Tâm Kinh trí tuệ cứu cánh rộng lớn

64
tác giả bài viết (người cầm mic)

Trong cuộc sống, sáng tối ẩn hiện, chợt có lại chợt mất, lắm lúc trong ta thật thánh thiện, tịnh thanh, nhưng không thiếu những khi thú cuồng ngông dại, lên xuống trầm bổng, trâu tâm lúc ngoan hiền lắm đỗi, khi bức cương xông vào lúa mạ nhà người. Thấy rõ được chính mình trong mỗi chúng ta, ai cũng có cơ hội quay đầu phản chiếu, soi xét, kéo cương, lôi chú trâu đen dại, hoang tàn nhiều năm tháng trở về với quê hương hà hữu (đích thực, không nơi chốn). Biết rõ chính mình cũng đồng nghĩa ta biết được tâm. Rõ thật, tâm là đầu mối của muôn pháp, nên trong Kinh Pháp Cú đức Phật đã dạy:

Trong các pháp do tâm làm chủ

Tâm dẫn đầu tạo đủ các duyên

Tâm nhơ tạo nghiệp chẳng hiền

Như xe lăn bánh khổ liền theo sau.

*

Trong các pháp do tâm làm chủ

Tâm dẫn đầu tạo đủ các duyên

Tâm thanh tạo nghiệp tốt hiền

Như hình dọi bóng vui liền theo sau…

Để hiểu rõ hơn nhiều khía cạnh góc nhìn về tâm, ta cùng nhau chia sẽ về bài tụng mà mỗi đêm trong Thiền viện hoặc tất cả các thời khóa không bao giờ thiếu, đó là bản: “TÂM KINH TRÍ TUỆ CỨU CÁNH RỘNG LỚN” (MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH 摩訶般若波羅蜜多心經). Vậy chúng ta hiểu gì về tựa của bài kinh này?

“Ma ha” nghĩa là rộng lớn, trùm khắp, không có tướng trạng vuông tròn, lớn nhỏ, rỗng rang như hư không bao la không bờ mé.

“Bát nhã” là trí tuệ nơi mỗi người. Có ba góc nhìn về Bát nhã:

+ Văn tự Bát nhã: Là kinh văn, chữ nghĩa.

+ Quán chiếu Bát nhã: Khi hành trì ta quán chiếu áp dụng trí tuệ này, vào cuộc sống.

+ Thật tướng Bát nhã: Chúng ta nhận và sống được với bản tánh thanh tịnh, trí tuệ vô sư nơi mình.

Khi nói đến trí tuệ ta có thể hiểu theo hai phương diện:

  • Hữu sư trí: là trí tuệ do được thầy, cô truyền trao kiến thức mà ta có được.
  • Vô sư trí: là trí tuệ không do thầy dạy, chỉ cho bản thể thanh tịnh, sáng suốt rõ ràng thường biết, nơi mỗi người.

“Ba-la-mật-đa” là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là: “đáo bỉ ngạn” hay nói cách khác là đến bờ kia (bờ giác ngộ giải thoát) là tột cùng, là rốt ráo…

“Tâm Kinh” nghĩa là: kinh lòng, kinh chỉ về bản tâm thanh tịnh. Riêng với bài kinh Bát nhã này ý nói đến Chơn tâm.

Khi nhắc đến tâm, chúng ta cũng nhìn nhận theo hai phương diện:

  • Vọng tâm: Là tâm duyên theo trần cảnh, liền khởi phân biệt, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, sanh ngay sáu thức phân biệt.
  • Chơn tâm: Là tánh biết nơi mỗi người, hằng thanh tịnh sáng suốt, tánh biết ban sơ, chưa qua ý thức phân biệt.

Tóm lại: toàn bộ Tựa không ngoài ý: “Bài Kinh nói về bản tâm thanh tịnh, đó cũng là trí tuệ vô sư nơi mỗi người, trí tuệ này rộng lớn vô cùng là trí tuệ giác ngộ rốt ráo”

  Giờ đây chúng ta cùng nhau tìm hiểu nội dung xem kinh dạy gì mà siêu việt đến vậy?

觀自在菩薩,行深般若波羅蜜多時,照見五蘊皆空,度一切苦厄.

“Quán-Tự-Tại Bồ-Tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách .

“Khi Bồ Tát Quán Tự Tại, hành sâu Bát nhã Ba-la-mật-đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không liền qua hết thảy khổ ách”

Mở đầu bài “Tâm Kinh” dùng hóa thân của Bồ Tát Quan Thế Âm đó là “Bồ Tát Quán Tự Tại”. Trong sơ đẳng Phật Học Giáo Khoa Thư chúng ta đã biết ngài Quan Thế Âm về tâm lực và hạnh nguyện, khi nghe tiếng kêu than của người đời mà phản quan trở về tự tánh tu tập sáu căn viên dung, hỗ tương lẫn nhau. Khi Bồ Tát Quan Âm nghe tiếng kêu khổ của thế gian ngài liền đến cứu, chúng ta có thể hiểu gì qua ý này? Có phải quá thần kỳ chăng? Thực hư thế nào? Không theo tướng để suy diễn: Có một vị Bồ Tát ở phương nào đó bay đến cứu, khi chúng ta tâm thành niệm đến danh hiệu của Ngài. Nên hiểu thêm một tầng nghĩa nữa, để trở về với Phật và Bồ Tát từ tự tâm đối với vấn đề này, lúc gặp bất kỳ việc chướng duyên nào, tâm tư ta sẽ bất an tán loạn, nhưng lúc đó tự thân nhớ đến danh hiệu của Phật, Bồ Tát bất kỳ, nhiếp tâm trì niệm thì cũng tương đương ta quy tâm về một mối, quên đi các sự sợ hãi lo lắng ở hiện tại, vọng tưởng tán loạn tan, sự an tịnh, định tĩnh của tâm hiện tiền… rồi mọi thứ cũng trôi qua… từ âm thanh sắc tướng bên ngoài, ta xoay trở về bên trong, khi đó cũng chính là trở về với tánh Phật nơi mình. Trong ta cũng có Bồ Tát Quan Âm khi ta biết, từ âm thanh sắc tướng của thế gian mà trở về tự tánh vì đó là sự tu tập của Ngài. Khi sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) sanh ra sáu thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức) chúng ta không chạy theo thức trần phân biệt mà ngừng ngay cái biết ban đầu, rõ ràng thường biết. Nhân nơi huyễn cảnh mà trở về chơn (phản vọng quy chơn) cũng là ý này. Khi ấy ta sống được với tánh Bát nhã trong mình.

Trở lại câu đầu của bài Bát nhã “Khi Bồ Tát Quán Tự Tại hành sâu Bát nhã Ba-la-mật-đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không liền qua hết thảy khổ ách” trên câu chữ chúng ta có thể hiểu khi Bồ Tát Quán Tự Tại hành sâu Bát nhã…

Chữ “hành sâu” là thực hành chuyên sâu, ngoài nghĩa Bồ Tát Quán Tự Tại thực hành chuyên sâu, sống với nơi trí tuệ rốt ráo rộng lớn tột cùng (Ma ha Bát Nha Ba-la-mật-đa) hay nói gọn hơn là trở về với bản thể thanh tịnh thì Ngài rõ thấy năm uẩn đều không.

Vậy năm uẩn là gì? là sự là tích tụ, cũng có thể gọi là năm ấm (sự ngăn che, chướng ngại chân tánh). Gồm có: sắc uẩn, thọ uẩn, hành uẩn, tưởng uẩn, thức uẩn.

+ Sắc uẩn: Là yếu tố vật chất có cả vật lý và sinh lý, có bốn yếu tố vật chất căn bản là Địa (chất rắn), Thủy (chất lỏng), Hỏa (nhiệt độ), Phong (chất khí). Các yếu tố do bốn đại tạo ra thuộc về sinh lý như: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân; các đối tượng của giác quan như: hình sắc, âm thanh, mùi vị…

+ Thọ uẩn: Toàn bộ cảm giác, cảm nhận sự thay đổi chung quanh.

+ Tưởng uẩn: Nhận biết sự khác biệt của mọi thứ theo vọng tưởng.

+ Hành uẩn: Là sự vận hành toan tính của tâm như dòng nước chảy, trước khi hành động, hành là đối tượng tạo nghiệp thiện hoặc ác gồm có (thân hành, khẩu hành và ý hành ).

+ Thức uẩn: Là sự nhận biết ý thức phân biệt mặc định, đen-trắng, cao-thấp, chua-ngọt. Thức là bước chuyển tiếp của tưởng và hành.

Khi Bồ Tát cũng chúng ta, dùng trí tuệ quán chiếu, lúc ấy chân thật nhận thấy năm uẩn vốn là không. Vì sao thấy có sắc tướng, có thân tứ đại hiện hành, có nhà cửa, đất đai, núi sông… mà bảo là không? Phải vô lý quá ư? Thật sự chúng có, nhưng là giả có, tạm có, có đó rồi mất đó… thử xem một cơn sóng thần đến thì còn lại gì nào? Do không bền chắc và không còn mãi, nên nói là “không” đã rõ biết chúng là huyễn, không thật có, nên không chấp kẹt vướng mắc nên nói “liền qua hết thảy khổ ách”. Có chấp thì có đau khổ, buông xả, rõ bản chất thật vốn huyễn, ngay nơi đó khổ nào vướng bận ta? Cũng đồng nghĩa liền qua hết thảy khổ ách, trong cảnh ấy, cũng trả nghiệp, nhưng đón nhận chúng bằng trái tim bình thản, tự tại. Điển hình: Khi ta bị mất tài sản, nếu biết quán chiếu và không chấp, biết nó giả có, nên mất mác là chuyện bình thường, một đời ta bao nhiêu đời nó? Phải chăng cũng trong khó khăn, nhưng có trí tuệ chiếu soi thì khổ tâm và thân liền được tiêu trừ hay sao?

舍利子!色不異空,空不異色,色即是空,空即是色,受想行識亦復如是.

“Xá-Lợi-Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không,không tức thị sắc. Thọ,Tưởng,Hành,Thức diệc phục như thị “.

 

“Này Xá Lợi Phất, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như thế”

Vì sao đức Thế Tôn nói với Xá Lợi Phất (trí tuệ bậc nhất trong hàng thập đại đệ tử của Phật) mà không phải là một người nào khác ví dụ như Châu Lợi Bà Đặc? Ở đây chúng ta thấy, phải có sự tương ưng, ngang tầm, mới có thể tin nhận. Như trong hội chúng đức Thế tôn nói kinh Pháp Hoa, biết bao thính chúng không tin nhận, đứng dậy bỏ ra ngoài chỉ còn lại những bậc hàng Bồ tát mới tin nhận nổi.

“Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc” câu này ta có thể nhìn nhận như thế nào?

*Tầng nghĩa về tướng, gần và dễ hiểu:

“Sắc chẳng khác không” Từ những vật chất hữu hình (sắc chất) có hình tướng cấu thành, rồi cũng bị thời gian và không gian chi phối bởi định luật vô thường, tất cả cũng về với cái không, cát bụi trả về với các bụi…

“Không chẳng khác sắc” khi sắc chất hiện hữu trong đó đã tồn tại cái không, vì nó không thực có, chỉ là giả có, tạm có, có rồi sẽ mất.

*Một tầng nghĩa vượt lên trên:

“Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc”

Từ sắc chất có hình tướng (điển hình là sắc thân của ta thì trong ấy luôn tồn tại tánh chân không) hay nói rõ hơn, tuy trong thân tứ đại này, sẽ bại hoại theo thời gian nhưng có tự tánh chân không luôn hiện hữu, không bị thời gian và không gian chi phối, đó chính là pháp thân của mỗi người, là trí tuệ vô sư hằng sáng suốt, hằng chiếu soi hay gọi là chân tâm, Phật tánh, bản thể tịnh minh… biết bao là danh từ để chỉ cho y. Nhưng cũng chỉ là danh từ, phương tiện mà tạm gọi, chứ không thực sự là đúng. Lục Tổ Huệ Năng đã dạy: “Như người uống nước nóng lạnh tự biết” tự ta nhận biết mà thôi, lúc này thì ngôn ngữ không còn có ý nghĩa nữa… hãy nhân nơi huyễn mà về chơn.

“sắc tức là không, không tức là sắc” Tự tánh chân không này cũng không ngoài sắc thân mà có, “sắc thân ngũ uẩn có nhà pháp thân” “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” cũng là ý này. Chúng ta không thể lìa thân tứ đại mà có Bồ Đề, trong Lục Tổ Đàn Kinh: “phiền não tức Bồ Đề. Phật và chúng sanh chỉ cách nhau trong lằn tơ kẻ tóc, niệm trước mê tức là chúng sanh, niệm sau giác tức là Phật” nên nói sắc tức là không, không tức là sắc. Tánh không chẳng ngoài sắc tướng mà có, trong cái này đã sẵn có cái kia. Trong chúng sanh luôn tồn tại tánh Phật, từ tâm nhưng bao hàm tất cả.Trong
Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng:

Nhược nhân dục liễu tri

Tam thế nhất thiết Phật,

Ưng quán pháp giới tánh

Nhất thiết duy tâm tạo.

(Nếu ai muốn hiểu rõ được về hết thảy các đức Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại và tương lai, thì nên quán xét tánh thật của các pháp trên thế gian này tất cả đều là do tâm tạo thành).

Khi đối với thọ, tưởng, hành, thức của ngũ uẩn cũng lại như thế. Bài Bát nhã chỉ nói một đại diện tiêu biểu là sắc uẩn. Từ nơi huyễn cảnh, sắc chất mà ta trở về với chân như bổn tánh, tức là tánh không. Phản vọng quy chơn (nhân huyễn mà trở về chân.)

舍利子!是諸法 空相, 不生不滅,不垢不淨,不增不減,是故空中無色,無受想行識,無眼耳鼻舌身意,無色聲香味觸法,無眼界,乃至無意識界,無無明,亦無無明盡,乃至無老死,亦 無老死盡,無苦集滅道,無智亦無得.

“Xá-Lợi-Tử! thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng , bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức. Vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới. Vô Vô-minh diệc, vô Vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. Vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo, vô Trí diệc vô đắc.”

“Này Xá Lợi Phất! Tướng không của các pháp không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt. Cho nên trong tướng không, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới; không có vô minh cũng không có hết vô minh cho đến không có già chết cũng không có hết già chết; không có khổ, tập, diệt, đạo; không có trí huệ, cũng không có chứng đắc.”

 

Đoạn này Đức Thế Tôn đã dạy chúng ta:

“Tướng không” chỉ cho chân tánh, bản thể thanh tịnh rõ ràng, thường biết, sáng suốt nơi mỗi người, trong ấy tịch tĩnh vắng lặng không có tướng mạo vuông, tròn, lớn, nhỏ, nên nói không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt. Vì lúc thanh tịnh, tịch tĩnh thì trong đó đâu có tướng mạo gì mà có nhơ, có sạch, có thêm, có bớt?

Cho nên trong “tướng KHÔNG” (chân tâm thanh tịnh) không có:

* Ngũ uẩn: Không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức.

* Sáu căn: Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

* Sáu trần: Không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.

* Giới: Không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới.

* Sự đối đãi: Không có vô minh cũng không có hết vô minh, cho đến không có già chết cũng không có hết già chết.

*Tứ Diệu Đế: Không có khổ, tập, diệt, đạo.

* Không có trí tuệ cũng không có chứng đắc

Ta có thể nắm rõ như vầy:

Không có vô minh, cũng không có hết vô minh. Vì sao nói như vậy? vô minh và hết vô minh là một cặp đối đãi sanh diệt, có cái này thì ắt sẽ có cái kia, không có cái này dẫn đến không có cái kia, mà đối với bản tâm thanh tịnh thì tất cả đều ở trung đạo, lìa đối đãi, ví dụ như có tù nhân thì sẽ có nhà tù, không tù nhân cũng chẳng cần nhà tù để làm gì. Cái này sanh thì cái kia sanh, cái này diệt cái kia cũng diệt, duyên tùng duyên sự tùng sự.

Theo chúng ta trí tuệ là tuyệt vời, vậy mà ở bài Bát nhã này nói là không có trí tuệ cũng không có chứng đắc, vậy lý này thế nào? Bản tâm thanh tịnh, trong ấy không có bất kỳ lầm chấp hoặc tướng trạng, còn chấp là trí tuệ, có chỗ chứng chỗ được, tức chẳng phải chân lý. Trong bản thể thanh tịnh ấy không một vật có thể được, không pháp nào có thể chứng đắc, chỉ thanh tịnh sáng suốt hằng chiếu soi, chẳng phải là không ngơ, rơi vào vô ký không, tu hành tập sống với chân tâm, rồi ta sẽ là người rõ hơn ai hết.

以無所得故,菩提薩埵,依般若波羅蜜多故,心無罣礙,無罣礙故,無有恐怖,遠離顛倒夢想,究竟涅槃.三世諸佛,依般若 波羅蜜多故,得阿耨多羅三藐三菩提,故知般若波羅蜜多,是大神咒,是大明咒是無上咒,是無等等咒,能除一切苦,真實不虛故,說般若波羅蜜多咒即說咒曰: 揭帝揭帝 般羅揭帝 般羅僧揭帝菩提僧莎訶.

“Bồ-đề-tát-đỏa y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố,vô hữu khủng-bố, viễn ly điên đảo mộng-tưởng, cứu cánh Niết-Bàn. Tam thế chư Phật, y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố, đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam bồ-đề. Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư. Cố thuyết Bát-nhã Ba-la-mật-đa chú . Tức thuyết chú viết:

” Yết-đế, yết-đế , Ba-la yết-đế . Ba-la-tăng yết-đế Bồ-đề tát-bà-ha”

 

Vì không có chỗ được, nên Bồ tát y theo Bát nhã Ba la mật đa, tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, xa lìa hẳn điên đảo mộng tưởng, đạt đến cứu cánh Niết bàn. Chư Phật trong ba đời cũng nương Bát nhã Ba la mật đa, được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng chánh giác. Nên biết Bát nhã Ba la mật đa là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú, hay trừ được hết thảy khổ, chơn thật không dối.

Vì vậy, nói chú Bát nhã Ba la mật đa, liền nói chú rằng:

“Yết đế, yết đế, Ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha”. (3 lần)

Khi rõ được bản tâm, thể tánh không một vật có thể được nên Bồ tát nương theo Bát nhã Ba la mật đa.

Vậy Bồ tát là gì? Bồ tát nói cho đủ là Bồ đề Tát đỏa (Bồ đề: Giác ngộ; Tát đỏa: Hữu tình, chúng sanh), nghĩa là những vị giác ngộ nỗi khổ của chúng sanh hiểu cảm thông và phát nguyện tu lục độ vạn hạnh để cứu thoát mọi loài ra khỏi nỗi khổ sanh tử. Lục độ là:

– Bố thí: độ san tham;

– Trì giới: độ phá giới;

– Nhẫn nhục: độ sân hận;

– Tinh tấn: độ giãi đãi;

– Thiền định: độ tán loạn;

– Trí tuệ: độ ngu si.

Nên trong cuộc sống, chúng ta thấy ai có tâm tốt cứu giúp mọi người thì hay gọi vị đó có tâm Bồ tát. Bồ tát thường phát tâm rộng lớn không ngoài tứ hoằng thệ nguyện:

– Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ: thật sự nào có dễ làm, chúng sanh ở đây ta không chỉ hiểu những chúng sanh bên ngoài giúp họ quy hướng Tam Bảo, gần gũi chùa chiền… mà điều cần chú trọng là những chúng sanh trong tâm mỗi người, nào tham, nào sân, nào si, tật đố… Mỗi vọng niệm khởi lên, ta có biết, tỉnh giác chiếu soi biết vọng không theo hay bị những chúng sanh kia dẫn dắt ta đi không biết lối về?

– Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn: Dòng tâm thức luân lưu không ngừng nghỉ, biết bao vọng niệm tuôn trào. Từ đó, sanh nghiệp cũng gây tạo không biết bao nhiêu là phiền não cho mình và cho người từ thô đến tế, những loại phiền não cơ bản: tham, sân, si, mạn, nghi, kiến thủ, giới cấm thủ… Khi phát thệ nguyện này, chúng ta kiểm soát tâm mình, dừng từ vọng tưởng là yếu tố đầu tiên để tạo nghiệp; bớt vọng, nghiệp giảm, phiền não cũng từ đó thuyên giảm.

– Pháp môn vô lượng thệ nguyện học: Như chúng ta thấy, mỗi chúng sanh mỗi tập nghiệp, tùy bệnh cho thuốc mà Đức Thế Tôn chỉ dạy biết bao pháp môn phương tiện (tám vạn bốn ngàn pháp môn), để mỗi chúng sanh tùy căn cơ mà ứng hợp tu hành để được lợi ích. Pháp môn có thấp cao, nhanh chậm (đốn tiệm). Người có tâm rộng lớn khi phát thệ nguyện này, luôn hướng đến đạo vô thượng Bồ đề, không dừng lại ở những pháp môn phương tiện của hàng La hán, Thanh văn mà tu tập dần lên Bồ tát và Phật đạo. Thực trạng hiện nay, có rất nhiều tu sĩ trẻ thích rời Thầy Tổ và Đại chúng sớm, gói trọn đời mình trong am, cốc, không muốn tiếp dẫn hậu lai, nối truyền Tông phong của Thầy Tổ, chỉ an lạc tịch tĩnh cho riêng mình. Nên một trong bốn hoằng thệ nguyện không phải dễ làm. Vậy mỗi tu sĩ cũng là một Bồ tát, một vị Phật tương lai, nên phát khởi tâm rộng lớn, nguyện thực hành tứ hoằng thệ nguyện.

– Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành: Như đã nói, không gì qua Phật đạo, người tu nên hướng tâm thênh thang, rộng lớn như tâm Phật. Phật ấy chẳng ở đâu xa, quan trọng là mỗi người phải nhận chân được ngay trong thân tứ đại sanh diệt này, có cái bất sanh bất diệt là tánh thể tịnh minh là Phật nhân của mỗi người, nhận được bản tâm thanh tịnh tu hành trên nhân Phật thì quả Phật nào có xa, đủ nhân duyên tự khắc thành tựu, chẳng cần mong cầu quả vị. Nhưng tâm và ý chí luôn hướng về Phật đạo mà tu tập không để tâm mình nhỏ bé. Có như vậy mới xứng đáng là Thích tử Như Lai.

Vì trong trí tuệ chân thật không có chỗ được, sống với trí tuệ này tâm không ngăn ngại, sợ hãi, không chấp chẳng buộc ràng, xa hẳn điên đảo mộng tưởng… sự tịnh tĩnh vắng lặng niết bàn tự hiển lộ.

Tất cả chư Phật trong ba đời đều nương theo trí tuệ bát nhã này tu tập mà đạt đạo quả Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nên biết trí tuệ này mầu nhiệm không cùng không gì sánh bằng, luôn trừ được hết thảy khổ ách, chân thật, không dối. Vì vậy, nói chú Bát nhã Ba la mật đa, liền nói chú rằng:

“Yết đế, yết đế, Ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha”. Câu cuối cùng là mật chú, chúng ta không dịch nghĩa. Chỉ nhiếp tâm trì tụng, ngay khi không hiểu nghĩa, chẳng nghĩ ngợi, tâm tỉnh lặng sáng suốt tức khi đó trí bát nhã hiện tiền.

Qua bài “Tâm Kinh Trí Tuệ Cứu Cánh Rộng Lớn”, có lẽ trong mỗi chúng ta phần nào ôn lại những gì mình được học được hiểu một cách rõ ràng hơn. Đọc lại Tâm kinh, hâm nóng lại cõi lòng nhắc cho ai ai cũng có bản tâm thanh tịnh mầu nhiệm sáng suốt, mà lắm lúc sống trong trần cảnh, khó chẳng bị bụi trần phủ lấp, quên đi tâm Phật của mình, chúng sanh tâm theo đó trỗi dậy, buồn, vui, thương, ghét… Cứ buộc mang không chịu buông xả, làm lòng ta nặng trĩu, bị hạn cuộc trong những phạm trù nhỏ bé. Tâm như hư không bao la trùm khắp, trí Bát nhã sáng suốt chiếu soi, ấy vậy mà để tâm Phật kia bị cột thắt ngăn ngại, có phải quá uổng chăng?

Ngoài kia trăng gió rộng thênh thang

Sao để cõi lòng chẳng mở mang?

Sum la vạn tượng dung chứa cả

Để lòng buộc thắt rồi lại than?

Hỡi người cùng tử còn lang thang

Nhanh chân mau nhận châu chéo áo

Chẳng để cha lành mãi chờ mong

Khi ấy ta giàu sang vô tận.

Một khi chúng ta đã nhận được hạt châu như ý của chính mình, thì lìa ngoài ngôn ngữ văn tự, đạt ý quên lời quên câu chữ, nhân huyễn cảnh mà trở về nguồn chân, dám mong các bậc cao đức từ bi minh chứng cho hàng hậu học chúng con với những cái hiểu cạn cợt khi biết về tâm của chính mình đối với bản Tâm kinh này. Kính cẩn trình dâng!

Hải Thuần Bảo Hải