[:vi]Tâm sự Đại Chung[:]

132

[:vi]HĐ  Tên của tôi là “Chung” (鐘), từ xưa đến nay tôi luôn được treo trên một góc cao ráo thanh tịnh bên trong đại điện của chùa. Vài ngày trước, có một Sư phụ cầm tập san USA Today (今日美國畫刊) và đọc nó bên cạnh tôi, đúng lúc trên đó cũng có một cái chuông lớn, tôi trông thấy rất hân hoan thích thú. Bởi vì trong mỗi ngôi tự viện chỉ có một cái chuông, cho nên, tôi đã sống qua những ngày cô đơn tĩnh mịch, một khi bạn tôi xuất hiện trước mắt tôi, làm sao mà không hạnh phúc chứ? Vì thế, tôi nhìn nó rất thân thiết, úi chà! Hóa ra nó còn là “một cái chuông tự do của Hoa Kỳ” (自由之鐘) đấy ạ!

Vào ngày 04/7/1776, ngày Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đạt được thắng lợi trong cuộc chiến giành độc lập, cái chuông lớn này đã dùng âm thanh vang vọng để “phát đi Tuyên ngôn Độc lập Tự do bất hủ cho thế giới và nhân dân”. Sau đó, vào năm 1835, nó đã bị đánh nứt trong tang lễ của Viện trưởng Mã Hy Nhĩ (马希尔 Maher) – Pháp viện Tối cao đầu tiên của Hoa Kỳ, đến nay nó vẫn mang vết sẹo vinh quang này, và được treo dưới cầu thang trong Hội trường Độc lập Phí Thành (费城: Philadelphia) để mọi người chiêm ngưỡng. Chúng tôi đều là cái chuông tự do, không ngờ đối với thân thế của mình cũng phát sinh niềm cảm khái vô hạn!

Tôi là “Đại Chung” (大鐘) trong những ngôi chùa Phật giáo thanh tịnh, tôi cùng với các huynh đệ kiền chùy1 khác không giống nhau, thân thể của tôi rất to lớn, không thể di chuyển một cách tùy tiện. Nhưng âm thanh của tôi không gì có thể làm chướng ngại, tôi có thể vượt qua rèm cửa, mái nhà, những ngọn đồi, bay bổng tự do trong hư không, vì vậy mọi người đã khen tôi là một “biểu tượng của tự do”. Bình thường tôi không lãng phí giọng nói của mình một cách dễ dàng. Buổi tối hoặc giữa đêm khuya, lúc ai nấy yên tĩnh mới có người đến gõ tôi; buổi sáng trước bình minh, từ xưa đến nay tôi chưa làm lỡ việc, nhất định phát ra âm thanh. Khi bóng tối tràn về, âm thanh của tôi hoàn toàn truyền ra bên ngoài, hằng đêm tôi vang lên, được gọi là “Khai đại cấm”2, trong âm thanh của tôi sẽ có vô số người được nghỉ ngơi; Khi vầng kim ô sắp xuất hiện, tôi lại đánh thức mọi người chờ đợi bình minh. Tôi là “đài phát tín hiệu” ngủ và thức trong tự viện, đôi khi vào ban ngày, nếu có những việc quan trọng để tập hợp đại chúng, mọi người cũng phải nghe thông báo của tôi. Trách nhiệm của tôi vinh quang và trọng đại biết bao!

Tôi có một người bạn thân tốt nhất và duy nhất là Đồng tham lão Đầu Đà3, mỗi ngày sáng hay tối ông đều gõ tôi, miệng xướng to lên bài kệ chuông4. Tiếng tôi vang dội, tiếp theo mỗi một câu gióng một tiếng, giọng ngâm của ông, nghe uyển chuyển mà nhẹ nhàng, bi thương nhưng hùng tráng. Trong âm thanh của ông và tôi mọi người nghe đến đều ngây ngất say sưa, tự nhiên sẽ gọi bạn dừng tất cả các ý niệm ham muốn vật chất của trần tục, khiến cho thân bạn dường như đang ở trong một cảnh giới ung dung thư thái. Kệ mà lão Đầu Đà xướng tụng:

Tiếng chuông vừa gióng lên, hô vang bài kệ báu, trên thông cả thiên đường, dưới suốt đến địa phủ. Can qua chấm dứt, ngựa thôi chiến chinh, thắng bại mất còn, đều sanh Tịnh độ. Trong ba cõi bốn loài, đều tránh khỏi luân hồi; trong mười loài chín cõi, đều xa lìa biển khổ…

Từ trong tiếng kệ ngân vang ấy, chúng ta biết lòng bi mẫn của lão Đầu Đà thật to lớn biết dường nào! Ngoài lão Đầu Đà là bạn tốt của tôi, còn rất nhiều nhà thơ cũng thường hay ca tụng tôi. Như Trương Kế (張繼) – Thi nhân thời nhà Đường có một bài thơ nổi tiếng:

月落烏啼霜滿天
江楓漁火對愁眠
姑蘇城外寒山寺
夜半鐘聲到客船.

Phiên âm:

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thinh đáo khách thuyền.

Nghĩa:

Quạ kêu, trăng lặn, trời sương
Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
                                                                                         (Nguyễn Hàm Ninh dịch)

Đúng vậy, âm thanh của tôi nửa đêm rót vào tai mọi người, dù họ cách xa tôi một vài dặm cũng đều nghe được tiếng tôi, đặc biệt là những người phiêu bạt ly hương, tôi có thể làm xúc động trái tim trống rỗng trên con đường lữ hành của họ, âm thanh của tôi sẽ tăng gấp đôi làm cho họ cảm nhận được tình hình nóng lạnh đổi thay của nhân tình thế thái, và cuộc thăng trầm xưa nay. Nhưng tôi cũng sẽ dùng giai điệu ngân vang, để đánh thức những lữ khách đang sống trong giấc mơ tươi đẹp huyễn ảo, để khích lệ nhiều thanh niên, dạy cho họ quên đi sự rong ruổi lao nhọc vất vả, quên đi cái khắc bạc vô tình của người đời, lại lần nữa khơi dậy sức sống của tuổi trẻ, cổ vũ lại dũng khí của tuổi trẻ để đi về cuối chân trời gian nguy hiểm trở, tiếp tục hướng về phía trước!

Bạn không tin điều đó sao? Các Sư phụ tu hành trong tự viện không phải là tôi đã đánh thức họ từ trong giấc mơ đẹp, bằng cách gọi họ nhanh chóng tu trì để thoát khỏi biển khổ của sinh tử? Dân chúng quanh chùa không phải một khi nghe thấy âm thanh ngân vang của tôi họ liền thức giấc và tranh thủ lo cho cuộc hành trình trong đời sống của họ? Khi âm thanh của tôi bay ra từ cửa sổ, cho dù núi cao, đồng nội, ruộng nương, thành phố, làng mạc, đều có tôi – âm thanh vang vọng sẽ len lỏi vào những nơi đó để cảnh báo họ, ngăn cản họ, thức tỉnh họ, để họ đừng băn khoăn do dự chần chừ, vĩnh viễn phải lắng nghe âm thanh của tôi để đề cao cảnh giác trong khi đang ngụp lặn trong bóng tối mênh mông!
Tôi nhớ một lần, có vị khách hiền lành đến chùa tham bái, khi đi ngang qua tôi, ông nói với tôi: “Chuông ạ! Tôi thích nghe âm thanh trầm hùng ngân dài du dương của bạn lắm, mỗi lần nghe tiếng bạn vang lên, giống như lời kêu gọi quen thuộc. Âm thanh của bạn dường như vọng về từ cõi Phật, nhưng tại sao bạn không thử đánh thức những con người mê muội đang say mê chốn phồn hoa xa xỉ trong xã hội?”

Tôi còn nhớ có lần khác, một Sư phụ trẻ tuổi đi ngang qua tôi, mang tâm trạng không thể nói được với mọi người nhưng lại nói với tôi: “Chuông ơi! Tôi luôn có một sự hảo cảm không cách nào diễn tả với bạn, bởi vì giai điệu của bạn thay cho nốt nhạc từ từ hòa hoãn, không biết đã thức tỉnh bao nhiêu người ngu ngốc luôn theo đuổi nhu cầu của “cuộc sống”. Nhưng Phật giáo suy thoái như vậy, tín đồ Phật giáo dường như đều ngủ mê mệt trong giấc mộng mơ hồ, tại sao bạn không thức tỉnh họ một tí? Kêu gọi họ hãy nhìn con đường thênh thang của Phật giáo mới xuất hiện phía trước mà tiến bước một cách mạnh mẽ”!

Không biết có bao nhiêu người đã cầu nguyện bên cạnh tôi, không biết có bao nhiêu người bồi hồi trong âm thanh của tôi, mọi người đều hy vọng âm thanh của tôi to hơn, vang dội hơn và cao vút tận mây xanh – không, phải vang thật to để xuyên qua màng nhĩ của những người đang sống say chết mộng!

Tôi không muốn im lặng, tôi phải vang to vĩnh viễn, nhưng đôi khi cũng phải để người lợi dụng tôi. Tôi nhớ một lần có một nhân vật lớn có tiền đến chùa du ngoạn, lúc ông ta bước vào, Hòa thượng Trụ trì5 dạy lão Đầu Đà gõ tôi, dùng âm thanh của tôi để đại diện thay cho Sư Trụ trì đón tiếp và tiễn chân ông nhà giàu có tiền này. Lúc tiếng boong boong của tôi vang lên, một Sư phụ được gọi là “Tân Tăng” nghe thấy liền đi đến, nét mặt lạnh như tiền hậm hực nói với tôi: “Ngươi là cái chuông đua đòi quyền thế lợi lộc! Ngươi đã quên đi nhiệm vụ vinh quang của mình rồi ư, ngươi đã bỏ qua trách nhiệm lớn lao của mình rồi ư! Nhiệm vụ của ngươi là đánh thức mọi người đang si mê lầm lạc, trách nhiệm của ngươi là kêu gọi những người xuất gia đang ngủ say trong giấc mộng, ai kêu ngươi nịnh nọt tâng bốc những người có tiền? Chuông ơi! Chuông thế lực ơi! Ngươi đã quên đi sự thanh cao của ngươi rồi đấy!”

Lời của vị “Tân Tăng”6 đó thật không sai chút nào, tôi có một nhiệm vụ thiêng liêng và thuần khiết, tôi nên hy vọng các Sư Trụ trì trong trường thế lực đừng khiến tôi phải tham gia chen chân vào lĩnh vực này. Tôi muốn dùng âm thanh của tôi khiến người dũng cảm khi lắng nghe càng thêm dũng cảm, khiến người ý chí sa sút khi nghe tôi ý chí không còn sa sút nữa.

“Boong! Boong! Boong! Boong!”

Hãy lắng nghe nhé! Giọng của tôi vang lên rồi! Tôi sẽ dùng âm thanh rỗng rang để ca hát:
Tôi là một cái chuông lớn, luôn luôn được treo cao trong các ngôi chùa Phật giáo. Tôi phải dùng âm thanh vang dội, để thức tỉnh chúng sanh trong cõi trần mê muội. Khiến cho mọi người vì mình, cũng như vì những người khác. Hãy dựng lên ngọn cờ hưng thạnh của Phật giáo, để tự do tung bay trong hư không!

Đại Sư Tinh Vân
Thanh Như dịch


  1. Kiền Chùy (犍椎): Dịch từ tiếng Phạn, nghĩa là Thinh Minh, là Pháp khí được người xuất gia đánh lên khi tụng kinh, hoặc để làm tín hiệu như mõ, chuông, khánh, bảng… Trong Đại Đường Tây Vức Ký của Ngài Huyền Trang đời Đường: “Mây đen (trong lòng) vừa khởi, gấp đánh kiền chùy, tôi nghe tiếng nó, tâm xấu dừng ngay (黑云若起,急击犍椎,我闻其声,恶心当息)…” Trong Thích Thị Yếu Lãm của Ngài Đạo Thành đời Tống: “Một khi khởi động chuông khánh, thạch bản, mộc bản, mộc ngư, châm chùy, Tăng chúng nghe thấy đều phải tập chúng.”
  2. Khai đại cấm (開大禁): Trong tự viện, hàng ngày vào ban đêm, gióng chuông đánh trống, là hiệu lịnh ngủ nghỉ, thông thường gọi là khai đại cấm.
  3. Đồng tham lão Đầu Đà (同參老頭陀): Đồng tham nghĩa là đồng học; Lão Đầu Đà chỉ cho vị Tăng khổ hạnh tuổi cao. Đầu Đà là một trong những loại khổ hạnh, trừ bỏ các loại trần cấu, trừ bỏ các loại tham trước về quần áo, thực phẩm, nhà ở,… để tu luyện thân tâm. Còn được gọi là Đầu Đà hạnh, Đầu Đà sự, Đầu Đà công đức.
  4. Chung thinh kệ (鐘聲偈): Kệ là một loại ca từ đẹp. Chung thinh kệ là người đã xướng lên khi gióng chuông.
  5. Hòa thượng Trụ trì (住持和尚): vị Tăng quản lý tự viện có địa vị cao nhất, chấp chưởng việc tu trì (giáo dục), tự vụ (hành chánh), giới luật và thanh quy (pháp luật), hoằng pháp (tuyên truyền giáo nghĩa Phật giáo), và các vấn đề kinh tế tài chính trong tự viện, tương đương với người đứng đầu Chính phủ và lãnh tụ xã hội.
  6. Tân Tăng (新僧): Thái Hư Đại sư chủ trương cải cách Phật giáo Trung Quốc, môn hạ của Ngài và một số vị Tăng trẻ Phật giáo Trung Quốc đang tham gia cải cách.

[:]