Nói về sự sinh hoạt ăn mặc đi ở của bần Tăng

29

  Hồi tưởng lại đời sống của bần Tăng, kể từ khi cất tiếng khóc chào đời, gia đình đã không có tiền để sắm quần áo mới. Trên tôi có anh trai chị gái, anh trai luôn được mặc quần áo mới, anh mặc qua rồi mới đến phần tôi; tôi mặc cũ rách, em trai tôi lại có quần áo mới; chỉ có tôi – đứa con thứ đáng thương tội nghiệp chưa được mặc qua bao giờ. Trong đời sống của con người, tuổi thơ là tuổi ham thích mặc quần áo mới nhất, nhưng tôi không có nhân duyên phúc phần như vậy.

Mỗi bộ quần áo của tôi có thể nói là không còn chỗ nào để vá. Đôi lúc, tôi cho rằng mặc đồ rách mọi người nhìn thấy thật là xấu hổ, nên trốn mãi trong nhà. Ngoài việc thỉnh thoảng ra ngoài chơi đùa với những bạn trẻ khác, giữa con nít với nhau sẽ không ai cười ai, bởi vì thôn làng này đều là những người cùng khổ, quần áo họ mặc cũng không tốt hơn tôi bao nhiêu.

Còn nhớ vào tháng 7 năm 1936, tôi được mười tuổi, mẹ vui vẻ nói sẽ may cho tôi một bộ trang phục mới. May xong mẹ đưa cho tôi trước sinh nhật của tôi một ngày. Mẹ nói: “Ngày mai là sinh nhật lần thứ mười của con, con hãy mặc bộ quần áo mới này nhé.” Tôi rất hạnh phúc và vui mừng nhảy cẫng lên như một chú chim sẻ, tôi trang trọng đặt bộ quần áo bên cạnh chiếc gối của mình, trong lòng nghĩ sáng mai tôi sẽ mặc nó. Nhưng, mùa hè ở nông thôn, ban đêm có rất nhiều muỗi, chúng tha hồ hoành hành khắp nơi. Một đứa trẻ như tôi nào hiểu biết gì đâu, nên đi lấy cây nhang muỗi dài hơn một mét châm lửa đốt, phân nửa đặt ngay dưới giường, phân nửa để lên bộ quần áo mới bên cạnh gối, rồi đi ngủ. Nhang cháy một mạch, đến nửa đêm cháy luôn bộ quần áo mới. Khi cháy đến vai, tôi nóng quá giật mình tỉnh ngủ và hét to lên: “Lửa cháy! Lửa cháy!” Tất nhiên, người lớn nhanh chóng chạy vào dập lửa, nhưng quần áo mới của tôi cũng bị lửa đốt rụi. Thế là, không có quần áo mới, cũng không dám than thở với những người khác, tự nghĩ không có phước phần. Mắt nhìn thấy trời đã bình minh, không còn vọng tưởng cũ mới nữa, vì số phận của chúng đã bị khai tử mất rồi.

Năm mười hai tuổi, tôi xuất gia. Vì quá vội vàng không may y phục kịp, cơ thể tôi lại nhỏ bé, Sư phụ nói: “Quần áo của Thầy phải chỉnh sửa một chút, thì con có thể mặc được”. Nhớ ngày đó, tôi đã mặc một bộ quần áo màu xám tro, chiếc áo tràng cũng màu xám tro mà Sư phụ đã may sửa. Sau vài ngày, các sư huynh, sư đệ tặng cho tôi quần áo cũ và áo tràng cũ mà họ không còn mặc nữa, nói: “Những thứ này để huynh thay đổi”. Đời sống mới, sinh hoạt mới của ngày tôi đi tu vẫn bắt đầu từ chiếc quần cũ, áo cũ, áo tràng cũ, không có cảm giác gì mới mẻ. Điều kỳ lạ là khi Sư phụ và các sư huynh cho tôi quần áo, những thứ này còn khá tốt, nhưng tôi mặc chúng trong vài ngày thì rách. Trong lòng tôi luôn cảm thấy rất xấu hổ: cùng một bộ quần áo như nhau, người khác mặc không hư rách, tại sao tôi mặc chỉ được có vài ngày? Do đó, tôi thường tự trách mình không có phước đức nhân duyên. Tôi cũng không buồn phiền và luôn cho rằng có thể có y phục để che thân, còn phân biệt cái gì cũ mới? Nhưng những bộ quần áo cũ của sư huynh đã mặc qua, tôi lại mặc nó lần nữa, thì thường bị rách, mà rách đến hàng trăm lỗ. Tất nhiên, tôi không dám thưa cho Sư phụ biết, chỉ tự mình nhặt mấy mảnh giấy trong sọt giấy lộn, rồi lấy hồ dán lên mấy cái lỗ rách trên quần áo mặc tiếp. Đế giày hỏng, tôi dùng giấy dày lấy đinh ghim lại. Tôi vẫn còn nhớ hai bộ quần áo cũ rách, đôi giày hỏng đã giúp tôi sống qua hai mùa lạnh. Một số người nói: “Thằng bé có ba chấm lửa ở mông”, làm thế nào có thể sống qua hai mùa đông khắc nghiệt đó, hiện nay đã không còn nằm trong ký ức của bần Tăng nữa.

Qua vài năm, tôi dần dần lớn lên, số phận cũng thay đổi, Đại lão Hòa thượng Nhược Thuấn (若舜老和尚 1879 – 1943) – bậc Tôn trưởng Đắc giới của chúng tôi viên tịch. Ngài để lại một số quần áo. Sư phụ tôi rất từ bi, đã chọn một vài bộ y phục và một chiếc áo khoác ngắn cho tôi. May thay, những bộ quần áo đó đã sống cùng tôi qua mấy mùa xuân, ha,̣ thu, đông. Thật kỳ lạ khi nói rằng nó không hề bị rách hỏng. Tôi nhận ra rằng tuổi thọ dài hay ngắn của nó sẽ thay đổi tùy theo chất liệu không giống nhau. Trong trái tim tôi, ngoài việc kế thừa quần áo của Trưởng lão đã viên tịch, cũng nên có ý thức kế thừa phong cách mô phạm của Người và học tập những đức hạnh của Người.

Bần Tăng không còn lo lắng về quần áo nữa, nhưng bao tử của người trẻ tuổi thường không được lấp đầy. Chùa Thê Hà (棲霞寺) là một ngôi chùa nghèo, xưa nay không có điều kiện để chư Tăng yên tâm tu học, nhưng quan trọng là bởi các gia sư và Ban Chức sự quá nhiều nhiệt tâm với Phật pháp. Họ gánh vác gia nghiệp của Như Lai, lập ra Viện Luật học. Lúc đó, đang trong thời kỳ kháng chiến, thường nước trong nồi đã sôi sùng sục, mà vẫn không có gạo để nấu cơm, luôn chờ đợi vị thường trụ mượn đỡ một thạch gạo trên đường mang về.
Một năm có bốn mùa, học Tăng chúng tôi hiếm khi ăn được một bữa cơm ngon; đôi lúc, giờ thọ trai tại quá đường chỉ có một cơm, một rau, lá rau trong bát rất ít mà các loài côn trùng nhỏ nổi trên mặt nước canh thì nhiều. Nói một câu hình dung hơi quá, nếu bạn dùng nước canh để giặt quần áo, cũng được nhưng không tài nào giặt sạch. Tôi thật đáng thương có lẽ do không có chất béo, nên mỗi bữa ăn nếu không có sáu hoặc bảy bát cơm, sẽ không cảm thấy no bụng.

Vào thời điểm đó, món chúng tôi ăn ngày ba bữa đều là bã đậu phụ, còn đậu phụ nguyên chất dành để đãi khách. Nếu bả đậu phụ được rang trong chảo, hoặc nướng trong lò cũng còn tốt, nhưng Ban Quản lý nhà trù của chúng tôi luôn đem nó phơi dưới ánh nắng mặt trời, sau đó trộn muối vào cho chúng tôi ăn. Khi phơi, các loài chim đến rỉa, côn trùng cũng đến chia phần. Lúc chúng tôi ăn, thường được kết hợp với phân chim và xác chết của các loại côn trùng nhỏ, thậm chí đôi khi, mùi hôi rất khó ngửi, cũng đành phải nín thở mà nuốt, vì biết rằng con người luôn cần một chút vị mặn. Đây chính là thời gian tôi tham học ở núi Thê Hà khoảng sáu, bảy năm.

Năm mười tám tuổi, bần Tăng ôm cặp đến Phật học viện Tiêu Sơn (焦山佛学院), Trấn Giang, sinh hoạt nơi đây có nhiều thay đổi. Thời đó, có câu ca dao nổi tiếng:

Kim Sơn thối tử Cao Mân hương
Thường Châu Thiên Ninh hảo cúng dường
Tiêu Sơn bao tử cái Tam Giang
Thượng Hải mỗ tự lý lạp khoang.

金山腿子高旻香
常州天寧好供養
焦山包子蓋三江
上海海会哩拉腔.

Tạm dịch:

Đầu gối Kim Sơn, Cao Mân hương
Thiên Ninh – Thường Châu được cúng dường
Bánh bao Tiêu Sơn tha hồ hưởng
Hải Hội – Thượng Hải bụng rỗng thường.

Ý nói đầu gối, hai chân của bạn phải cho tốt. Nếu bạn có đôi chân mềm mại và bền bỉ ngồi thiền lâu khoảng hai, ba giờ đồng hồ, mới có đủ tư cách vào Thiền đường chùa Kim Sơn (金山寺). Còn chùa Cao Mân (高旻寺) – Dương Châu, mỗi lần toạ thiền là một cây nhang, mà một cây nhang cũng phải đến vài giờ. Riêng chùa Thiên Ninh (天宁寺) – Thường Châu một ngày ba bữa thức ăn rất phong phú. Chùa Tiêu Sơn Định Huệ (焦山定慧寺) mỗi năm đả thất bảy lần, bảy bảy bốn mươi chín ngày, mỗi khi nghe “Đại bản hương” buổi tối, là bắt đầu ngồi thiền, sau một giờ bốn mươi lăm phút, sẽ được chia mỗi người một cái bánh bao thật to. Học Tăng trẻ chúng tôi, nào biết được cái gì là tham thiền ngộ đạo, ngồi cốt chỉ để ăn cái bánh bao rau. Ngoài việc tọa thiền trong ngày, mỗi đêm chúng tôi còn cam tâm tình nguyện ngồi một giờ bốn mươi lăm phút nữa để được ăn; chùa Hải Hội (海会寺) – Thượng Hải, quy củ ở đây rất tùy tiện (không tuân thủ kỷ luật).

Chùa Kim Sơn là một ngôi chùa nổi tiếng của Phật giáo, từ Thiền sư Phật Quả Khắc Cần (佛果克勤禅师) đời Tống, Thiền sư Nhược Am (箬庵禅师) đời Thanh… làm Trụ trì cho đến nay, Tăng chúng đều kiên trì ngồi kiết già, bất luận đầu gối có bị mỏi tê sưng đau như thế nào cũng không cho đổi chân, bằng không thì bị quỳ hương. Do đó, vấn đề ngồi Thiền tại chùa Kim Sơn cần phải luyện đôi chân mềm và bền mới được.

Đặc điểm của chùa Cao Mân là thời gian ngồi thiền rất dài, không chỉ mỗi ngày phải ngồi đến 14 nén nhang, mà một nén nhang dài khoảng hai đến ba giờ đồng hồ, yêu cầu nghiêm ngặt; chùa Thiên Ninh ở Thường Châu đầu nhà Thanh vốn là đạo tràng của Luật Tông, từ khi Thiền sư Đại Hiểu Thật Triệt (大晓实彻禅师 1685 – 1757) chủ trì và chuyển sang Thiền tông, thường có hơn mười nghìn học Tăng vân tập để tham gia tu thiền, chế độ ăn uống rất tốt, Phật tử cúng dường cũng rất phong phú. Chùa Cao Mân, chùa Thiên Ninh, chùa Kim Sơn (còn gọi Thiền tự Giang Thiên), được tôn xưng là ba ngôi Đại Tùng Lâm của tông Lâm Tế. Các món điểm tâm của buổi toạ thiền tối tại chùa Tiêu Sơn – Trấn Giang là món bánh bao rau nổi tiếng nhất, riêng chùa Hải Hội quy củ quá rời rạc. Còn nhớ khi tham học tại Phật học viện Tiêu Sơn, tôi vẫn chưa trưởng thành, tham thiền một cách vô tâm, thực ra việc tu hành cũng chi là mỗi đêm chờ tiếng đại bản hương, sau một giờ mười lăm phút, được chia một cái bánh bao lớn mà thôi!

Tóm lại, câu ca dao trên, nói đến Tông phong của các Tòng Lâm. Mặc dù mỗi nơi đều có Tông phong riêng của họ, nhưng chúng ta cũng có thể nhìn thấy sự tinh tấn tu học của chư Tăng và nền giáo dục nghiêm ngặt gắt gao trong chốn Tòng lâm Phật giáo. Xem ra có lẽ dường như không thông tình người, nhưng tầng lớp sâu thẩm nhất của nó lại là lòng từ bi và sự quan tâm đối với học Tăng chúng tôi. Tinh tấn tu hành trong Thiền môn xứng đáng là tấm gương cho các học Tăng thời nay; giáo dục trong Thiền môn đáng để cho các giảng sư tư duy sâu sắc hơn.

Năm hai mươi ba tuổi, bần Tăng đến Đài Loan, quảy y bát đi khắp mọi nơi, không ai tiếp nhận, nhờ được Đại lão Hoà thượng Diệu Quả (妙果老和尚 1884 – 1963) chùa Viên Quang, Thành phố Trung Lịch tiếp nạp và trụ nơi đây. Thức ăn mỗi ngày là món bắp cải Hàn Quốc không dầu rất khó nuốt trôi. Sau hơn một năm, may mắn thay, gặp lúc chùa Linh Ẩn – hồ Thanh Thảo, Thành phố Tân Trúc mở lớp học, Hội Giảng tập (Phật Học viện) Phật giáo Đài Loan đã mời tôi đảm trách Trưởng phòng Giáo vụ. Hồ Thanh Thảo là một khu du lịch phong cảnh tuyệt vời, thường có nhiều du khách đến tham quan, thời gian gần hai năm, thức ăn thừa của khách được thầy trò Hội Giảng tập chúng tôi sử dụng. Các học Tăng tự chế giễu và nói rằng tất cả những gì chúng ta ăn đều là “Mật ti Phật Đà” (蜜絲佛陀: mỹ phẩm). Vì trong những năm đó, hầu hết phụ nữ đều dùng “Mật ti Phật Đà” để trang điểm, và trong các món ăn còn lại tự nhiên có hương vị phấn sáp son môi. Mặc dù vậy, chúng tôi cũng không cảm thấy nghèo, tôi nói với các học Tăng rằng họ là “Quý cô” (Miss), mà chúng ta là “Phật” thì tốt rồi. “Ta đã là Phật”, còn cảm thấy nghèo hay sao? Tôi xuất gia từ thời thơ ấu, thức ăn tại Quá đường (過堂) chỉ có một cơm, một rau. Tôi đã sống trong Tòng Lâm nhiều thập kỷ qua, đến bây giờ trở thành một Hòa thượng già, tôi vẫn thích nhất là một rau, một cơm, thậm chí không cần cơm rau, một bát mì cũng đầy đủ hương vị.

Năm 1953, tôi hai mươi sáu tuổi, cư sĩ Ngô Tùy ở Đài Bắc mời tôi đi giảng kinh, chuẩn bị một bàn ăn chay, chỉ có một mình tôi ăn. Tôi thường quen với một bữa ăn cơm rau, và tôi không biết phải làm gì với một chiếc bàn với hàng tá món ăn, thật không biết phải chọn món nào. Mãi cho đến bây giờ, tôi cảm thấy “đáng tiếc, đáng tiếc”, đó là một sự hối tiếc khó quên. Lại một lần khác, ông Đào Nhất San – Trưởng Công an, (đã đọc qua bộ Truyện Phật Thích Ca Mâu Ni 釋迦牟尼佛傳) của tôi, ông nói sẽ mời tôi một bữa ăn tại biệt thự của ông, cũng gọi một bàn chay trong nhà hàng Vĩnh Hoà, chỉ có tôi và ông, tôi cũng cảm thấy rất tiếc. Sau bữa ăn, tôi muốn xuống miền Nam, ông đặc biệt tìm người để mua cho tôi một vé tàu hỏa. Tôi nhìn xung quanh, nào giường ngủ, nào thiết bị tắm giặt, đầy đủ mọi thứ, tôi nghĩ rằng, cái toa chuyên dụng này nên để Tổng thống ngồi mới đúng! Kể từ đó, tôi không dám qua lại với ông nữa. Tại sao? Loại tình cảm sâu nặng này thật ra không phải là thứ mà tôi có thể thọ nhận được. Hơn nữa, nhân tốt, duyên tốt là để thừa hưởng ở tương lai, hà tất phải hưởng thụ nó hoàn toàn vào lúc này?

(còn tiếp)

Đại sư Tinh Vân (Thanh Như trích dịch)