Nói về sự sinh hoạt ăn mặc đi ở của bần Tăng (phần 2)

22

  Khi tôi khoảng 30 tuổi, tôi đã thấy nhiều Pháp sư trong các đạo tràng ở Đài Bắc thường mời mọi người đi ăn, mặc dù một bàn thức ăn vài trăm tệ, nhưng nó thực sự khiến tôi cảm thấy rất buồn, tại sao lại tiêu nhiều tiền như vậy? Ăn như thế, làm thế nào có thể giúp đỡ nhân sinh? Tôi đã từng đến Kim Môn du lịch, ông Diệp Cánh Vinh – Tư Lệnh Kim Môn, đặc biệt yêu cầu Tham mưu trưởng thực hiện bữa tiệc chay hoan nghinh chúng tôi. Tôi nhớ lần đó món đầu tiên dọn ra: một bát xúp lớn; món thứ hai một bát mì; sau đó cứ tiếp tục bưng ra lại dọn lên, thức ăn không giống nhau, một đĩa cơm chiên, rồi một đĩa trái cây. Súc tích mà rõ ràng, đơn giản mà ngon miệng. Cho nên, tôi nghĩ rằng bữa ăn do Tham mưu trưởng chuẩn bị lúc đó giống như “Bữa ăn Mai Hoa” sau này do Tướng quân Tưởng Kinh Quốc (1910 – 1988) con trưởng của Tưởng Giới Thạch và Tưởng Vĩ Quốc (1916 – 1997) con thứ của Tưởng Giới Thạch đề xướng rất giản lược.

Năm hai mươi sáu tuổi, bần Tăng đến Nghi Lan. Tôi một đời chưa từng sử dụng qua đèn điện, đột nhiên trong gian nhỏ chùa Lôi Âm của phái Long Hoa thuộc khu vực thành phố Nghi Lan, trước bàn Phật có một ngọn đèn sáng với khoản thanh toán hàng tháng là mười hai Đài tê. Đợi đến khoảng chín, mười giờ tối, sau khi các tín đồ giải tán, tôi đã cầu xin Đức Phật chia cho tôi một ít ánh sáng. Thời đại đó, các tư nhân trong dân gian còn chưa có thể truy cập dây điện, đường dây lại không đủ dài, tôi kéo bóng đèn đến trước cánh cửa phòng ngủ, một nửa có thể chiếu sáng điện Phật, một nửa tôi có thể viết Ngọc Lâm Quốc sư và Thích Ca Mâu Ni Phật Truyện trên bàn máy may, nhưng cửa phòng không thể đóng lại được.
Trước đây, mặc dù tôi đã xuất bản Vô Thanh Đích Ca Xướng (無聲息的歌唱) và Quán Thế Âm Bồ tát Phổ Môn Phẩm giảng thoại (觀世音菩薩普門品講話), nhưng tôi hoàn toàn không để tâm lắm về con đường tiêu thụ của chúng; đến hai quyển sách này, tuy không dám nói giấy Lạc Dương quá đắt, nhưng phát hành lại rất tốt, các nước và khu vực như: Malaysia, Singapore, Philippines, Hồng Kông… đều bán được hàng trăm quyển tại hàng trăm địa điểm. Mãi cho đến nay, hai cuốn sách này không chỉ là sách bán chạy nhất mà còn là sách tiêu thụ lâu dài nhất.

Nhân hai quyển sách này,̀ nền kinh tế của tôi đã có chút cải thiện, tôi hơi tự mãn, liền mang chúng đến các tiệm sách ở Nam Lộ Trùng Khánh Đài Bắc, nhờ họ lưu hành giúp tôi. Thật không ngờ, cho dù tôi năn nỉ thế nào, chủ nhà sách đều không chịu tiếp nhận. Họ nói cũng đúng, sách Phật giáo không có người xem, cũng không có chỗ để. Thậm chí tôi nói với họ rằng sách này cho các ông, bán được tiền là của các ông, tôi sẽ không lấy một xu. Họ vẫn từ chối và nói, không có chỗ để sách Phật! Cuối cùng, tôi đành thất vọng ra về.
Về đời sống tu hành thời gian đầu của bần tăng tại Hội Niệm Phật ở Nghi Lan, nơi đây bàn ăn cơm được kết hợp bởi hai miếng gỗ tạm thời, giữa hai mảnh gỗ có khe hở nên đũa ăn cơm thường lăn xuống ở giữa khe hở đó. Muỗng ăn canh thì lấy mảnh thiết mỏng tự mình làm bằng tay, chất lượng rất nhẹ, chỉ một luồng gió đi qua, muỗng sẽ bay trên sàn nhà, phải cúi xuống nhặt lên để tiếp tục ăn canh. Giường ngủ được làm bằng tre, chỉ cần ngồi xuống, sẽ tạo ra âm thanh kèn kẹt, trong vòng vài mét vẫn nghe rõ.

Nhớ lại vào năm Dân Quốc thứ bốn mươi hai (1953), cụ ông Nghiêm Bỉnh Viêm, phụ thân của Nghiêm Trường Thọ, rất thương yêu học Tăng trẻ chúng tôi. Một lần ông đến Nghi Lan thăm tôi, cùng tôi ngủ chung chiếc giường. Tôi nói: “Ông đừng trở mình nhé, không được để âm thanh cọt kẹt của giường tre cho người bên ngoài nghe thấy, họ sẽ mất ngủ.” Cách đây không lâu, tôi đã nói việc này với ông Nghiêm Trường Thọ và ông cũng cảm nhận được đời sống gian nan lúc đó nên than thở mãi không thôi. Ngoài ra, để đi vệ sinh, phải đi qua đường từ mười lăm đến hai mươi phút, mới có thể đến ga xe lửa Nghi Lan, đến nỗi để giải quyết vấn đề tắm rửa giặt giũ như thế nào, tôi đã không còn ghi lại trong ký ức.

Từ khi tôi sống ổn định tại Nghi Lan, ba tháng sau, các tín đồ đã mua cho tôi một cái ghế tre giá rẻ trong nhà tù, tôi cũng có một cái bàn dài lại thêm một chiếc ghế tre có thể ngồi viết lách. Kể từ đó, nơi ăn chốn ở của tôi đã được cải thiện. Dần dần, tôi thành lập các lớp học cho nhóm thanh niên và nhi đồng tại Nghi Lan như: Hội học sinh, Ban văn nghệ, Lớp nhi đồng, Đội ca hát… Lúc đó, có một số người nói cái kiểu mà tôi đang hoằng dương là “Nhân gian Phật giáo” (人間佛教). Buổi sáng, chúng tôi ngồi thiền, buổi tối niệm Phật, lúc thì giảng kinh, lúc thì thuyết pháp, các tín đồ có tâm đều đến tham dự. Cho nên, tôi đặt ra: “Hạnh là ở chỗ cùng tu Thiền tịnh, Giải là giảng giải tất cả Phật pháp”, đem Phật giáo truyền thống và hiện đại kết hợp với nhau.

Cho nên, khổ là tăng thượng duyên của chúng ta, chịu gian khổ mới có thể tiến bộ, chịu gian khổ mới có nhân duyên. Đời sống thanh bần, đầu đà khổ hạnh, mới nuôi lớn đạo tâm, còn có điều gì không thể chấp nhận được hay sao? Đến nỗi khi đi hoằng pháp bên ngoài, tôi dựa trên hai chân của mình, tôi không biết là đã đi qua bao nhiêu trăm ngàn dặm đường tại Đài Loan. Lúc đó, để tiết kiệm chi phí, tôi luôn luôn dùng đôi chân thay cho bánh xe, đi bộ theo đường núi, đường biển, đường mòn để vào thôn làng, đi đi lại lại như con thoi, thường thường từ đây đến nơi kia, phải tiêu mất bốn hoặc năm tiếng đồng hồ là việc đương nhiên, nhưng tôi không cho là khổ, ngược lại cảm thấy đi bộ thật ra là một sự hưởng thụ tuyệt vời trong cuộc sống.

Nền kinh tế dần dần hơi ổn định, tôi cũng đã mua cho mình một chiếc xe đạp thay cho đi bộ, hoặc ngồi xe lửa, xe buýt, thậm chí khi nhận lời mời đến các nơi hoằng pháp, thì các tín đồ cũng sẽ chuẩn bị công cụ giao thông cho tôi, từ xe kéo, xe ba bánh trước đây, cho đến xe ô tô, xe buýt lớn sau này, mãi cho đến hàng loạt chuyến đi như: Tàu du lịch, tàu điện, máy bay, đường sắt cao tốc, tàu nổi… như hiện nay, ngay cả khi thuyết pháp trong quân đội, tôi còn ngồi cả chiến xa, xe tăng, tàu chiến, máy bay trực thăng…

Nói đến xe hơi, những năm gần đây, các tín đồ khắp nơi nói rằng họ muốn tặng cho tôi chiếc xe, đặc biệt là chiếc xe hơi thương hiệu nổi tiếng, nhưng họ đã bị tôi từ chối. Tôi nói, điều này không ổn, anh cho tôi một chiếc xe tốt như vậy, nếu tôi ra ngoài làm việc, khi xuống xe, trong lòng lo nghĩ đến nó có bị va chạm hay không, ngược lại trở thành gánh nặng. Đã từng có một tín đồ không đếm xỉa đến sự phản đối của tôi, nhất định đem xe đến Phật Quang Sơn, tôi đành phải giao cho thường trụ, chiếc xe này dùng để đón tiếp các nhà hảo tâm, các vị khách quý.

Khoảng ba mươi năm trước, Phật Quang Sơn có một chiếc “xe cam nhông” chín chỗ ngồi, mỗi lần xe khởi động, luôn có nhiều người đi theo. Để đáp ứng đầy đủ sự mong muốn của mọi người, về sau nó đã được cải tổ thành một chiếc xe hai mươi sáu chỗ. Điều kỳ lạ là vào thời điểm đó chiếc xe có thể thông qua được sự kiểm tra của Cục Quản lý đường sắt. Sau khi chiếc xe đã sử dụng nhiều năm, nó cần được “nghỉ hưu” vì luôn nghĩ, nó có công với chúng tôi, cho nên, tôi không nhẫn tâm để cho mọi người thu mua làm vật phế liệu. Sau đó, chúng tôi tìm một nơi trong Phật Quang Sơn để nó “dưỡng già”.

Tóm lại, tại Đài Loan, tôi lên núi xuống biển, đi trong nước ngoài nước, phương tiện giao thông có thể nói là đa dạng, bạn có thể tham khảo bài văn “Công cụ giao thông của tôi – Bách Niên Phật Duyên” (百年佛缘‧我的交通工具), trong đó có nói rất rõ ràng chi tiết. Cái gọi là “đi thuyền cưỡi ngựa ba phần sống” (ý nói sự nguy hiểm), sinh mệnh của bần tăng cũng không có giá trị gì, nhưng vì hoằng dương chánh pháp, cũng phải chú ý nhiều về vấn đề an toàn hay không an toàn như thế.

Việc ăn, mặc, đi, ở của bần tăng trước đây đã trở thành quá khứ, hiện nay hoàn toàn không thể so sánh với ngày xưa. Những bộ quần áo bây giờ, độ dày mỏng khác nhau tùy theo các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông đều do các tín đồ lo liệu cho tôi, nhưng trong nhiều thập kỷ qua, bất luận là nóng hay lạnh tôi đã quen mặc cùng một mùa. Ngoài ra, cũng có nhiều tín đồ hay dùng y phục để kết duyên với tôi, chẳng hạn như chiếc ca sa “Vạn Phật Tổ y” (萬佛祖衣) của Pháp sư Tâm Huệ – Vancouver, Canada gửi tặng, nhưng tôi làm sao dám đắp cái Phật y đầy màu sắc đó? Bốn hoặc năm năm trước, xưởng dệt Chức Tạo Giang Ninh của tiền bối Tào Tuyết Cần (曹雪芹1715 – 1763) tác giả bộ tiểu thuyết nổi tiếng “Hồng Lâu Mộng” (紅樓夢) đã từng trấn nhậm, đến nay xưởng này vẫn còn tại Viện Bảo tàng Vân Cẩm – Nam Kinh (雲錦博物館), đã tặng tôi một chiếc ca sa Vân Cẩm (gấm hoa), cho đến chiếc ca sa Kim Lan của Pháp sư Đỉnh Vũ – Hàn Quốc tặng tôi, đẹp biết bao, khí thế biết bao, đương nhiên, tôi cũng không dám đắp mặc. Hiện nay, chúng đã được đem đến cất giữ trong kho báu của Bảo tàng Phật Quang Sơn.

Đối với việc ăn uống hiện nay, các tín đồ nhiều vùng miền liên tục mang lễ phẩm tặng tôi như các loại trái cây tươi, các loại bánh khô… Những thực phẩm ấy tôi đâu có thể ăn được? Nhất là tôi lại mắc bệnh tiểu đường hơn 40 năm, làm sao ăn đây? Mỗi lần được biếu tặng quá nhiều, tôi lần lượt gửi chúng đến các đơn vị Phật Quang Sơn, mọi người hưởng đồng đều. May thay các đệ tử, các sinh viên của tôi đều là bần Tăng, chia cho một ít họ cũng rất vui mừng.

Bây giờ, tôi cũng đã từ chức nghỉ hưu, lại là nhân vật thứ hai tại Phật Quang Sơn, do đó, trong Trai đường không có chỗ ngồi của tôi. Nhưng trong liêu Khai Sơn (開山寮) của tôi, có một thị giả lãnh trách nhiệm hằng ngày chuẩn bị bữa ăn cho tôi. Chỉ là, mỗi khi tôi ăn cơm, thường có mười mấy hai mươi người không hẹn mà cùng đến. Tôi rất lo lắng: Sự việc như thế này, thầy thị giả làm sao có thể chuẩn bị trọng lượng khẩu phần cho rất nhiều người đây? Nhưng Pháp sư Giác Cụ (覺具法師) – thị giả của tôi không chỉ là Thạc sĩ của Đại học Nam Hoa, mà còn thực sự thông minh tài cán, trong những năm qua, nấu cơm, luộc rau, tư thế luôn luôn thung dung nhàn tĩnh. Có nhiều người thầy nấu cho nhiều người; có ít người, thầy cũng có biện pháp cho ít người, từ xưa đến nay chưa có Phật tử nào đến muốn ăn chay mà làm khó được thầy. Nói tóm lại, đối với chế độ ăn uống tôi hoàn toàn không có sở thích riêng, ngay cả khi bị bệnh tiểu đường, cũng không yêu cầu đệ tử làm thức ăn đặc biệt cho tôi, nếu hỏi những món ngon trong nhân gian là những gì, tôi sẽ nói rằng đó là củ cải khô và cơm ngâm trà.(3)

Nơi ở hiện nay của tôi, sau mười tám năm đảm nhiệm chức vụ Trụ trì Phật Quang Sơn, ba mươi năm trước, Pháp sư Tâm Bình – người kế vị Trụ trì đời thứ hai đã xây dựng một dãy liêu Khai Sơn cho tôi, diện tích to rộng, ngay cả sân vườn có lẽ cũng 300 hoặc 400 m2. Sau đó, tôi cảm thấy sân quá lớn, chỉ có một mình tôi hoạt động thật là một điều đáng tiếc, thế là tôi tháo dỡ Pháp đường cũ để kiến lập một ngôi “Truyền Đăng Lâu”, liêu Khai Sơn Pháp Đường cũng ở trong đây. Bên cạnh đó, các đơn vị liên quan với tôi như Hội Truyền Đăng, phòng Thư ký, Viện Nghiên cứu Phật giáo Nhân gian… cùng sử dụng ngôi Truyền đăng này để làm việc, đôi khi các hội viên của hội Ủy viên Tôn giáo cũng mở cuộc họp nơi đây.
Tại Phật Quang Sơn, tất cả các kiến trúc không phải của bần Tăng, chỉ có Lầu Truyền Đăng là nơi tôi cư trú. Tại sao tên gọi “Truyền Đăng”? Bởi vì tôi từng nói qua, mặc dù thoái vị chức vụ Trụ trì Phật Quang Sơn, nhưng không thể thoái vị mối quan hệ giữa tình sư đệ. Do đó, trong quan hệ “Truyền Đăng” của sự truyền thừa giữa Thầy và đệ tử, tự nhiên tôi rất dụng tâm.

Tuy nhiên, mặc dù nơi cư ngụ rất rộng rãi, nhưng bần Tăng vẫn quen sử dụng ghế sofa như một chiếc giường, có lẽ đây cũng là thói quen của bần tăng! Nhớ ngày sinh nhật sáu mươi tuổi, các đệ tử cố tình chọn cho tôi một chiếc giường đặc biệt, nhưng từ trước đến nay tôi không bao giờ sử dụng qua; sau này đến chùa Tây Lai – Hoa Kỳ, họ cũng chuẩn bị cho tôi chiếc giường giống như vậy, nhưng bất kể kiểu dáng gì đi nữa, tôi ngủ không quen vì nó quá mềm, thà ngủ trên đất, có thể ngủ một giấc đến sáng. Tất cả những điều này đều là nói đến kinh nghiệm của tôi về phương diện ”trụ”.

Đối với việc đi đứng hiện nay rất thuận lợi, bần tăng đã có công cụ giao thông riêng mình. Phật Quang Sơn cung ứng cho tôi một chiếc xe sản xuất trong nước, có thể ngồi được bảy hoặc tám người. Thật ra, xưa nay không bao giờ có ít hơn bốn người trong chuyến đi, bất luận đi đến đâu, xe cũng chất đầy ắp người, bao gồm cả hai Trưởng lão Pháp sư Từ Huệ và Từ Dung (慈惠、慈容法師), họ có vị trí quan trọng ở Phật Quang Sơn. Hiện nay, họ cũng có phương tiện đặc biệt của riêng mình để đi và về, nhưng họ rất vui khi được đi xe miễn phí. Cho nên, xe của tôi thường bị quá tải, có khi chứa từ mười người trở lên. Mặc dù bần Tăng không cố ý vi phạm luật pháp, nhưng cũng không có cách nào, thà bị phạt cũng phải thỏa mãn mong muốn của các đệ tử.

Về việc sinh hoạt ăn ở đến đi, lúc bần Tăng còn trẻ, trong lòng cũng từng nghĩ qua, đợi sau này có tiền, cần phải mua quần áo gì và ăn thức ăn gì… Thật ra, đến hôm nay, tôi đã có quyền mua chúng, nhưng tôi không muốn quan tâm đến chúng, tùy duyên, đơn giản, chính là một đời sống tốt đẹp.

Đại sư Tinh Vân (Thanh Như trích dịch)



Chú thích
(1) Đại bản hương (大板香): Chỉ tịnh và Khai tịnh. Chỉ tịnh (止静) là tín hiệu tọa thiền tham tu tĩnh mặc. Đại bản hương: khởi ba tiếng chuông; tiểu hương: Đánh ba tiếng mõ. Khai tịnh (开静): Thiền giả khi ngồi thiền nghe tín hiệu ngưng việc tọa thiền, cho phép khởi động rời tòa phân tán.
(2) Thiền sư Phật Quả Khắc Cần (佛果克勤 1063 – 1135), còn gọi là Thọ Thánh Quả Tôn giả (受圣果尊者), tự Vô Trước (无著), tứ hiệu Viên Ngộ (圆悟), thuộc tông Lâm Tế đời Tống.
(3) Cơm ngâm trà (茶泡飯: Ở miền nam Trung Quốc, thường lấy nước trà nóng cho vào cơm nguội gọi là cơm ngâm trà. Thông thường để muối, mận khô, rong biển ngâm cùng với cơm. Ăn như vậy rất dễ làm lại đơn giản.