Sa mạc cô đơn (phần 2)

63

  Cuối năm đệ nhị, trong lúc ai nấy cặm cụi lo ôn bài để chuẩn bị kì thi Tú tài I sắp tới thì tôi lo sắp đặt kế hoạch để trị tội con trai của ông cảnh sát trưởng. Nó học dưới tôi một lớp. Ỷ ba nó có quyền thế nên nó quậy dữ lắm. Nó cũng có một đám lâu la, đệ tử đi theo để cùng nhau chọc gái, phá xóm làng. Dân chúng thấp cổ bé miệng ráng nhịn cho qua nhưng càng nhịn nó càng nghênh ngang làm tới, thậm chí vào quán ăn không trả tiền, giả say rượu để muốn ôm ai thì ôm. Trong trường, các giám thị cũng chào thua vì ba má nó có ý bênh con, không muốn nghe ai mắng vốn.

Tôi muốn ra tay càng sớm càng tốt nhưng mấy người bạn trong nhóm cản tôi dữ lắm. Họ nói dầu sao cũng phải lo thi trước đã, nếu rủi bị bắt không đi thi được, sẽ uổng một năm học. Tôi dằn lòng nhưng trong bụng nóng nảy vô cùng. Có ngờ đâu chuyện này là một khúc quanh trong đời tôi…

Nói đến đây bác Tường ngưng lại. Ông với tay lấy ấm trà từ từ rót vào tách, dáng điệu ung dung. Mọi người hồi hộp, lặng thinh.

Hội lấm lét đưa mắt nhìn bác Tường tự nhủ: “Ông này không phải tay vừa, vậy mà mình cà rỡn với ổng hoài, từ nay nên cẩn thận hơn”.

Sau khi uống vài hớp thấm giọng, bác Tường tiếp tục câu chuyện:
– Năm đó, tôi thi đậu nhưng đậu vớt! Kết quả vừa niêm yết là ngay trong ngày hôm đó, bọn chúng tôi họp nhau để bàn thảo kế hoạch. Nhờ trước đây đã theo dõi một thời gian khá lâu nên tụi tôi biết tối thứ bảy nào thằng Khải cũng dẫn đào đi hóng mát ở Công viên Tao Đàn, đó là thời điểm thuận lợi nhất vì không có đám lâu la của nó đi theo.

Tụi tui bốn đứa ra tay hành động: kiếm chuyện giả vờ gây lộn, đánh lộn rồi dí nó vô chỗ tối, cột nó dính vô thân cây, kể tội nó rồi bẻ lọi một cánh tay gọi là cảnh cáo. Trong lúc hăng tiết, tụi tôi không để ý đến con đào của nó, nào hay cô ta chạy ra đường báo cảnh sát. Khi chúng tôi vừa làm xong “sứ mệnh” định tìm đường rút quân thì bị cảnh sát chìm, cảnh sát nổi bao vây bắt trọn ổ.

Tôi một mình đứng ra chịu tội nên ba bạn kia được thả ra. Tôi bị giam trong bót để chờ ngày ra tòa. Bị giam khoảng hai tuần thì ba tôi đến lãnh về, do sự can thiệp của ông quận trưởng, vốn là bạn cũ của ba tôi.

Tôi về nhà hôm trước thì hôm sau ông nội tôi qua đời. Họ hàng có vẻ như đổ lỗi cho tôi, vì tôi gây ra chuyện xấu xa tác tệ nên ông tôi buồn mà chết. Tôi thì cho rằng cái chết là luật tự nhiên; ông tôi sống hơn 80 tuổi, ông đi là phải rồi, sống thêm chỉ khổ vì bệnh hoạn mà thôi.

Quyền huynh thế phụ, bác tôi trở thành người nắm quyền trong gia tộc, ông không cho phép tôi thọ tang ông nội. Bác nói: “Dòng dõi nhà này không có ai làm giặc cả. Mày không được chường mặt ra trong đám tang này”.

Đối với tôi, để tang hay không để tang không quan trọng, vì đó chỉ là hình thức bên ngoài. Nhưng điều làm tôi bất bình là: bác bảo tôi làm giặc. Thế là tôi bỏ nhà ra đi, ghi tên vào Trường Trừ Bị Thủ Đức.

Môi trường mới này thích hợp với tôi hơn và tôi đậu thủ khoa trong khoa ấy. Ra trường, dù có mấy ngày phép tôi cũng không về thăm nhà. Tôi hận bác tôi nhiều hơn là nỗi nhớ mẹ.
Thời gian này tôi ở nhà người bạn cùng khóa tên Hùng. Ba của Hùng rất giỏi về khoa tướng số. Ông nhìn tôi nói:
– Cháu có dị tướng. Sau này sẽ làm nên nghiệp lớn.

Tôi nghe ông nói vậy thì mát dạ, mát lòng; tự ái được hả hê thỏa mãn. Tôi xin làm đệ tử của ông và bắt đầu học hỏi, nghiên cứu về khoa tướng số từ đó. Càng tin về tướng số hơn nữa khi nghiệp binh của tôi ngày càng lên.

Năm 32 tuổi, tôi nghĩ đến việc về thăm gia đình sau 12 năm bặt tin, biệt dạng. Tôi muốn về cho ông bác nhìn thấy uy dũng của tôi và nếu cần sẽ thị oai với ông để rửa hận.

Nhưng mọi sự xảy ra không giống như tôi tưởng tượng. Khi tôi về, bác tôi đã qua đời. Cha tôi gặp lại tôi không tỏ vẻ gì mừng rỡ, ông dửng dưng như không. Mẹ tôi thì đã xuất gia đi tu 6 – 7 năm rồi. Chùa ở ngoại ô, cách nhà không xa lắm, thuở nhỏ tôi vẫn cùng vài đứa bạn đạp xe đến đấy hoài, để lén hái mận, bẻ xoài.

Chiều hôm ấy tôi tìm đến thăm mẹ tôi. Lòng như ngẩn ngơ, ngơ ngẩn với bao tình cảm và ý nghĩ lộn xộn trong đầu.

Tôi rón rén bước vào chánh điện lúc mẹ tôi đang công phu chiều. Nhìn thấy người lặng lẽ, trang nghiêm trong chiếc y vàng, nước mắt tôi tự nhiên ứa ra. Lần đầu tiên tôi tự hỏi lòng: “Có phải vì tôi gây cho bà nhiều đau khổ nên bà đi tu chăng?” Hồi đó, tôi chưa hiểu đạo, tôi cứ nghĩ rằng ai chán đời hay có tâm sự gì đau buồn mới nương thân cửa Phật.
Tôi đứng im nghe lời kinh trầm buồn theo nhịp mõ khoan thai, thỉnh thoảng xen vào một tiếng chuông thanh thóat, dịu dàng. Những sôi nổi, những hận thù như lắng xuống trong tôi.

Ngước mắt lên nhìn Đức Phật tôi thấy Ngài như đang mỉm cười với tôi, nụ cười bao dung, che chở. Cũng như Ngài, tôi không thích đi theo những lối mòn có sẵn của người đời, tôi muốn sống hiên ngang, sống tự do như Ngài đã hoàn toàn thóat ra khỏi mọi sự ràng buộc còn tôi rốt cuộc rồi cũng lọt vô:

Cái vòng danh lợi cong cong
Kẻ mong ra khỏi, người mong bước vào.

Ngài không cần quyền lực nhưng mọi người đều tôn kính Ngài với lòng yêu thương rộng mở, còn tôi, mỗi chuyến thành công đạt được đều đổi bằng bao nhiêu máu xương và nước mắt của kẻ khác: nhất tướng công thành, vạn cốt khô.

Tôi đang miên man suy nghĩ thì thời kinh đã dứt. Mẹ tôi quay lại và nhìn thấy tôi. Đôi mắt của người chớp nhanh, tôi biết người đang xúc động. Trời ơi! Đôi mắt đó, chỉ trong đôi mắt đó tôi mới thấy được một bầu trời yêu thương và tha thứ! Mẹ tôi khóc và tôi không còn là một viên võ tướng hét ra lửa trên chiến trường nữa, tôi cũng cúi đầu giấu những dòng lệ nóng đang tuôn rơi.

Từ đó, tôi về thăm nhà thường xuyên hơn và do sự khuyên nhủ của mẹ, tôi không tỏ vẻ ương ngạnh với ba tôi nữa mà tôi còn chăm nom, săn sóc Người. Ba tôi nghĩ rằng tôi đã ăn năn hối lỗi nên dần dần ông cũng đổi giận làm vui.

Mỗi lần đến chùa thăm mẹ là tôi được vị Sư Trụ trì dành hơn một tiếng đồng hồ để tiếp tôi. Người giảng dạy cho tôi căn bản giáo lý Phật Đà để gieo vào lòng tôi hạt giống Từ bi. Còn mẹ tôi thì ban cho tôi những lời khuyên êm ái, dịu dàng về cách đối nhân xử thế. Lòng tôi mở rộng để đón nhận và tôi từ từ được chuyển hóa.

Phải thành thật nói rằng một trong những lý do khiến tôi đến chùa rất thường là vì ở đấy, ngoài mẹ tôi ra tôi còn xúc động vì đôi mắt bồ câu dịu hiền của một cô Phật tử thuần thành. Đó là lần đầu tiên tôi biết yêu. Nhưng điều làm tôi đau khổ là đôi mắt đó mỗi lần nhìn thấy tôi là ánh lên những tia sợ hãi. Tôi làm kinh hãi bao người dưới tay, tôi đã từng thấy những tia nhìn khiếp sợ và tôi tự lấy làm hài lòng vì quyền lực của mình. Nhưng lần này những tia nhìn sợ hãi của con bồ câu khả ái ấy làm tôi xấu hổ. Tôi biết hình tướng của tôi trông hung bạo lắm và những việc làm hung dữ của tôi lại càng tô đậm ác khí trên khuôn mặt dữ dằn của tôi. Bây giờ, tôi chợt hiểu rằng người săn tìm quyền lực là người tự giam mình trong sa mạc cô đơn…

Nghe nhắc lại chuyện xưa, bác gái có vẻ xúc động. Bác nhẹ nhàng đứng lên, với lấy bình trà để có cớ đi vào trong nhà. Bác Tường nhìn theo dáng vợ không giấu được vẻ trìu mến. Ông hít một hơi thở dài rồi tiếp:
– Hai năm sau, ba tôi mất vì bạo bệnh, tôi cũng đã chán binh nghiệp nên giải ngũ về chăm sóc cơ sở làm ăn của ba tôi. Với quan niệm sống bằng thương yêu, tôi thấy cuộc sống của mình trở nên dễ chịu và có ý nghĩa hơn. Tôi lần lần xóa bỏ được hàng rào ngăn cách giữa tôi và người chung quanh và “ông ba mươi” được chuyển hóa dần để trở thành…
Bác Tường nói đến đây bỗng có tiếng “ách xì” thật to, cả bọ cười ồ. Bác Tường cũng cười nói:
– Ngoài này đã lạnh rồi, thôi chúng ta vào nhà đi!
Mỗi người đứng lên, cầm theo cái tách của mình để nhận tách trà nóng bác gái vừa pha…
Mọi người biết bác Tường đã chấm dứt câu chuyện ở đây nhưng ai cũng có một vài điều thắc mắc. Chờ ai nấy ăn xong miếng bánh, Hội lên tiếng liền:
– Thưa bác, tại sao bác không tiếp tục khoa tướng số nữa, bác còn tin không?
Bác Tường đưa tay ra vuốt mái tóc muối tiêu rồi đảo mắt nhìn những khuôn mặt tươi sáng yêu đời của những người bạn trẻ. Bác cất tiếng nói:
– Tin thì vẫn còn tin nhưng tôi đã quyết tâm tu hành nên không để ý đến tướng số nữa. Bởi vì nhiều lẽ: thứ nhất, nếu chấp vào đấy thì sinh ra định kiến; tướng xấu thì bị mặc cảm, thiếu tự tin, còn tướng tốt thì sinh ra ỷ lại, tự kiêu. Thứ hai, sách tướng cũng có nói rằng “Tâm sinh tướng” và “Đức thắng số” vậy mình nên nắm cái gốc, lo tu sửa tâm tính chứ chạy theo cái ngọn làm chi!
Hoàn giơ tay xin hỏi:
– Cháu nghe người xưa nói rằng: “Núi sông dễ đổi, tâm tánh khó dời.” Vậy tại sao bác có thể sửa đổi để trở thành một con người hoàn toàn khác xưa?
Bác Tường gật gù tỏ vẻ khen người khéo đặt câu chất vấn, bác ôn tồn nói:
– Tôi không phải là tài giỏi gì mà có thể làm được chuyện khó làm ấy. Phải công nhận rằng ngoài ý chí ra, tôi còn được nhiều trợ duyên; một là hạt giống Từ bi mà nhà Sư gieo vào tâm não tôi đã bắt đầu nảy mầm; hai là tình thương lai láng của mẹ tôi; ba là sự tha thứ của ba tôi – nói riêng – của bà con chòm xóm – nói chung; bốn là tình yêu. Tình yêu là một động lực mạnh mẽ vô cùng.
Nói đến đây, bác nheo mắt nhìn vợ, pha trò:
– Phải vậy không bà?
Bác gái mắc cỡ, nguýt chồng một cái làm cả bọn có dịp cười vui vẻ, thoải mái. Hạnh phúc lan tỏa làm ấm cả gian phòng.
Bây giờ, Tài – con bác, mới cất tiếng hỏi:
– Thưa ba, qua câu chuyện, con thấy ba có vẻ hối hận đã đi vào binh nghiệp và cho rằng vì nghề lính mà ba đã tạo ra nhiều ác nghiệp. Vậy những người bị động viên đi lính hoặc những người chiến đấu cho lý tưởng thì sao?
– Tội phước, thiện ác đều do một cái tâm này tạo ra, không phải do nơi hành động. Xưa, vào đời Trần, đạo Phật là quốc giáo vậy mà vua và nhân dân đều phải cầm gươm đuổi giặc ngoại xâm. Tuy giết hàng ngàn sinh linh mà vua Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông vẫn có thể tu hành và đạt đạo.
– Trong bài Hịch tướng sĩ, Nguyễn Trãi cũng đã xác định lập trường này: “Đạo nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt chỉ vì trừ bạo.” Vì cứu dân mà ra tay trừ kẻ bạo tàn thì đó là hành động nhân nghĩa, còn vì háo danh, vì ham địa vị, quyền lợi mà hăng hái xông pha để gây chiến công thì đó là làm trái với đạo Từ bi. Một bên là lòng vị tha, nhân đức, một đằng là sự ích kỉ hiếu chiến tuy rằng hành động thể hiện bên ngoài không khác nhau.
Tài hỏi thêm, có ý bênh vực cho cha:
– Thế con lúc nhỏ, ba đã “trừ gian diệt bạo” thì sao?
Bác Tường cười xòa:
– Thật ra, lúc đó, ba cũng chỉ muốn làm người hùng, muốn chỉ huy người khác mà thôi!
Thấy buổi nói chuyện đã kéo dài, bác Tường kết thúc cuộc họp:
– Vô tình mà đêm nay tôi sám hối được với tất cả các đạo hữu. Kinh nghiệm mà tôi muốn chia sẻ với các bạn là: càng sống vị kỉ mình càng khổ đau; càng kiêu căng mình càng dễ làm bậy. Nếu mình không mở rộng cửa lòng, không gieo rắc tình thương thì chung quanh mình không có bóng mát, mình sống trong sa mạc cô đơn. Địa ngục đó coi vậy mà khủng khiếp lắm; bị nhốt trong đó, mình có thể hóa thành điên dại. Nhờ kịp thời thức tỉnh và biết cách tự giải thóat nên tôi được hưởng an lạc, hạnh phúc. Tội từ tâm khởi, đem tâm sám là vậy.
Các bạn trẻ đứng lên chuẩn bị ra về, bây giờ bác gái mới lên tiếng:
– Chúng ta hồi hướng chứ!


Mọi người đều đứng nghiêm trang, chắp tay sen búp, cất giọng trầm đều:

Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.

Bích Thu