Pháp dụ liên hoa

9

  Giữa thế gian bộn bề, chật vật với đồng tiền bát gạo, tâm thức cũng từ đó lên xuống lăng xăng, nhiều lúc hiền lương, lắm lúc cũng đa đoan bất ngờ… Nơi đây, những Thiền sinh quẳng gánh lo toan, nép mình trong nếp sống Thiền gia, thời khóa công phu đều đặn, vậy mà được mấy ai ham thích? Thật là “Đường đời chật hẹp người chen lấn, lối đạo thênh thang hiếm kẻ tìm.”

Trong không lắng đọng, tiếng mõ và câu kinh trầm bổng ngân vang:

Trên ngọn Diệu Phong rong tự tại
Xem xét mười phương chúng khổ đau
Khởi từ phương tiện tùy ứng hóa
Đưa chúng đồng lên bờ Niết-bàn…

Thật là cảnh lặng, lòng yên thanh thoát lạ! Từ chư Phật đến chư Tổ đều vì lòng bi mẫn mà dùng biết bao Pháp môn phương tiện thiện xảo để giúp chúng sanh trong trần cảnh, nhận được chân tánh nơi mình. Nơi ấy, không thiếu vắng bản tánh hiền thiện, tâm Phật rạng ngời. Đó cũng là mục đích của chư Phật ra đời, khai thị ngộ nhập tri kiến Phật của tất cả chúng sanh. Nếu nhận được rồi, tự tại diệu dụng biết dường nào, như câu kinh: “Trên ngọn Diệu Phong rong tự tại.”

Trong kinh Hoa Nghiêm, có đoạn Thiện Tài đồng tử tham vấn Tỳ-kheo Đức Vân. Tỳ-kheo Đức Vân sống ở ngọn Diệu Phong. Đồng tử đến núi không gặp Ngài, nhưng sau đó, khi đi qua ngọn núi tên Biệt Phong, đồng tử mới gặp Ngài. Một điều thật kỳ lạ, Tỳ-kheo Đức Vân chưa từng xuống núi, mà đồng tử Thiện Tài ở núi khác lại gặp được. Tỳ-kheo Đức Vân là người đã ngộ đạo ở ngọn Diệu Phong, nên ngọn Diệu Phong ý chỉ rốt ráo chân thật, chỗ đó không có hai, nên Thiện Tài đến đó không gặp Ngài Đức Vân. Nếu thấy là có hai: người thấy và người bị thấy thì chẳng phải đạo. Bởi vậy, khi lên đến Diệu Phong mà còn tìm để thấy, ắt không thể thấy được. Nếu muốn thấy phải đi nơi khác (Biệt Phong). Chính vì vậy, ngọn Diệu Phong ý chỉ cho bản thể thanh tịnh, không phân biệt đối đãi. Khi đã nhận được thể tánh thanh tịnh, nơi đó “rong tự tại”. “Rong” ở đây nghĩa là hành tung của các Ngài tự tại, diệu dụng, giúp vật độ sanh, không còn ngăn ngại. Nơi thể thanh tịnh mà phát ra diệu dụng, chân không mà diệu hữu.

Bi mẫn Như Lai thương con dại
Mải chơi quên ngại đại hỏa thiêu
Chiêu dụ ba thừa phương tiện ấy
Thiện xảo mục tiêu, Tối thượng thừa.

Ngài Xá Lợi Phất vui mừng hớn hở, chắp tay chiêm ngưỡng được điều chưa từng có, nghe được tiếng pháp từ Thế Tôn: “Con xưa theo Phật, thấy các vị Bồ tát được thọ ký thành Phật, chúng con chẳng dự vào việc đó, tự rất cảm thương mất vô lượng tri kiến của Như Lai. Đó là lỗi của chúng con, không phải lỗi do Thế Tôn. Chúng con chẳng hiểu Phật phương tiện theo căn cơ nói pháp.”

Ngài Xá Lợi Phất tự than: “Con từ xưa đến nay trọn ngày đêm luôn tự trách mình. Giờ đây, nghe Phật chỉ dạy. Trước chưa từng nghe, dứt các lòng nghi, thân ý thơi thới an ổn, mới biết mình thật là Phật tử, từ miệng Phật sanh ra, từ pháp hóa sanh, được pháp phần của Phật.”

Xá Lợi Phất biết Phật dùng phương tiện dẫn chứng, ba đời chư Phật, nói pháp ra đều rốt ráo quy về Nhất thừa thôi. Chỉ có một việc này là thật, còn lại chẳng phải chơn, chỉ là phương tiện, thí dụ. Đến đây, Xá Lợi Phất mới tin nhận hiểu và lòng vui mừng dứt các điều nghi ngờ.

Trong phẩm Thí dụ, Đức Phật mượn thí dụ để khiến cho người, nhân đó mà hiểu được tri kiến Phật, nhân đây thấy kia, đó là phương tiện khéo léo của Ngài. Phật thí dụ về nhà lửa, ba xe, đây là thí dụ chính trong 7 thí dụ của Kinh Pháp Hoa. Hết thảy là 9 thí dụ gồm:

1. Dụ nhà lửa, ba xe (Phẩm Thí dụ thứ ba).
2. Dụ cùng tử, đứa con bỏ cha đi hoang nghèo đói (Phẩm Tín giải thứ tư).
3. Dụ cỏ thuốc (Phẩm Dược thảo dụ thứ năm).
4. Dụ hóa thành và bảo sở (Phẩm Hóa thành dụ thứ bảy).
5. Dụ hạt châu trong chéo áo (Phẩm Ngũ bá đệ tử thọ ký thứ tám).
6. Dụ kế châu, hạt châu buộc trên búi tóc của vua (Phẩm An lạc hạnh thứ mười bốn).
7. Dụ phụ y tử, thầy thuốc và các người con (Phẩm Như Lai thọ lượng thứ mười sáu).
8. Dụ người đói gặp cơm vua không dám ăn (Phẩm Thọ ký thứ sáu).
9. Dụ trên cao nguyên đào giếng (Phẩm Pháp sư thứ mười).

Nhưng chỉ có thí dụ nhà lửa và ba xe được đặt tên Phẩm Thí dụ thứ ba. Do đó là bản hoài của Phật ra đời, vì đại sự nhân duyên, chỉ tri kiến Phật cho chúng sanh, đưa thẳng về Nhất thừa, dụ ba xe: dê, hươu và trâu cũng nhằm chỉ một xe đó là Nhất thừa. Đây là tông chỉ của Kinh Pháp Hoa nên đặt tên phẩm này là Thí dụ, thí dụ trong phẩm ba này, được coi là quan trọng.

Qua phẩm Phương tiện, Ngài Xá Lợi Phất đã được tin nhận phần nào. Ngài biết vì phương tiện Phật chỉ dạy ba thừa, nhưng cuối cùng cũng muốn chỉ chỗ Phật thừa. Ngài tin và nhận ngay nơi mình có tri kiến Phật ấy, nên dứt lòng nghi ngờ thân tâm thơi thới an ổn. Trong phẩm Thí dụ này, Đức Phật đã nói, có một vị trưởng giả giàu có vô cùng, nhà ruộng, tôi tớ rất đầy đủ, nhưng ông đã lớn tuổi già suy, nhà ông tuy rộng lớn nhưng chỉ có một cửa ra vào. Người bên trong rất đông, vách cột đều xiêu vẹo hư nát, lửa bốn phía đồng một lúc nổi lên đốt cháy nhà cửa. Các người con của trưởng giả đều ở trong đó. Ông lo sợ các con ưa vui chơi không hay biết, không có ý cầu ra khỏi. Ông đã bảo các con ra mau đi, nhưng các con vui chơi chẳng tin chẳng chịu sợ, không có lòng muốn ra, chẳng hiểu gì là nhà lửa cháy, cứ chạy giỡn nhìn cha mà thôi. Nên trưởng giả đã bày phương tiện, khiến các con thoát khỏi nạn này. Biết các con thích đồ chơi trân bảo, ông bảo các con ngoài đây có các thứ xe dê, hươu, xe trâu, có thể dùng để dạo chơi. Các con có thể dạo chơi, các con muốn, cha đều sẽ cho. Lúc này, các người con mới chịu ra, mạnh mẽ xô đẩy, tranh ra khỏi nhà lửa. Lúc đó, ông trưởng giả thấy các con an ổn, lòng vui mừng khôn xiết. Bấy giờ, các người con đều thưa: “Lúc nãy, cha hứa cho đồ chơi, xin liền ban.” Khi đó, trưởng giả đều cho một xe lớn cao rộng, đủ thứ của báu treo trên xe, gối đỏ trang hoàng rất lộng lẫy, dùng trâu trắng để kéo. Trưởng giả nói: “Của cải ta nhiều vô cùng nên dùng xe nhỏ xấu kém sẽ không chở các con an toàn.” Các người con ngồi trên xe lớn được điều chưa từng có, không phải xe trước kia trông đợi mà còn tốt đẹp hơn thế nữa. Nội dung phẩm Thí dụ cho ta thấy:

– Trưởng giả: chỉ cho Đức Như Lai.
– Cõi nước hay tụ lạc: giống như một phường hay một huyện.
– Nhà lửa: chỉ cho nhà tam giới.
– Những đứa con lang thang: chính là chúng ta đang ham chơi trong tam giới, trong sanh tử luân hồi.
– Của cải giàu vô lượng: chính là gia tài trí tuệ không ngằn mé.
– Ba xe: dụ cho tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) nhưng khi các con ra khỏi nhà lửa, thì chỉ cho duy nhất Phật thừa.
– Xe trâu trắng: tức là Nhất thừa, không có thừa nào khác là Phật thừa.

Thế Tôn dùng phương tiện thí dụ để dẫn dắt chúng sanh ra khỏi nhà lửa tam giới, ra khỏi sanh, già, bệnh, chết của hiện tướng vô thường. Nhận thấy, rõ biết tu tập. Nhân nơi thí dụ mà nhận ra Nhất thừa hay còn gọi là tri kiến Phật của chính mình. Những chúng sanh đã thoát khỏi ba cõi đó, được món vui thiền định giải thoát thì còn gì bằng?
Trong thực tế cuộc sống tu hành chúng ta thấy, do bệnh của chúng sanh nhiều vô số, căn cơ khác nhau, tùy bệnh mà Phật cho thuốc, bày biết bao phương tiện Pháp môn tu, để ai cũng có thể tu được. Nhưng cái cuối cùng không phải dừng ngay phương tiện đó mà phải tiến lên nữa, không an nghỉ thụ hưởng trong ấy, mà luôn hướng đến Vô thượng Bồ đề, tự lợi lợi tha công đức viên mãn, có như vậy mới làm đúng và đủ chí nguyện ban đầu của người xuất gia tu hành thuở ban sơ:

Hủy hình thủ chí tiết
Cắt ái từ sở thân
Xuất gia hoằng thánh đạo
Thệ độ nhất thiết nhân.

Kính nhắc chính mình, cùng những pháp lữ hữu duyên, luôn rõ biết tâm, biết mình đang như thế nào mà điều tiết cho hợp đạo, tâm tâm gắng tu nương mình trong môi trường Thầy Tổ và đại chúng. Khi chưa được sự chỉ dạy của Thầy Bổn sư, chúng ta không nên rời Thầy và Đại chúng quá sớm. Quan trọng hơn hết, không tự cho phép mình nghỉ ngơi và an ổn khi chưa đủ đạo lực cũng như đức độ từ tự thân. Điều này nguy hiểm vô cùng: “Tăng ly chúng Tăng tàn, hổ ly sơn hổ bại.” Chí nguyện của người xuất gia chúng ta cao cả vô cùng. Tổ Quy Sơn dạy: “Phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long thánh chủng, trấn nhiếp ma quân, dụng báo tứ ân, bạt tế tam hữu…”

Chúng ta đã làm được gì trong chí nguyện cao cả ấy? Mỗi người hãy tự trả lời cho chính mình và nỗ lực tiến lên. Nếu lỡ lùi sụt, hãy bước lên; nếu đang dừng chân, hãy tiến bước; đừng cam chịu (khu trì) trong cái nhỏ bé, hạn hẹp cá nhân, gia đình tôi, cha mẹ tôi… tôi an ổn… sống chết mặc ai… là không nên. Hãy hướng tâm mình rộng lớn, thênh thang, vì mình vì mọi người vì chúng sanh. Cùng cộng sự tu tập và hành đạo, vì có Thầy Tổ, có Tăng thân, đó chính là môi trường lý tưởng của người tu sĩ thời hiện đại.

Đoan Nhu