Pháp Hoa tâm xuân

10

  Nhìn thời gian dần qua, mới đó mà đã ba mươi xuân thì khẽ trôi đi. Nhìn lại để biết được chính mình, đang làm gì và đã được gì trong thời gian vừa qua? Rõ được bản thân là điều thiết yếu, giúp ta tu tập mỗi người càng tiến triển.

Kính bạch Thầy! Sư phụ kính yêu của chúng con… Thay vì có ít thời gian rảnh rỗi chúng con lại ham chơi thích ngủ, nhưng nhớ lời Thầy dạy: “Hằng ngày, con chữ vẫn theo tay, lời Phật ý kinh sáng từng ngày…” Chúng con không ngại sở học còn thiển cận, mạo muội ôn lại những pháp âm từ Thầy qua cái nhìn của Thiền sinh Bảo Hải. Những bài viết này có thể được xem là những bài ôn tập về kinh Phật, ý Tổ mà Thầy đã truyền trao để giúp chúng con hiểu một thêm sâu, ôn tập và nhắc nhở chính mình, không để thời gian trôi qua vô ích, làm bạn với kinh điển, niềm vui từ pháp lạc đem lại thật trân quý vô cùng, giờ đây không chần chừ gì nữa, hãy cùng nhau ôn lại những gì đã được học và được hiểu qua Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

Hãy dùng, tâm miên viễn trong ta
Kính đón Pháp Hoa đến mọi nhà
Nhắc ai, để kẻo vui Xuân cảnh
Quên “tâm chân thật” hạt châu sa.

Để đi sâu vào nội dung, ta cần hiểu rõ tựa của bài kinh mà Đức Thế Tôn đã chỉ dạy cách đây mấy ngàn năm về trước.

Thế nào gọi là kinh? Phần lớn kinh là do Phật nói, trừ một vài trường hợp đặc biệt, ví dụ kinh Pháp Bảo Đàn của Lục Tổ Huệ Năng (vì quá hay nên người sau tôn trọng gọi là kinh). Để được gọi là kinh, điều kiện cần và đủ đó là phải có lục chủng chứng tín, hay còn gọi là lục chủng thành tựu. Mở đầu các kinh thường là câu: “Tôi nghe như vầy…”, chỉ cho Ngài A Nan nghe, làm niềm tin cho chúng ta khi đọc, có đủ lục chủng chứng tín (ai nói, nói gì, ai nghe, khi nào, ở đâu, số lượng người nghe?).

1. “Tôi nghe”: văn thành tựu (ai nghe).
2. “Như thế này”: tín thành tựu (nói gì).
3. “Một thuở nọ”: thời thành tựu (khi nào).
4. “Đức Phật”: chủ thành tựu (ai nói).
5. “Ở núi Kỳ Xà Quật, nơi thành Vương Xá”: xứ thành tựu (ở đâu).
6. “Một muôn hai ngàn người… câu hội”: chúng thành tựu (lượng người nghe).
– Diệu: là mầu nhiệm sáng suốt, ý chỉ cho bản tâm thanh tịnh, diệu dụng không cùng.
– Pháp: chỉ cho pháp tánh bất sanh bất diệt, bản tâm thanh tịnh, không phải khách trần sanh diệt.
– Liên hoa: là hoa sen, hình ảnh ẩn dụ chỉ cho bản tâm thanh tịnh, bởi hoa sen là một loài hoa vô cùng đặc biệt. Như chúng ta đã biết, trong Phật giáo, biểu tượng hoa sen được dùng rất nhiều. Những mốc rất quan trọng như: Khi Thái tử Tất Đạt Đa đản sanh, Ngài đi bảy bước có bảy đóa sen nâng gót ngọc. Mốc quan trọng thứ hai, ở Pháp môn Tịnh Độ thường dùng câu: “Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu”. Mốc thứ ba, khi Đức Thế Tôn đưa cành hoa sen lên “niêm hoa vi tiếu”. Trong hội chúng, chỉ có Tôn giả Đại Ca Diếp nở nụ cười, Thầy trò tương ưng: “Đại Ca Diếp chúm môi cười, y bát đó trao cho Người…” Thật sự đối với Phật giáo, biểu tượng hoa sen được dùng khá phổ biến và cực kỳ quan trọng, vì hoa sen có năm đặc tính chính:

1. Loài hoa không dùng để làm trang sức.
2. Cành lá và hoa riêng biệt.
3. Không bị ong bướm bu đậu.
4. Mọc trong bùn nhưng không hôi tanh mùi bùn.
5. Nhân quả đồng thời, khi thành nụ đơm hoa, trong nụ đã có luôn đài sen và hạt sen.
Bởi năm đặc tính cao quý đó, hoa sen đã là quốc hoa của nhiều nước.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là thể loại kinh “Pháp dụ”, lấy hình ảnh hoa sen làm dụ để chỉ cho pháp thân thanh tịnh của mỗi người. Mục đích Đức Phật nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa để khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến.
Khai: là mở ra.
Thị: chỉ bày.
Chúng sanh: ý nói mọi loài, đặc biệt là loài người, vì người có tuệ giác cao nhất.
Ngộ: nhận hiểu.
Nhập: vào, nhận lấy, sống được.
Phật tri kiến: tri kiến Phật, thấy biết của Phật là tánh biết, bản tâm thanh tịnh của mỗi người. Ai cũng hằng hữu hiện tiền, mà do ta mê duyên theo trần cảnh nên quên đi chân tánh ấy, nên mục đích của các Đức Phật ra đời chỉ cho chúng ta nhận thấy, thấu rõ và sống với tánh Phật nơi chính mình.

Khi nói đến Kinh Pháp Hoa, chắc hẳn trong chúng ta ai cũng quá quen thuộc, có nhiều nơi lấy làm công khóa tu hành, trở thành bản kinh nhật tụng nơi bổn tự. Giờ đây, chúng ta hãy lắng lòng, để tâm thanh tịnh chiêm nghiệm diệu lý mà Đức Thế Tôn đã chỉ dạy trong nội dung.

Kinh Pháp Hoa có tổng cộng 28 phẩm, theo Thiền sư Hám Sơn, kinh được chia làm 3 phần:
Phần 1: Tựa (Phẩm Tựa).
Phần 2: Chánh tông (27 phẩm), gồm 4 phần:
– Khai tri kiến Phật (9 phẩm, từ phẩm Phương tiện đến phẩm Pháp sư): chỉ cho chúng ta nhận hiểu nơi mình có tri kiến Phật.
– Thị tri kiến Phật (phẩm Hiện bảo tháp): chỉ bày tri kiến Phật.
– Ngộ tri kiến Phật (11 phẩm, từ phẩm Đề Bà Đạt Đa đến phẩm Chúc lụy): hiểu và nhận tánh Phật của chính mình.
– Nhập tri kiến Phật (6 phẩm, từ phẩm Dược Vương bổn sự đến phẩm Phổ Hiền): sống được với tri kiến Phật, pháp tánh nơi mỗi người.
* Phần Khai, Thị, Ngộ thuộc về tín giải: tin hiểu, sáng tỏ. Phần Nhập: chứng nghiệm (chánh văn).
Phần 3: Lưu thông (những câu cuối của phẩm Phổ Hiền thứ 28): “Tất cả đại chúng trong hội nghe kinh này đều rất vui, thọ trì lời Phật, làm lễ và lui ra.”
Như chúng ta đã thấy, hội chúng nơi Đức Thế Tôn chuẩn bị thuyết Kinh Pháp Hoa được diễn tả tại núi Kỳ Xà Quật hay còn gọi là núi Linh Thứu (vì đỉnh núi có hình dạng như đầu chim Thứu), nằm ở phía Bắc nước Ma Kiệt Đà. Bộ chúng câu hội rất đông: Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí…; Thanh văn A Nhã Kiều Trần Như, Ma Ha Ca Diếp…; chúng hữu học và vô học 2.000 người; Trời, rồng, Bát bộ. Có cả vua A Xà Thế, Tỳ kheo ni Ma Ha Ba Xà Ba Đề, Da Du Đà La…

Lúc bấy giờ, tứ chúng vây quanh cung kính ngợi khen Đức Phật vì các hàng Bồ tát mà Phật nói kinh Vô Lượng Nghĩa. Sau đó, nhập chánh định, thân và tâm không lay động. Khi ấy, trời mưa hoa mạn đà la, mạn thù sa… rải trên khắp Phật và Đại chúng, đất sáu điệu chấn động:

Theo Kinh Hoa Nghiêm, 6 tướng chấn động hay còn gọi lục chủng chấn động gồm: động, khởi, dũng, chấn, hống và kích.

Động: lay động không yên.
Khởi: từ thấp dần dần lên cao.
Dũng: bỗng nhiên vọt lên (3 thứ này chỉ cho hình thức địa chấn).
Chấn: phát ra tiếng động ầm ĩ.
Hống: tiếng rống mạnh của loài thú.
Kích: phát ra tiếng dội ầm ầm (3 thứ này chỉ cho âm thanh địa chấn).
Lúc đó, Phật từ tướng lông mày trắng, ở giữa chặng mày phóng ra ánh sáng, soi khắp các cõi nước phàm thánh có đủ. Khi ấy, Ngài Bồ tát Di Lặc khởi nghi, hỏi Bồ tát Văn Thù Sư Lợi: “Vì nhân duyên gì mà Thế Tôn hiện thần biến tướng, ắt có điềm lành?” Bồ tát Văn Thù thuật lại, khi xưa Ngài đã từng thấy hai muôn Đức Phật cùng tên Nhật Nguyệt Đăng Minh. Khi Phật chưa xuất gia, có tám vị vương tử, về sau Phật xuất gia thành đạo, tám vị vương tử đó cũng xuất gia theo, đồng học với Bồ tát Diệu Quang. Phật lúc đó cũng như ngày nay, nói kinh Vô Lượng Nghĩa, cũng nhập chánh định Vô Lượng Nghĩa Xứ và cũng phóng quang. Sau đó, nói kinh Pháp Hoa. Giống như việc ngày hôm nay, xưa nay không khác nhau. Khi ấy, Phật nói kinh Pháp Hoa rồi tuyên bố nửa đêm nhập Niết bàn, thọ ký cho Bồ tát Đức Tạng. Sau khi Phật diệt độ, Bồ tát Diệu Quang trì kinh Pháp Hoa trải tám mươi tiểu kiếp. Bồ tát Diệu Quang có đệ tử tên là Cầu Danh vì ham thích danh lợi, học kinh không thuộc nhưng do trồng các căn lành gặp nhiều Đức Phật, cuối cùng cũng được thọ ký thành Phật. Ngài Bồ tát Văn Thù nói rõ: “Bồ tát Diệu Quang chính là ta (Văn Thù), còn Cầu Danh chính là ông (Di Lặc) chứ không phải ai khác.” Xưa tức là nay, như vậy thấy rõ điềm lành này cũng như xưa nên biết chắc Phật sẽ nói kinh Pháp Hoa. Đó là đại cương của phẩm Tựa thứ nhất. Qua phẩm này, chúng ta có nhận chân được điều gì từ bối cảnh đến diễn biến?

Trước khi Đức Phật nói kinh Pháp Hoa, có hiện tướng lạ, ánh sáng chiếu ra từ giữa chặng mày, ánh sáng dụ cho trí tuệ, giữa chặng mày chỉ cho lý trung đạo, không vướng kẹt hai bên đối đãi, khi có trí tuệ hiển bày, chúng ta sáng suốt, như trở về với thể tánh thanh tịnh sáng mầu nhiệm thì nào có vướng kẹt hai bên, con đường trung đạo hiện bày, đó là một hình ảnh ẩn dụ. Chúng ta cần nhận thấy trí tuệ đó trong mỗi người đều có, mà trí tuệ xuất hiện, những tăm tối vô minh đều bị tan biến, có ánh sáng trí tuệ thì bóng đêm u mê bị đẩy lùi. Mở đầu phẩm Tựa xuất hiện Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, chỉ cho căn bản trí, ngầm ý chúng ta phải tin nhận được trí tuệ sáng suốt thanh tịnh mầu nhiệm ấy, hay còn gọi là tri kiến Phật, nhận biết nơi mình đầy đủ để trở về sống. Đó là chúng ta tu trên nhân Phật thì quả Phật nào có xa chi? Qua toàn bộ phẩm Tựa, toát lên yếu chỉ, mỗi người phải nhận được căn bản trí nơi mình đó cũng là tri kiến Phật là bản tâm thanh tịnh… biết bao danh từ tạm gọi để chỉ cho tâm Phật, trở về nhận và tu tập trên nhân Phật thì quê hương hà hữu ngày một gần. Biết mình có tánh Phật thì chúng sanh tiêu biến, cũng đồng một môi trường sống, nhưng sao có kẻ hạnh phúc an vui, có người lại bất an trong hiện tại? Vậy đổ lỗi cho hoàn cảnh hay tại tâm mình bất định? Cuộc sống tu hành bình thường vui đạo, chứ không tầm thường như bao người thế gian, đắm chìm trong bóng tối u mê, chật vật lao tâm nhọc trí từ thể xác đến tinh thần để mưu cầu điều gì to tát, rồi cuối cùng ta còn lại chi? Hay vất vưởng tay trắng ra đi, cả sự nghiệp cơ đồ, tiền tài danh vọng, quyến thuộc cái nào là của ta? Ngay cái ta cho là thật sự của mình là thân hình cha mẹ sanh ra, chúng ta cũng phải để lại và nhờ người sau xử lý, một là an táng, hai là hỏa táng ba là thủy táng… Cuối cùng còn gì đâu, cát bụi trở về với cát bụi. Mỗi người chúng ta hãy tỉnh giấc trước khi quá muộn màng ở kiếp nhân sinh, sống ý nghĩa từng ngày một, dù ngày mai có ra sao cũng chẳng sao. Vì hôm nay chúng ta đã cố gắng, hoàn thiện, tích cực trong từng phút giây hiện hữu, sống hướng thiện thanh cao, tâm vững vàng nơi đạo, cuộc sống bao kẻ ước ao. Thế nên, khi đã được rồi, ta hãy trân trọng giữ gìn và tu hành thúc liễm chính mình từ thân đến tâm, để không lãng phí cuộc sống hạnh phúc chân thật với đạo, với Thầy Tổ và Tăng thân nơi trần thế hữu hạn nào có bền lâu.

Tổ Bách Trượng Hoài Hải (懷海 720- 814) có để lại lời dạy cho hậu thế:

潙山牯牛
放出潙山水牯牛
無人堅執繩鼻頭
綠楊芳草春風岸
高卧橫眠得自由

Âm:

Quy sơn cổ ngưu
Phóng xuất Qui Sơn thủy cổ ngưu
Vô nhân kiên chấp thằng tỵ đầu
Lục dương phương thảo xuân phong ngạn
Cao ngọa hoành miên đắc tự do.

Nghĩa:

Con Trâu Đực Qui Sơn
Khi chăn con trâu đực Qui Sơn
Không ai nắm chặt sợi dây vàm
Gió xuân phe phẩy bờ dương biếc
Cao nguyên nằm khểnh thật thong dong.

Hai câu thơ đầu ý nói người tu chúng ta khi biết mình có bản tâm thanh tịnh đồng với Phật không khác. Biết, tin, nhận được rồi (kiến tánh khởi tu) thì phải chăn trâu tâm đến lúc thuần thục, nhưng không trụ pháp chấp pháp, vì đó chỉ là phương tiện, đến như Ngài Quy Sơn thì nhẹ nhàng: “Gió xuân phe phẩy bờ dương biếc, cao nguyên nằm khểnh thật thong dong.” Trâu tâm đã được chế phục thì thong dong tự tại thưởng ngoạn ngoại cảnh, đi đứng nằm ngồi đều là đạo (đạo nhân nhàn).

Nói thì dễ, khi thực hành thì nóng lạnh tự biết, chỉ cần mỗi chúng ta bằng cả trái tim, tâm bền vững, kiên trì không thối chí nản lòng thì việc gì chẳng đạt. Gửi lời chào trân trọng đến tất cả, trong tình thương mến nhau! Ôn Pháp bảo được xem như món quà Xuân, trong tình pháp lữ trao tặng nhau.

Bảo Hải