Nói về các loại tình yêu trong nhân gian

70

  Thông thường, đối với chủ đề này ai cũng luôn cảm thấy hiếu kỳ, bởi vì mọi người đều cho rằng chỉ có tình yêu nam nữ mới được gọi là “Đàm luận về tình yêu”. Thật ra, không nhất thiết chỉ có tình yêu nam nữ mới gọi là tình yêu, mà tình yêu giữa cha mẹ và con cái, tình hữu nghị giữa bạn bè, tình yêu giữa anh chị em đồng nghiệp… đều là tình yêu.

Thế giới của tình yêu rất rộng lớn, chúng ta không những yêu xã hội loài người, như yêu cha mẹ, yêu bạn bè, yêu đất nước… mà chúng ta cũng yêu những loài thực vật. Xưa có Đào Uyên Minh (陶渊明 352 hoặc 365 – 427) yêu hoa cúc, Chu Đôn Di (周敦颐 1017 – 1073) yêu hoa sen; nay có Tướng quân Tưởng Vĩ Quốc (蒋纬国 1916 – 1997) đề xướng “phong trào hoa mai” và ông muốn mọi người đều yêu hoa mai… Có người lại thích động vật, họ nuôi mèo, chó và chim bồ câu… Thậm chí có một số người thích khoáng vật thiên nhiên, họ thu thập tất cả các loại vật thể lạ bằng đá hiếm quý để thưởng ngoạn; có người còn sưu tập tem, sưu tập hộp diêm quẹt… Ái mộ chúng sanh hữu tình tất nhiên cũng là một loại tình yêu, mà ưa thích cỏ cây vô tình cũng là tình yêu.

Thường nghe có người đặt câu hỏi: “Con người từ đâu đến và đến như thế nào?” Trong kinh điển Phật giáo có nói: “Con người đến từ tình yêu!” Kinh nói: “Tình yêu không nặng, không sanh vào cõi Ta bà” (爱不重, 不生娑婆), còn gọi nhân loại chúng ta là “hữu tình chúng sinh” (有情众生), có thể biết rằng con người ai cũng có tình cảm, có đời sống tình yêu, tình yêu là gốc rễ của mạng sống. Có tình yêu thuộc về tình yêu “nhiễm ô”, có tình yêu thuộc về tình yêu “thuần khiết”, có tình yêu thuộc về tình yêu “chiếm hữu”, có tình yêu thuộc về tình yêu “phụng hiến”. Rốt cuộc “tình yêu” là gì?

Về mặt xấu, tình yêu giống như một sợi dây, nó sẽ trói buộc chúng ta, làm thân tâm chúng ta không được tự do. Tình yêu giống như một ổ khóa, nó sẽ khóa chặt chúng ta, khiến chúng ta không khoảnh khắc nào được yên ổn; đôi khi tình yêu như mây mù, vây hãm chúng ta trong bóng tối mà chúng ta hoàn toàn không biết. Tình yêu giống như mật mía ở lưỡi dao, vì tham nếm chút ngọt ngào đó, có thể bị nguy cơ đứt lưỡi mất mạng. Tình yêu giống như biển khổ, cái gọi là “biển ái rộng nghìn thước” (爱河千尺浪) đó, nó có thể nhận chìm chúng ta trong biển khổ.

Về mặt tốt, tình yêu là hy sinh, là phụng hiến; tình yêu là nương tựa, là từ bi. Đối với công chúng, họ luôn hy vọng được người yêu thương và thích giành được cảm tình của người khác, nhưng có một số người lại thích bộc lộ tình yêu của mình để yêu thương mọi người trong xã hội. Nhưng, đôi khi tình yêu rất dễ xảy ra vấn đề, bởi vì “yêu” và “ghét” là anh em cùng một giuộc với nhau, hầu như không thể tách rời, nếu không yêu được, sẽ trở thành hận. Bởi vì tình yêu mà hầu hết mọi người trong xã hội nói đến thường bị giới hạn trong tình yêu nam nữ, mà không thể tiến triển bằng cách đem tình yêu của mình, hoài bão của mình lấp đầy cho đồng bào, đồng loại; đem lòng từ bi của mình, yêu thương ái hộ của mình, thăng hoa cho tất cả chúng sinh. Hôm nay, tôi muốn chia ra bốn tầng lớp để nói về tình yêu trong thế gian. Đó là:

1. Tình yêu của hàng phàm phu tại thế gian;
2. Tình yêu của chư Thánh hiền tại thế gian;
3. Tình yêu của bậc La hán tại thế gian;
4. Tình yêu của Đức Phật tại thế gian.
I. Tình yêu của hàng phàm phu tại thế gian

Tình yêu của phàm phu trên thế gian thường hẹp hòi và có giới hạn. Tình yêu của họ là chiếm hữu, là có hình tướng, cho nên đôi khi phát sinh ra nhiều vấn đề, tóm tắt nguyên nhân của nó, đại khái có mấy loại sau đây:

1. Đối tượng tình yêu không đúng

Khi thấy có người mình thích, trong đầu liền khởi lên sự ái mộ, là việc thường tình của chúng ta, nhưng lúc đó đối tượng ái mộ không những không thể tăng thêm hạnh phúc, ngược lại chuốc thêm phiền não. Ví dụ, đối phương đã có vợ, hoa đẹp đã có chủ mà vẫn khổ sở đeo đuổi, chỉ có tạo thành bi kịch. Hơn nữa, có cảm tình hay không là việc của đối phương, hoa rơi hữu ý mà nước chảy lại vô tình, không thể miễn cưỡng họ. Mức độ của tình cảm cũng phải nên nông thì nông, nên sâu thì sâu, nếu đắm chìm thái quá, khó tránh khỏi sẽ dẫn đến kết quả không thành công.

2. Quan niệm tình yêu không đúng
Một số người nghĩ rằng gia tài đồ sộ có thể mua được tình yêu của người khác, một số người cho rằng thân phận không cân xứng, môn hộ không tương đương thì không thể qua lại, đây là những quan niệm sai lầm. Lấy ví dụ về tình yêu giữa nam và nữ để nói: Vấn đề hôn nhân trong quá khứ, nhất định phải có nhiều sính lễ làm mai mối, mới có thể nói đến việc dựng vợ gả chồng; hoặc giả, khi nói về tình yêu, luôn chú ý đến thân phận, gia thế, dung mạo, học lực, nghề nghiệp… của đối phương, nêu ra rất nhiều điều kiện. Loại tình yêu như vậy đã trở thành loại tình yêu giai cấp vật chất, không phải là chân chính, bởi vì tình yêu đích thực không xem trọng điều kiện, tình yêu càng sâu tổn thương càng nặng hoàn toàn phải trả giá.

3. Chế độ tình yêu không đúng
Một số người cho rằng họ có thể cưới ba thê bốn thiếp, phòng ốc hoa lệ để thê thiếp tận hưởng phước báo bình đẳng. Đây là tình yêu riêng tư ích kỷ đam mê lạc thú của cá nhân. Một số thì đối với người tâm ái, ngay cả khi họ sai lầm cũng không chỉ lỗi để sửa sai, còn những người mà mình chán ghét thì bắt bẻ bằng mọi cách, đôi mắt của họ dường như bị phủ mờ bởi một lớp mây, không thể nhìn rõ mặt thật của đối phương. Do đó, có người nói: Tình yêu là mù quáng. Chúng ta nên nhận thức về “yêu mà biết điều ác, ác mà biết điều thiện” mới có thể phát huy công dụng tình yêu chân chính.

Câu chuyện dưới đây răn nhắc chúng ta: Có một trưởng giả rất yêu thương đứa con độc nhất của ông, không nhẫn tâm để con mình chịu khổ. Quần áo mặc bởi những người phục vụ, ăn cơm đút bằng muỗng, hắn đã được chiều chuộng như vậy cho đến năm ba mươi tuổi, muốn gì có nấy, không làm bất cứ việc gì, tất cả mọi thứ đều không lao động tay chân. Một hôm, phú ông đã qua năm mươi tuổi và đặc biệt mời một nhà chiêm tinh đến xem bói. Nhà suy đoán số mệnh cho biết tuổi thọ phú ông đến tám mươi, mà con trai chỉ có thể sống đến sáu mươi hai tuổi. Đây là điều kinh khủng, thời gian sống của phú ông còn quá ngắn, ông chưa kịp thương tâm thay cho con trai mình thì hắn đã đập đầu than khóc kêu trời trách đất: “Cha ơi! Cha chỉ có thể sống đến 80 tuổi, lúc đó con mới 60 tuổi con phải sống thêm vài năm nữa; khi cha ngủ trong quan tài, ai sẽ nuôi dưỡng con? Làm sao con có thể mặc áo, ăn cơm đây”?

Sự chiều chuộng sai lầm của cha mẹ ngược lại đã làm tổn thương đời sống của con cái họ, tình yêu của cha mẹ là cổ vũ khuyến khích, để mang lại sức mạnh to lớn cho con cái và đưa ra những lựa chọn đúng đắn cho cuộc sống. Hai mươi năm trước, Pháp sư Từ Trang (慈庄法师) – hiện đang là trụ trì của chùa Tây Lai (西来寺), quyết định xuất gia, cha mẹ cô vừa rơi nước mắt vừa mỉm cười cho đến khi buổi lễ hoàn thành. Tại sao cha mẹ cô vừa vui vừa buồn, vừa khóc vừa cười? Đằng sau những giọt nước mắt trong suốt ấy, đó là loại tình yêu như thế nào? Trong giới Phật giáo ngày nay, có rất nhiều sinh viên phát tâm xuất gia, những thanh niên trí thức lại hiến thân cho Phật giáo là một điều hiếm thấy. Nhưng hơn hai mươi năm trước, khi phong trào Phật giáo ở Đài Loan vẫn còn trong tình trạng bế tắc chưa phát triển, mà một thanh niên trí thức của nền giáo dục cao đẳng dấn thân vào Phật giáo, thật sự là rất khó. Hà huống cha mẹ cô đối với tình yêu cốt nhục, hy vọng con cái của họ vĩnh viễn có thể hầu hạ dưới gối của mình, nhưng giữa họ lại có tình yêu đạo pháp. Làm cha mẹ, giữa nụ cười và nước mắt còn có một ý nghĩa sâu sắc khác.

Thật ra, Phật giáo hoàn toàn không phản đối tình yêu đúng đắn của nam nữ, tình cảm giữa vợ và chồng. Tuy nhiên, tình yêu của một số thanh niên nam nữ trong xã hội ngày nay, đã trở thành tình yêu hỗn loạn – từ tình yêu nam nữ đáng quý diễn biến thành tình yêu rắc rối gây chuyện thị phi, hiện tượng này rất tồi tệ.

Có người nói rằng tình yêu là một cuộc đọ sức. Tại Pháp có hài kịch, ở Anh có bi kịch; ở Italia có ca kịch; nếu ở Hoa Kỳ, thì tình yêu hiện nay đã trở thành một trường náo kịch, và tình yêu ở Trung Quốc, từ cái nhìn thoáng qua của tôi, thì đó là một trò hề.

Tại sao tình yêu trong xã hội hiện đại của chúng ta là một trò hề? Mọi người có thể thấy nhiều tin tức gây sốc trên báo chí, kết quả của tình yêu không phải là sự biến dạng mà chính là tổn thương, độc hại và tạo ra rất nhiều điều rắc rối xấu xa khiến người nghe đến rất hãi kinh. Tôi nhìn thấy xảy ra nhiều sự việc khó coi này, không ngăn được tiếng thở dài: Ôi! Tất cả chúng sanh không hiểu được tình yêu.

Cái gọi là tình yêu, chúng ta tạm thời không cần nói về sự hy sinh, sự cống hiến, nhưng ít nhất trong tình yêu cả hai không nên làm tổn thương nhau. Trong “Chiến Quốc Sách” (战国策) của Nhạc Nghị (乐毅) có câu: “Người quân tử tuyệt giao không nghe tiếng xấu; Bậc trung thần bỏ nước không được nêu tên”. Một quân tử nếu đã tuyệt giao với người thì không nói xấu đối phương; bậc thần tử trung trinh rời bỏ đất nước cũng không giải thích tiếng tăm cao khiết của mình. Tương tự như vậy, người hữu tình có thể trở thành quyến thuộc, cố nhiên rất tốt, nếu không thể, cũng nên giống như bậc quân tử, họp cũng tốt mà tan cũng tốt, bất tất phải lật mặt thành thù. Một khi tình cảm tan vỡ, hai bên mất hòa khí và rời xa nhau trong sự tức giận, làm sao bạn có thể nhẫn tâm đem người mình đã từng yêu thương trước đây mà hận ghét họ, nói xấu họ và làm tổn thương họ, thậm chí hủy hoại họ, tại sao phải khổ sở như thế?

Có người nói rằng: Người trẻ tuổi khi nói về tình yêu, thì tình yêu treo ở đầu môi, chỉ nói cho có mà thôi; người trung niên khi nói về tình yêu, thì tình yêu đậu trên thân thể, nắm chặt trong tay; người già nói về tình yêu, thì tình yêu để trong tận cùng trái tim, họ ghi nhớ một cách sâu sắc vĩnh viễn không quên. Do đó, có thể biết rằng trải nghiệm tình yêu tăng lên theo tuổi tác và ngày càng trưởng thành theo năm tháng. Nói chung, tình yêu của những người phàm phu là từ hồng nhan đến bạc đầu, từ hoa nở đến hoa tàn, niềm vui của nam nữ tương đối vô cùng lưu luyến. Nếu tình yêu có thể lần lượt gia tăng theo nhân cách của chúng ta thì ngày càng thăng cấp, theo phẩm hạnh đạo đức thì ngày càng thuần tịnh. Thế thì tình yêu của những người phàm phu cũng sẽ càng ngày càng thăng hoa hơn, từ yêu thương bản thân, đến cha mẹ, quyến thuộc của mình và sau đó tiến dần đến nhân loại trên thế giới.

II. Tình yêu của chư Thánh hiền tại thế gian
Các bậc Thánh hiền trong thế gian, họ có tình cảm không? Có tình yêu không? Tình yêu của họ có giống như tình yêu của những người phàm phu chúng ta không? Tôi sẽ nêu một vài ví dụ để các vị hiểu về tình yêu của chư thánh hiền nhân gian:

1. Vì nước quên mình
Đại Vũ (大禹) là bậc hiền giả thời cổ đại của chúng ta. Vào thời điểm đó, nhân dân bá tánh trong thiên hạ đang phải hứng chịu tai họa của trận hồng thủy, ông được lệnh phải nạo vét đường thủy, ngăn trừ lũ lụt để giảm bớt sự thống khổ của bá tánh. Mười ba năm ngoài sự giám sát chỉ đạo, ba lần đi ngang qua nhà mình mà không vào thăm hỏi người thân, đó là vì lúc nào ông cũng luôn nghĩ đến nhân dân đang sống trong cảnh nước sôi lửa bỏng mà quên đi tình yêu riêng tư của mình. Đây là tinh thần vì nước vì dân, là một mẫu người điển hình cho các thế hệ đời sau noi gương học tập.

Thời Chiến Quốc, Khuất Nguyên (屈原 278 – 340) là trọng thần bên cạnh Sở Hoài Vương (楚怀王), bởi vì Hoài Vương tin nghe sự xúi giục ly gián của kẻ tiểu nhân, nên dần dần xa lánh Khuất Nguyên, thậm chí còn lưu đày ông, nhưng Khuất Nguyên vẫn yêu tha thiết đất nước của mình. Với lòng trung thành ông hy vọng Tổ quốc có thể đi vào con đường cường thịnh. Vì vậy, mặc dù không tin vào nhà vua, ông vẫn không thay đổi lòng trung trinh lo cho nước cho dân, nhưng cuối cùng ông đã gieo mình xuống sông Mịch La tự tử. Trong rất nhiều thi văn yêu nước từ tâm can mà ông để lại, chúng ta có thể cảm nhận được tình cảm sâu đậm kiên cường của Khuất Nguyên. Ông thà dùng thân hy sinh vì nước còn hơn sống tạm bợ cho qua ngày. Loại tình yêu này là một loại tình yêu hy sinh vô ngã.

Lục Phóng Ông (陆放翁 1125 – 1210), nhà thơ yêu nước triều Tống, bản thân trải qua sự biến loạn của các triều đại Nam và Bắc Tống, lúc sắp chết, ông có bài thơ nói với các con cháu của mình:

Nguyên văn:

Tử khứ nguyên tri vạn sự không
Đản bi bất kiến Cửu châu đồng
Vương sư1 bắc định Trung Nguyên nhật
Gia tế vô vong cáo nãi ông.2

(死去原知万事空
但悲不见九州同
王师北定中原日
家祭毋忘告乃翁)

Tạm dịch:

Chết rồi muôn việc biết là không
Buồn thay chín châu chẳng đồng lòng
Binh Tống có ngày yên Tổ Quốc
Đừng quên văn điếu nói với ông.

Ý ông là: Ta vốn biết chết rồi muôn việc đều là không, duy có một việc không buông được đó là đất nước diệt vong chưa khôi phục, chín châu thổ không cùng một tâm. Tuy đau thương nhưng chưa tuyệt vọng, tin rằng sẽ có một ngày quân đội của vua chắc chắn sẽ bình định Trung Nguyên, quang phục đất nước đã mất. Tiếc rằng khi còn sống không thấy được có ngày thống nhất Tổ quốc, đành phải đem niềm hy vọng gửi lại cho con cháu đời sau. Sau đó, ông dặn dò con trai một cách thâm tình: “Khi cúng tế, muôn ngàn lần không được quên báo cáo tin tức bình định Trung Nguyên với ông.”

Bài thơ này quanh co qua ngọn bút, những suy nghĩ đa đoan và cảm xúc của nhà thơ khi lâm chung đã thể hiện tâm tình yêu nước thương dân một cách chân thiết. Có cả sự phẫn nộ vô hạn đối với đại nghiệp kháng Kim chưa thành tựu và niềm tin vững chắc vào sự nghiệp thiêng liêng chắc chắn sẽ thành công. Toàn bộ bài thơ rất bi ai, nhưng giọng điệu mạnh mẽ sục sôi. Ngôn ngữ của bài thơ hình thành tự nhiên không một chút trau chuốt tiết lộ cảm xúc thật, nhưng nó vô cùng đẹp và cảm động lòng người biết bao. Đây là tình yêu dành cho đất nước cũng là một sự thăng hoa của tình cảm.

2. Vì nhân dân không vì mình
Tướng quân Ma Ha Nam (摩诃男) – em họ của Phật, là đại tướng thủ thành nước Ca Tỳ La Vệ (迦毗罗卫). Khi thành bị kẻ thù tấn công, ông nói với quân dịch: “Đừng giết bá tánh của ta, bây giờ ta chỉ cần xin các ngươi chờ cho một chút, đợi ta trầm mình xuống nước nổi lên một lần nữa, các người mới bắt đầu giết nhân dân của ta!” Vua Lưu Ly hung ác – người thống lĩnh quân địch nói: “Dù sao thì các ngươi cũng khó thoát khỏi cái chết, được thôi! Ta sẽ đáp ứng nguyện vọng sau cùng của ngươi.” Ma Ha Nam liền trầm mình xuống nước, thời gian trôi qua rất lâu không thấy nổi lên, vua Lưu Ly nghi hoặc, vội sai bộ hạ lặn xuống nước để xem cuối cùng chuyện gì đã xảy ra. Hóa ra Ma Ha Nam buộc tóc mình vào gốc cây dưới đáy nước vĩnh viễn không bao giờ nổi lên. Tại sao ông lại trầm mình? Đó là để có thêm nhiều thời gian cho nhân dân trong thành phố trốn thoát. Đây là đem trái tim cao siêu, đem mạng sống giả tạm hy sinh cho bá tánh, tình yêu đó là tình yêu cao thượng cũng là tình yêu đại vô úy quyết không bao giờ hối tiếc.

Các bậc Thánh hiền trong dân gian, có người vì yêu Tổ quốc, yêu chúng sinh mà hy sinh cả mạng sống của họ; có người vì theo đuổi chân lý mà phấn đấu quên mình. Dưới đây chúng tôi nói về tình yêu của các vị thánh hiền vì pháp mà quên đi sự an nguy của chính họ.

3. Vì pháp hiến thân
Trong Phật giáo, có Đại sư Huyền Trang Đường Tam Tạng (唐三藏玄奘大师 602 – 664) được mệnh danh là “Khổng Tử của Phật giáo”. Để đến Ấn Độ cầu học Phật pháp, Ngài phải đi qua tám trăm dặm sa mạc. Trên đường, nước mang theo đã bị con ngựa bất ngờ làm đổ sạch. Trong sa mạc, nếu không có nước tất nhiên đi vào ngõ cụt. Nhưng Ngài vẫn chịu đựng mọi sự giầy vò của cơn đói khát và phát ra lời thệ nguyện kiên quyết mạnh mẽ: “Thà một bước hướng về Tây Thiên mà chết, không một bước quay lại Đông thổ mà sống”. Đây là sự thiết tha theo đuổi chân lý, cũng là một tình yêu đáng tôn kính.

Chúng ta hãy nhìn vào bộ kimono mà người Nhật Bản mặc, rất giống với trang phục của Trung Quốc, phong cách kiến trúc nhà cửa cũng giống Trung Quốc, thậm chí bát đũa để ăn cơm cũng là kiểu Trung Quốc, văn hóa Nhật Bản có thể nói là chi nhánh bên cạnh văn hóa Trung Quốc. Đầu tiên ai đem văn hóa Trung Quốc truyền bá gieo mầm tại Nhật Bản? Đó là Đại sư Giám Chân (鉴真大师 688 – 763) thuộc Triều đại nhà Đường: Đại sư Giám Chân là bậc tiền bối tiên hiền (先贤前辈: bậc tài đức đã quá cố) của đất Dương Châu, cố hương Trung Quốc. Khi Ngài phát nguyện đến Nhật Bản để hoằng dương Phật pháp, Ngài nỗ lực trải qua tổng cộng bảy lần và đã tiêu phí thời gian mười hai năm. Có một lần thất bại, Ngài bị quan phủ bắt giữ trở lại. Một lần khác, trên đường Ngài gặp bọn cường đạo, thổ phỉ cướp phá mất sạch. Sau đó, Ngài gặp một cơn bão dữ sóng to, nửa đường quay về; thậm chí, bị phản bội bởi môn đồ của mình bán rẻ, như thế phải trải qua muôn vàn khổ sở, cuối cùng, lần thứ bảy Ngài đã đến Nhật Bản. Lúc đó, đã ngoài sáu mươi tuổi và hai mắt bị mù. Nhưng Ngài vẫn không thay đổi ý nguyện ban đầu và nói một câu làm cảm động lòng người như thế này: “Vì đại sự, há tiếc thân mạng?” Để hoàn thành việc lớn hoằng dương Phật pháp phổ độ chúng sinh, Ngài đã không tiếc mạng sống nhỏ bé của mình. Sự thiết tha tìm cầu chân lý và bi nguyện hoằng dương Phật pháp, cũng là sự thăng hoa từ trong tình yêu.

4. Vì hiếu quên mình
Tôn giả Mục Kiền Liên (目犍连尊者) nổi tiếng là đại hiếu tử trong Phật giáo, Ngài dốc hết tâm sức vào sinh ra tử để giải cứu mẫu thân đã chịu đau khổ nơi địa ngục. Do đó, Đức Phật mới nói kinh Vu Lan Bồn, pháp môn báo ân cha mẹ bị hành tội treo ngược (救倒悬), không chỉ cha mẹ của mình được độ, mà cả cha mẹ của chúng sanh nhân đây cũng được giải cứu. Lòng hiếu hạnh này là một sự chuyển hóa vĩ đại của tình yêu.
Thiền sư Đạo Tế (道济禅师 1148 – 1209) thuộc triều đại Bắc Tề, một đầu gánh hàng vạn quyển kinh thư, một đầu gánh mẹ già mù lòa đi khắp nơi hoằng dương Phật pháp. Có người muốn giúp sư chăm sóc cụ bà, sư từ chối nói một cách uyển chuyển: “Đây là người mẹ sanh ra tôi, nuôi nấng tôi chứ không phải mẹ các vị, nên tôi phải tự lo liệu chăm sóc sự sinh hoạt hằng ngày của mẹ tôi.”

Thiền sư Đạo Minh Trần Tôn Túc (陈尊宿 780 – 877) thời Đường, đạo phong cao siêu, đắc pháp nơi Thiền sư Hoàng Bá Hy Vận (黄檗希运禅师). Sư thờ phụng cha mẹ rất hiếu thảo, tự mình dệt vải bện giày nuôi dưỡng mẫu thân. Vì vậy, mọi người đều gọi Sư là Trần Bồ Hài (陈蒲鞋 ông Trần đan giày bằng cỏ bồ).

Trong Phật giáo có rất nhiều gương hiếu hạnh làm rung động lòng người. Lòng hiếu hạnh báo ân phụng dưỡng cha mẹ này là tình yêu chí chân chí thiện của nhân loại, và nó cũng là một loại tình yêu cao độ đáng được khen ngợi.

Đại sư Tinh Vân
Thanh Như (trích dịch)


Chú thích
1 Vương sư (王师): đội quân của vua.
2 Nãi ông (乃翁): Phụ thân của con.