Tâm sự đại khánh

192

  Tôi không nhớ rõ là đã vào ngôi chùa Phật giáo vào năm nào, hình như là lúc Mã Tổ1 khai sáng Tòng Lâm, sau khi Tổ Bách Trượng thành lập thanh quy, trong chốn Tòng Lâm, tôi đã có một địa vị rất cao. Tôi vốn bằng đồng thuộc kim loại đúc thành, có phân biệt giữa Đại khánh và Dẫn khánh. Trong các pháp khí của tự viện Phật giáo, tôi là đại vương của kiền chùy. Tất cả các thời tụng kinh trầm bổng, tốc độ lên xuống, nhanh chậm, chuyển biến, hòa hợp, đều phải lắng nghe mệnh lệnh của tôi. Sống trong đại điện nguy nga đường bệ của Phật giáo, đứng trước tất cả kiền chùy, tôi muôn phần vinh hạnh, cảm thấy cuộc sống này không lãng phí.

Sau một tiếng “keng” của tôi vang lên, tất cả âm thanh của các pháp khí khác sẽ hưởng ứng với tôi, hai tiếng “keng, keng” liên tiếp của tôi, thì âm thanh các pháp khí sẽ dừng lại với tôi; tôi giống như quân hiệu (kèn lệnh) trong hàng triệu quân lính, khi tiến, khi thối, đều phải nghe theo sự chỉ huy của tôi. Âm thanh vang dội của tôi khi phát ra rất uy vũ, không thể sơ suất một chút nào, nếu như hiệu lệnh quân đội không đúng, thì hàng triệu binh sĩ sẽ ngay lập tức cảm thấy lúng túng không biết theo ai; tôi vừa sai một tí, đại chúng đồng tu sẽ so le trước sau không đồng đều, do đó có thể biết trách nhiệm của tôi rất nặng nề.

Tôi không giống các anh em kiền chùy khác, bất cứ người nào đều có thể gõ đánh họ, riêng tôi người đánh tôi, phải có những quy tắc nhất định. Chức vụ người này gọi là “Duy na”2, là một chức sự cương lĩnh trong tự viện. Thầy không chỉ thuộc lòng các quy củ trong Phật môn, mà còn có âm thanh vòm họng rất tốt, tư cách thâm niên; giống như vai trò tấm biển treo trên sân khấu, tất cả tiết mục đều phải dựa vào sự sắp xếp của nó. Khi thầy đánh tôi, không thể có một chút buông lung, một chút sai lầm nào. Bên cạnh chỗ ngồi thiền của thầy, có một tấm bảng gỗ nhỏ, phía trên viết một dòng chữ li ti, luôn luôn cảnh giới thầy: “Tuệ mạng đại chúng, mỗi người nơi ngươi, nếu ngươi xem thường, tội về thân ngươi” (大众慧命, 在汝一人, 汝若不顾, 罪归汝身). Điều này giải thích rõ là muốn đánh, muốn gõ tôi không phải là một việc dễ dàng, đạo nghiệp tuệ mạng của toàn thể đại chúng trong tự viện, đều dựa vào tôi để lãnh đạo họ. Nếu qua loa không đúng như pháp, hoặc nhanh hay chậm, thầy lẫn đệ tử đều phát sinh phiền não, đây là cái tội mà không ai có thể gánh vác nổi. Bởi vì trách nhiệm của thầy Duy na và tôi rất trọng đại, thân phận địa vị của thầy cũng rất cao. Dưới hàng trăm con mắt cùng dõi nhìn, có một số người rất hâm mộ thầy, không tránh khỏi cũng có người nói thầy “tự mãn”. Một số chư Tăng vô kỷ luật cho rằng có thể đánh được tôi là rất vinh hạnh, vì vậy tôi đã trở thành đối tượng muốn tranh giành, những Sư phụ có khả năng lãnh đạo đúng đắn đã nhượng bộ, và do đó tôi thường được các Sư phụ chiếm lĩnh trong những buổi đại lễ quan trọng.

Như trên đã nói, tôi vốn là một chủ nhân trong các loại kiền chùy, bình thường người khác không thể tùy tiện gõ tôi một cách loạn xạ, nhưng có một số bà lão đến thắp hương, nói cái gì là: “… thắp hương không đánh khánh, Bồ tát sẽ không tin… ”, không cần biết đúng sai, họ bất chấp tất cả cứ đến gần bên cạnh tôi, rồi đánh keng, keng, keng, keng vào tôi một hồi thật là mất trật tự, làm cho Điện chủ sư3 – người chăm sóc tôi cũng không biết làm như thế nào. Tôi vừa thầm tức cười, vừa bực bội, bực cho mấy bà già hồ đồ, cười cho mấy bà già mê muội, đốt hương cốt ở sự kiền thành, Bồ tát đâu bảo mấy bà phải gõ khánh?

Trong những năm thái bình, những ngày tôi sống rất ổn định; điều không may là sau mỗi lần chiến tranh loạn lạc, tôi lại phải một lần gánh chịu thảm họa lớn. Thời kỳ giáo nạn “Tam võ nhất tông”4 trên lịch sử Phật giáo, tông thứ nhất là Châu Thế Tông (周世宗 954 – 959) thời Ngũ Đại cuối đời Đường, ông thấy tôi, “thân bằng đồng rất quý”, Cho nên, ra mệnh lệnh cho thiên hạ, cưỡng đoạt tôi cùng toàn thể đồng loại đưa vào quốc khố, đúc “tiền đồng” để tiện sử dụng. Tôi biết được tin này, hoảng loạn không an, luôn cho rằng thôi kể từ đây xem như kết thúc rồi. Nhưng có lẽ tội ác tày trời của Châu Thế Tông, trái lại ông ta không hủy diệt được tôi, mà chỉ làm Hoàng đế một vài năm thì bị đánh bại và mất nước rồi mất luôn cả mạng! Tôi lại bình an như thường.

Thời gian trôi qua nhanh chóng, mãi đến khi biến cố Thất Thất Lư Câu Kiều5 bắt đầu xảy ra, quân phiệt Nhật Bản xâm chiếm Trung Quốc, nhiều Sư phụ không cam chịu sự áp bức của Nhật Bản, mang cổ vật quý giá của Phật giáo theo Chính phủ rút lui về Đại hậu phương (大后方: Thuật ngữ quân sự), bởi vì tôi không đáng bao nhiêu tiền, mà thân thể lại thô nặng, nên ở lại trong khu vực bị chiếm đóng, phải chịu thảm họa một lần nữa. Vì Trung Quốc bị Nhật Bản áp bức tám năm, súng và đạn của họ đã trở thành vấn đề, ánh mắt cùng hung cực ác của họ đã chú ý đến tôi, cho rằng thân thể bằng đồng của tôi có thể chuyển đổi thành súng đạn, họ buộc các nhà sư trong khu vực bị chiếm đóng đem tôi hiến tặng cho họ. Tôi nghe việc này, dường như đất bằng nổi sóng, luôn cho rằng từ đây kể như xong đời, cứ để cho thần vận mệnh của tôi sắp xếp. May mắn thay, các Sư phụ trong chùa không nhẫn tâm nhìn tôi bị diệt vong, nhanh chóng đưa ra phương pháp khéo léo, giấu tôi trong xó nhà tối tăm, đánh lừa tai mắt của binh lính Nhật Bản, nói rằng trong chùa này từ trước đến nay không có “Đại khánh” gì cả, nếu không tin, các Sư phụ có thể dẫn họ đi khắp mọi nơi tìm kiếm. Những người lính Nhật Bản không tìm thấy nơi tôi ẩn trốn, vì vậy cũng đành phải thôi. Tôi ở chỗ tối tăm chờ đợi ánh sáng, chờ đợi chiến thắng, chờ đợi một người nào đó đến cứu tôi, và thời gian chờ đợi kéo dài cho đến tám năm. Tiếng kèn thắng lợi của Tổ quốc cuối cùng đã thổi lên, tôi lại diệu võ dương oai đứng ở giữa Đại hùng Bảo điện. Kể từ đó, tôi đã trở nên can đảm, và tôi đã có một kết luận: Bất cứ ai muốn tiêu diệt tôi cuối cùng là tự mình diệt vong mà thôi! Tôi vốn là Pháp khí thanh tịnh, là công cụ sử dụng cho đạo nghiệp, là “tai mắt của Long Thiên”, bọn phàm phu đó làm sao có thể hủy diệt được tôi chứ?

Thật không may, thảm họa bất hạnh xảy ra hết lần này đến lần khác, cuộc chiến loạn tại Trung Quốc đại lục đến bất cứ lúc nào, Phật giáo lại gặp phải vấn đề nguy nan chưa từng có, tôi cảm thấy không còn chỗ dung thân. Vì sợ hãi những ngày đen tối của tám năm qua, tôi không thể không vượt biển và trôi dạt đến Đài Loan, sống một cuộc đời rày đây mai đó. Hòa cùng rất nhiều người trôi nổi như tôi, tôi cũng không tránh khỏi cảm xúc, suy nghĩ đến thời hoàng kim của tôi giờ đây đã trở thành quá khứ.

Bây giờ, tôi không còn được tôn nghiêm nữa, ở Đại lục ngoài mấy bà lão không hiểu biết khi thắp hương gõ tôi, thì duy nhất chỉ có sư Duy na mà thôi, sư Duy na đánh tôi rất có kinh nghiệm, nhất định phải ở trên “bảng”, nhất định phải nằm trong “mắt”. Bây giờ, Trương cũng có thể đánh tôi, Lý cũng có thể đánh tôi; Tăng Ni xuất gia có thể đánh tôi, mà cả nam nữ tại gia cũng có thể đánh tôi; người hiểu biết cũng đánh, người không biết cũng đánh, thật là lộn xộn hỗn loạn, khi to, khi nhỏ! Người mới học mỗi khi đánh tôi, đều sai một vài tiếng, mỗi lần đánh sai, các thầy và đại chúng đều sẽ ném cái nhìn khó chịu về họ. Tôi biết tâm họ bị động, tu hành là phải ngăn chặn vọng niệm, tâm động thì làm thế nào để tu hành?

Ở Đại lục, trong tất cả thời tụng kinh đều do Sư Duy na đánh tôi. Bây giờ, ở đây đôi khi Sư Duy na không tự chủ, vừa đánh một tiếng, người được gọi là “chủ lễ” đứng ngay giữa, từ khoang miệng khởi xướng lên giọng điệu ngân nga, đợi đến khi sư Duy na biết thầy chủ lễ xướng tụng đến chỗ đó, thì đã có mấy lần phân tâm đánh tôi sai nhịp. Hiện tượng không đúng pháp như thế, bảo tôi phải nói cái gì là tốt đây?


Điều càng đau lòng là các vị Trụ trì thường mang tôi đi tụng kinh sám6, dựa theo nghi thức quy củ của Phật giáo để làm cũng tốt thôi, đâu biết rằng đôi khi kinh văn mà tôi nghe được họ tụng là: “Chí tâm tín lễ Bắc Đẩu Đại Thiên Tôn” (至心信禮北斗大天尊), còn bài vị để cúng là “Thánh Đức Cự Quang Thiên Hậu Vương Mẫu” (聖德巨光天后王母). Hiện nay, tôi xuất đầu lộ diện trình bày cái kém cỏi vụng về ra ngoài, và kết làm bạn lữ với một số kinh văn ngoại đạo, sau này không còn mặt mũi nào trở về Đại lục để nhìn “các trưởng bối anh em của mình ở Giang Đông” nữa? Trông mong các Đại đức Phật giáo, xin các vị đừng dùng đôi mắt thương hại nhìn tôi bị trầm luân, mà hãy vì tôi lựa chọn cho tôi một tương lai tốt đẹp nhé!

Đại Sư Tinh Vân – Thanh Như dịch



  1. Mã Tổ (馬祖禪師 709 – 788 có thuyết là 688 – 763) khai sáng Tòng Lâm, Bách Trượng (百丈禪師 720 có thuyết 749 – 814) lập thanh quy (马祖创丛林,百丈立清规): Cùng xây dựng ngôi tự viện lớn, bắt đầu là Thiền sư Đạo Nhất – Giang Tây đời Đường, Sư họ Mã, nên thời đó được gọi là Mã Tổ. Quy củ trong tự viện, do Thiền sư Hoài Hải đời Đường lập ra, vì Thiền sư ở núi Bách Trượng, nên gọi là Thiền Sư bách Trượng.
  2. Duy na (維那): Cương lĩnh trong tự viện Tòng lâm thời cổ đại. Có trách nhiệm quản lý quan trọng
  3. Điện chủ sư (殿主師): Người quản lý việc đèn hương trong điện Phật.
  4. Tam Võ Nhất Tông (三武一宗): Tam Võ: Vua Thái Võ nhà Ngụy, Võ Đế nhà Châu, Võ Tông nhà Đường. Nhất Tông: Châu Thế Tông. Đây là những ông vua phá hoại Phật pháp.
  5. Thất Thất Lư Câu Kiều (七七蘆溝橋): Vào đêm 07/7/1937, khi quân đội diễn tập thì ba mặt Đông, Nam, Bắc tại Lư Câu Kiều Bắc Bình đã bị quân Nhật Bản không chế.
  6. Kinh sám (經懺): Kinh văn và văn sám hối. Làm Phật sự để cầu phước hoặc siêu độ cô hồn, ngạ quỷ.