Pháp chủ, tôi gặp một Đại thí chủ hỏi: “Hòa thượng xây chùa đến đâu rồi ạ?” Tôi nói tình hình và nữ thí chủ đó nói: “Hòa thượng yên tâm, con sẽ tùy hỷ công đức với việc xây dựng của Hòa thượng.” Khi chưa nghe, tôi cảm thấy yên tâm, mà khi nghe rồi, tôi cũng cảm thấy yên tâm. Khi nghe người ta mắng mình, mình thấy bất an, trong khi nghe người ta đến cúng cho mình thì mình thấy an. Như vậy là mất chánh niệm. Hai chỗ này đều bị đọa, nên phải giữ chánh niệm. Khi mình giữ chánh niệm, thí chủ nhìn thấy mới có sự kính trọng, tin tưởng và muốn giúp đỡ mình. Nếu mình khởi lên tâm an vui, mình sẽ bị lệ thuộc vào cái này ngay và khi lệ thuộc, nó có những thay đổi về sau. Người tu mà mất chánh niệm xem như chỉ là cái xác không hồn. Cái hồn của một người tu chính là chánh niệm. Chỉ cần khởi niệm lên, xem như mất chánh niệm.

Mùa an cư năm nay, hoàn cảnh chúng ta rất khó, nhưng nhờ đó mà Ban Quản viện hạn chế tối đa, “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Cho nên, chúng ta không còn cách nào khác ngoài việc tu tập, do đó ta có chánh niệm. Do ta có chánh niệm, nên cảnh vật trở nên dần trang nghiêm và thanh tịnh, sức sống của nội lực tỏa ra chung quanh, có sức thu hút mọi người đến đây. Vì nhờ từ trường của chúng ta lan ra xa. Nếu mấy thầy giữ chánh niệm rộng một chút, nó ra khỏi TP. Hồ Chí Minh đến các tỉnh, rộng chút nữa sẽ đi đến các nước trên thế giới, họ nghĩ đến ta và tới với ta. Họ nghĩ tới ta tức là tiếp được từ trường của ta, họ cảm thấy an lành nên họ đến với ta. Chúng ta tiếp tục tu học hơn nữa, cho đến khi từ trường của ta tới được các thế giới của chư Phật trong mười phương, chúng ta lại nhận được sự gia bị của Phật, Bồ tát. Khi đó, không có khó khăn nào có thể ngăn chúng ta trên bước đường hành đạo. Như vậy, mong chư Tôn đức Tăng Ni rút kinh nghiệm trong mùa An cư tu học năm nay, vượt qua mọi khó khăn, qua một giai đoạn mới, chúng ta sẽ làm được nhiều việc hơn.


Trước mắt, chúng ta cố gắng chặn đứng Sars-Cov-2. Nếu các loài siêu vi khác sanh ra, nhờ từ trường của chánh niệm, chánh định của chúng ta mà chúng không thể phát sanh được. Cuồng tâm, vọng tâm chính là thức ăn hấp dẫn của siêu vi. Người hay buồn giận, lo sợ là món mồi ngon cho các siêu vi tấn công. Sợ bệnh thì bệnh, sợ chết thì chết. Còn mấy thầy giữ chánh niệm, chánh định cho đến khi nào đến giờ chết thì biết mình chết, vẫn giữ chánh niệm về Phật. Đây là những kinh nghiệm tu mà những người đi trước tôi đã nhìn thấy và học được và muốn chia sẻ cho các huynh đệ là những người tiếp bước con đường của Đức Phật, cầu Đức Phật luôn gia hộ cho tất cả các huynh đệ luôn an lành trong Chánh pháp.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật chứng minh.

HT. Thích Trí Quảng