Nói về các loại tình yêu trong nhân gian (phần 2)

74

  5. Yêu học trò như yêu chính mình
Để giáo dục đệ tử, các bậc cổ đức thường vận dụng phương tiện khéo léo, đem hết tâm huyết có một không hai của mình, cũng bởi phát sinh từ tình yêu giữa thầy và trò. Sách “Luận ngữ” (论语) ghi lại: Khi Nhan Hồi (颜回 521 – 481 TCN) – học trò của Khổng Tử qua đời, Khổng Tử nói một cách bi thương cực điểm: “Trời hại Ta rồi! Trời hại Ta rồi!” Nước mắt của Khổng Tử là biểu lộ cảm tình của ông. Tại sao Nhan Hồi chết khiến cho ông quá thương tâm? Vì Nhan Hồi là một thanh niên tài tuấn lại chết trẻ, tổn thất một nhân tài nên bi thương như vậy! Đây chính là một loại tình yêu từ bi.

Tôn giả Mật Lặc Nhật Ba (密勒日巴 Milarepa 1040 – ?) đi khắp nơi tìm Sư học đạo, cuối cùng gặp được Thượng sư Mã Nhĩ Ba (马尔巴上师 1012 – 1097) – đại thiện tri thức cầu truyền pháp. Thượng sư hỏi: “Ông bái Ta làm thầy ư, vậy Ta hỏi ông, ông có gì để cúng dường Ta không?”

Tôn giả Mật Lặc Nhật Ba cung kính đảnh lễ: “Con đem cả ba nghiệp thân, miệng, ý phụng hiến cho Thầy xem như vật phẩm cúng dường của con”. Thượng sư nhận lời và thu nạp Tôn giả làm đệ tử. Một ngày nọ, Thượng sư nói với ông: “Thân thể của con rất khỏe mạnh, Ta muốn con xây cho Ta một ngôi nhà bằng đá để chứa kinh sách, xây xong Ta sẽ truyền pháp cho con!”

Mật Lặc Nhật Ba nghe xong, rất hoan hỷ, và ngay lập tức xin Thượng sư giao mô hình ngôi nhà cho ông. Thượng sư nói: “Ta muốn con xây cho Ta một ngôi nhà hình tròn trên đỉnh núi hiểm yếu ở phía Đông, cũng nhờ việc làm này nghiệp chướng của con sẽ được tiêu trừ.” Thế là Mật Lặc Nhật Ba hàng ngày cố gắng xây nhà. Được khoảng một nửa thời gian, Thượng sư đến cầm chiếc áo choàng gấp thành hình nửa mặt trăng và đặt nó trên sàn nhà nói: “Nơi này không tốt lắm, con chuyển đá và vật liệu xuống núi, đi đến ngọn đồi phía Tây thay Ta xây nhà theo kiểu đó nhé!”

Mật Lặc Nhật Ba rất khổ sở không thể dùng lời nói để biểu đạt, để hình dung, đành phải mang vác vật dụng xuống núi, đợi đến lúc xây cất được một nửa, Thượng sư lại đến, nói: “Ngôi nhà này xem ra hình như vẫn không đúng, con hãy dỡ bỏ nó đi, di chuyển đá gỗ xuống núi, đến ngọn đồi phía Tây xây cho Ta một ngôi nhà hình tam giác đại biểu cho người tu hành chân chính!” Mật Lặc Nhật Ba đành phải tuân theo mệnh lệnh của Thầy, lại một lần nữa ngày đêm không ngủ, không nghỉ ngơi tiến độ công trình, không lấy ánh nắng mặt trời gay gắt và gió táp mưa sa làm khổ cực. Cuối cùng, không dễ dàng gì mới xây được một phần ba. Thượng sư lại đến và hỏi: “Ngôi nhà này ai bảo con làm?” Mật Lặc Nhật Ba lo lắng lập tức trả lời: “Đây là lời dạy của Sư phụ, chính Thầy đã dặn dò con đó ạ!”

Thượng sư gãi đầu nói: “Ồ? Tại sao Ta không nhớ ra nhỉ? Ở nơi phong thủy tồi tệ này mà xây ngôi nhà hình tam giác, giống như Mandala của nhà tu Tru Pháp (诛法). Con có ý định hại Ta phải không? Dỡ xuống! Dỡ xuống! Đến ngọn núi phía Bắc xây cho Ta một ngôi nhà hình vuông, chín tầng, và một nhà kho phía trên, tổng cộng mười tầng. Khi xây xong ngôi nhà, Ta sẽ truyền pháp cho con!” Nói xong đi luôn, toàn bộ công việc khó khăn của Mật Lặc Nhật Ba lại không ngừng tiếp tục.

Cứ như thế, đã xây rồi dỡ, dỡ xong lại xây, thời gian bao nhiêu năm trôi qua hết mang đất gánh đá lại khuân gạch vác ngói, làm mệt mỏi đến nỗi cả da thịt trên thân đều thối rữa. Các huynh đệ nhìn thấy không ai chịu nổi, và họ tự động chạy đến đồng tâm hiệp lực giúp Mật Lặc Nhật Ba khuân đá gánh ngói. Sư phụ nhìn thấy, nổi giận lớn tiếng quở trách: “Ta bảo con đến xây nhà, hoàn toàn không yêu cầu người giúp đỡ, tại sao con lười như thế, tùy ý tìm người khác phụ giúp?”

Thượng sư không chỉ la mắng Mật Lặc Nhật Ba, mà còn cầm gậy đánh ông thật mạnh, đánh thật đau, không thể chịu nổi nên ông khóc ra tiếng. Sư phụ không những không một lời an ủi, ngược lại còn hét to lên: “Con khóc cái gì? Lúc mới đến cầu pháp chẳng đã nói với Ta, con xin đem toàn bộ ba nghiệp thân miệng ý phụng hiến cho Ta, bây giờ cái mà Ta đánh là những thứ của riêng Ta, cái mà Ta mắng cũng là những thứ của riêng Ta, con khóc cái gì chứ?” Mật Lặc Nhật Ba chịu đựng sự tra tấn giày vò vượt qua sự tưởng tượng của chúng ta, và tất cả các loại hành hạ tôi luyện, ông đều nhẫn chịu một cách âm thầm. Sau nhiều năm, cuối cùng Mật Lặc Nhật Ba đã ngộ đạo và chứng quả Đại A la hán.

Vào đêm ông khai ngộ, Sư phụ đã ôm chầm lấy ông khóc nức nở nói không ra lời: “Vì Ta thấy con là một bậc kỳ tài ngàn năm khó gặp, mới không ngần ngại sử dụng các phương pháp gian nan khốn khổ nhất để trau luyện con, khiến con sớm nhận được đạo. Khi Sư phụ trách mắng con, đánh chửi con, đối với con vô tình vô nghĩa, trái tim của Sư phụ cũng rất đau khổ. Nhưng vì tương lai của con, Sư phụ đành phải chịu đựng và quyết tâm hành hạ con hết lần này đến lần khác…” Những hành vi khắc nghiệt như vậy xem ra có vẻ như không hợp tình hợp lý, kỳ thật cũng là tình yêu tối cao của các Thánh hiền yêu tiếc những người tài năng.

Tôi xuất gia từ thời thơ ấu, cũng đã chịu đựng sự giáo dục như vậy. Khi chúng tôi đến giới trường để thọ giới, các Giới sư ngồi thành một hàng chuẩn bị tra hỏi chất vấn (giống như các tướng lĩnh chờ kẻ địch) và hỏi chúng tôi: “Các thầy đến cầu thọ giới là tự mình phát tâm, hay Sư phụ bảo đến?” Có người vội vàng trả lời: “Giới sư từ bi! Là đệ tử tự nguyện phát tâm thọ giới.” Giới sư nghe xong, không nói một lời, nhặt roi mây đánh một cái, rồi nói: “To gan, Sư phụ con không bảo đến lại dám đến.”

Đổi một Giới sư khác cũng hỏi giống như thế này: “Con đến thọ giới, là tự mình đến cầu, hay Sư phụ bảo đến?” Vừa mới thấy có người đã bị đánh, trong lòng sợ hãi cảnh giác, tôi nhanh chóng theo kiểu liệu gió chống thuyền trả lời một cách cẩn thận: “Giới sư từ bi! Thầy con muốn con đến thọ giới.” Tôi tự cho rằng câu trả lời rất tốt, ai ngờ lại bị đánh tàn nhẫn, vừa đánh vừa nói: “Này! Nếu Sư phụ con không bảo con thọ giới, thì con không đến phải không?” Cúi đầu nghĩ một chút, điều đó có đạo lý, nếu Sư phụ không dạy bảo dặn dò mình đi thọ giới, lẽ nào mình không biết phát tâm hay sao?

Lại đổi một Giới sư khác vẫn đặt vấn đề tương tự, đã có hai lần kinh nghiệm, lần này tôi khôn hơn vội vàng nói: “Sư phụ dạy con đến cầu thọ giới, và chính đệ tử cũng phát tâm cầu thọ giới pháp.” Trả lời như vậy nhất định vạn phần không sai. Thật bất ngờ, lại bị đánh một gậy, sau khi đánh xong, Giới sư còn nói: “Con rất trơn miệng.”

Cửa ải này xem như đã qua. Đến vị Giới sư khác, chủ đề đã thay đổi: “Trước đây, con có sát sanh không?” Sát sanh là tội nghiệp rất nghiêm trọng, làm thế nào có thể nói rằng đã giết người? Tôi lập tức lắc đầu thưa: “Con không có sát sanh.”

“Này! Con chưa từng giẫm một con kiến, không đập một con muỗi nào ở nhà ư? Rõ ràng là nói dối!” Thế là, bốp một tiếng, nói dối đáng đánh đòn, ngược lại tôi cũng tâm phục. Thay đổi một Giới sư khác, vẫn là vấn đề tương tự, đành phải căn cứ thực tế thừa nhận: “Báo cáo Giới sư! Đệ tử có sát sanh.” “Tội lỗi quá! Tội lỗi quá!” Roi xuống như mưa, cuối cùng, cho dù Giới sư có hỏi gì đi nữa, căn bản tôi không muốn trả lời, chỉ vì không có cách gì để nói: “Thưa Giới sư, Thầy muốn đánh thì cứ đánh ạ!”

Đó là nền giáo dục mà chúng ta đã nhẫn chịu, là lấy cái vô lý để đối đãi với cái có lý và lấy sự vô tình đối đãi với hữu tình. Trong hoàn cảnh vô lý và vô tình, đều sẵn sàng cúi đầu, thế thì về mặt chân lý vẫn không thể tin chịu vâng làm hay sao? Sự vô tình vô nghĩa của các Giới sư, trên thực tế là để giáo hóa chúng ta, đây là sử dụng phương tiện quyền xảo đối với những chúng sanh hữu tình ngoan cố. Loại vô tình này thật sự là một loại đại từ bi. Chính tôi thường cảm thấy rất may mắn vì chúng tôi đã phải tiếp nhận qua một nền giáo dục nghiêm ngặt như vậy, nó giống như đem một đống phế liệu đồng, thiếc, sắt ném vào lò lửa tôi luyện thành gang thép. Mặc dù gian nan khổ sở, nhưng ngày hôm nay hồi tưởng lại, đó là một phước báo. Đối với những người trẻ tuổi bây giờ, tôi thường cảm thấy rất tiếc và thương hại. Ở vào thời đại này, tổn thất lớn nhất trong nền giáo dục của tôi chính là khiếm khuyết tinh thần mài giũa tôi luyện Tăng Ni sinh trẻ. Buồn thay lòng đại từ bi muốn bồi dưỡng đào tạo hàng hậu học mà luyện thép mãi vẫn không thành gang! Vậy, cần phải có thêm sức mạnh của tình yêu to lớn hơn nữa.

III. Tình yêu của bậc La hán tại thế gian
Tình yêu của bậc La hán rất có lớp lang, đầu tiên là từ tình yêu sâu nặng giữa vợ chồng, anh chị em, thân thích họ hàng và bạn bè, mở rộng đến hàng xóm, đồng bào, nhân dân cả nước, cho tới các loài động vật và tất cả chúng sinh. Từ tình yêu của phàm phu đến tình yêu của các bậc Thánh hiền, và sau đó tiến dần đến tình yêu của bậc La hán xuất thế. Tình yêu của Bồ tát và La hán lại càng siêu việt hơn.

Bồ tát Địa Tạng Vương (地藏王) (4) mà chúng ta thường lễ bái, ngài tu hành ở Cửu Hoa Sơn, tỉnh An Huy, giữa ngọn núi cao lớn dốc đứng, dáng gầy ốm mỏng manh như sợi khói, chỉ có một vài đồng tử sống với ngài. Một hôm, một chú tiểu không quen sống trên thâm sơn muốn xuống núi, Địa Tạng Vương đưa chú đi và tặng cho chú một bài thơ. Từ bài thơ này, chúng ta có thể thấy trái tim của Bồ tát và La hán. Vậy tình yêu của họ bao la như thế nào? Thơ rằng:

Không môn tịch tịch nhữ tư gia
Lễ biệt vân phòng hạ Cửu Hoa.

Ý nói: Trong cửa Phật quá cô đơn lạnh lẽo, làm con luôn nhớ đến quê nhà, bây giờ con nói lời cáo biệt giống như đám mây trên cao nơi chúng ta trú ngụ hết tan rồi hợp, con phải xuống núi Cửu Hoa rồi.

Ái hướng trúc lan kỵ trúc mã
Lại ư kim địa tụ kim sa.

Ý nói: Con ạ! Con thích quay về tuổi thơ chơi trò cưỡi ngựa trúc như một đứa trẻ. Con lười nhác không muốn ở đây tu hành cùng ta nhóm cát xây tháp vàng để tạo công đức.

Bình thiêm giản để hưu niêm nguyệt
Bát tẩy trì trung bãi lộng hoa.

Ý nói: Sau khi con quay trở lại, mang chiếc bình hoa đến bên dòng suối và thay nước, đừng mò ánh sáng tỏa trên mặt nước; khi con rửa bát, có thể thấy sự phản chiếu của hoa và cây, cũng đừng nghĩ rằng có một thế giới hoa thực sự trong ao. Vì nhân gian là hư ảo, không có thật.

Hảo khứ bất tu tần hạ lệ
Lão Tăng tương bạn hữu yên hà.

Ý nói: Con đi tốt nhé! Không cần phải rơi nước mắt, Ta sống trên Cửu Hoa Sơn, tự có người theo ta. Con hãy nhìn những đám mây trên bầu trời kia đi, những ráng hồng trên bầu trời đó, những sợi khói nhẹ đang phiêu bồng trên bầu trời đó, cảnh sắc thiên nhiên to lớn đó không thể bầu bạn cùng Ta hay sao?

Nguyên văn:

送童子下山
空门寂寂汝思家
礼别云房下九华
爱向竹栏骑竹马
懒于金地聚金沙
瓶添涧底休拈月
钵洗池中罢弄花
好去不须频下泪
老僧相伴有烟霞

Tạm dịch:

Tiễn đồng tử xuống núi
Cửa không thanh tịnh chợt chớ nhà
Tạm biệt phòng mây núi Cửu Hoa
Hành lang thích cưỡi con ngựa trúc
Đất vàng lười nhặt nhóm kim sa
Lấy nước đáy khe đừng nhặt bóng
Rửa bát trong ao chớ vờn hoa
Đi nhé không nên sa hạt lệ
Bạn thầy đã có bóng xế tà.

Giống như Bồ tát, La hán, họ thường chú ý đến tình cảm con người, yêu thương chăm sóc thiếu niên và trẻ con, cho chúng sự thoải mái, lời an ủi, từng câu, từng lời của họ đều siêu việt tuyệt vời.

Pháp sư Đạo Tích (道积法师) đời Đường, khi làm trụ trì chùa Phúc Cảm (福感寺) – Ích Châu, Ngài nuôi chứa rất nhiều bệnh nhân mắc bệnh phong, trên người họ thối rữa hôi hám, Pháp sư Đạo Tích chẳng những không ghê tởm, mà còn cùng ăn cùng sống với họ, kiên nhẫn trị liệu và dùng nước thơm tắm gội cho họ, không chút mảy may nhàm chán khó chịu. Tin tức lan truyền rộng rãi, rất nhiều tín đồ trốn tránh không dám đến gần. Có vị Tăng hỏi Đạo Tích: “Thưa Pháp sư, hàng ngày thầy sống với những bệnh nhân phong hủi vừa hôi vừa thối, lẽ nào thầy không sợ bị lây nhiễm hay sao?” Đạo Tích mỉm cười: “Đại đức minh giám, cái gọi là sạch sẽ và hôi thối, tất cả đều do tâm thức con người ảnh hưởng, trong lòng không khó chịu, thì bực bội ở đâu? Ruộng tâm thanh tịnh, thì nơi nơi thanh tịnh, Ta là người xuất gia, nếu ngay cả một chút tâm sân vọng này không buông xuống được, ngay cả một chút tâm từ bi này cũng không thể làm được, há không xấu hổ đối với Đạo pháp hay sao?”
Đây là trái tim to lớn rộng rãi của các bậc Thánh giả Bồ tát La hán, lòng từ bi của họ là bình đẳng, sinh mệnh của chúng ta và loài vật là như nhau.

Tôn giả Đại Ca Diếp (大迦叶) – một trong mười đệ tử lớn của Đức Phật, là bậc đại A la hán. Đại Ca Diếp là công tử xuất thân trong một gia đình giàu có, cha mẹ muốn ông kết hôn, ông cự tuyệt và nói rằng chỉ muốn đi tu đạo. Bị cha mẹ ép buộc hết lần này đến lần khác, bất đắc dĩ ông dùng vàng điêu khắc một cô gái rồi nói với cha mẹ rằng trừ phi có cô gái nào xinh đẹp, thân sắc vàng ròng giống như pho tượng này mới chịu cưới làm vợ.

Cha mẹ ông phái người mang bức tượng vàng diễu hành trong cả nước, nói rằng đây là tượng thần bằng vàng, cô gái nào quỳ lạy sẽ gặp vận may. Thế là các thiếu nữ trên khắp đất nước nghe tiếng liền đến trước tượng lễ lạy. Có một cô gái đến trước bức tượng vàng, đột nhiên ánh sáng của tượng âm u mờ nhạt, và nó hoàn toàn bị bao phủ bởi vẻ đẹp của cô. Sau đó, cô được đưa trở về và cha mẹ Đại – Ca Diếp cưới làm con dâu. Nguyên cô gái này tên là Diệu Hiền – người đẹp nổi tiếng trong nước. Hóa ra từ lâu Diệu Hiền này cũng muốn tu đạo. Lúc đầu, cô trách Đại Ca Diếp: “Cha mẹ thiếp vì thấy gia đình chàng giàu có nên ép gã thiếp cho chàng, đi ngược lại chí nguyện tu hành của thiếp.” Đại Ca Diếp nghe qua mừng rỡ: “Tốt quá, Ta cũng muốn đi tu, mỗi người chúng ta đồng tu nhé!”

Cho nên, trên danh nghĩa họ là vợ chồng, tuy họ sống chung cùng nhà, cùng phòng, nhưng thực sự họ vẫn cùng tu. Trải qua 12 năm, cha mẹ hai bên đều qua đời, nghĩ rằng có thể nương vào ý nguyện của mình để xuất gia tu học, sau đó họ lần lượt trở thành Tỳ kheo và Tỳ kheo ni. Bởi Diệu Hiền rất xinh đẹp, mặc dù là Tỳ kheo ni, nhưng mỗi lần cô ôm bát khất thực, đều có rất nhiều thanh thiếu niên theo sau, đùa giỡn chọc ghẹo, cô sợ quá không dám đi ra ngoài hóa duyên nữa. Đại Ca Diếp đã từng là người chồng trên danh nghĩa nên khi ôm bát khất thực liền chia một ít thức ăn cho cô. Nhân đây, đã gây ra rất nhiều lời đồn đoán: “Mọi người xem, cái gì là vợ chồng mười hai năm trên danh nghĩa, bây giờ xuất gia trở thành Tỳ kheo và Tỳ kheo ni rồi, thế mà hai người vẫn yêu thương như thế đó”. Sau này, Diệu Hiền than thở một cách sâu sắc và cho rằng sắc đẹp của mình là điều rất bi thảm, liền phá hủy dung mạo cho xấu xí, hy vọng trở thành một người “xấu trong Tăng đoàn mà đẹp trong đạo”. Cho nên, tình yêu của bậc A la hán cùng với quan điểm thông thường của người trong nhân gian không giống nhau.

Trong trai đường của các tự viện có treo đôi liễn:

Mạc hiềm Phật môn trà phạn đạm
Tăng tình bất tỷ tục tình nồng.

(莫嫌佛门茶饭淡
僧情不比俗情浓)

Tạm dịch:

Chớ hiềm cửa Phật trà cơm nhạt,
So với tục gia tình đượm nồng.

Theo quan niệm chung của tất cả mọi người, các bậc A la hán đã từ bỏ tình cảm của thế gian, trải qua đời sống không tình không ái đoạn trừ tất cả phiền não của thân và tâm. Kỳ thật, các vị A la hán là bậc Thánh tràn đầy tình cảm, họ tuyệt tình mà rất đa tình. Sự vô tình của họ vượt qua tình cảm tư riêng nam nữ, buông bỏ lòng tham muốn của cá nhân, chỉ có buông xả đoạn tuyệt tình cảm tư riêng giữa nam nữ, họ mới có thể phát khởi lòng từ bi vô hạn, lòng rộng lớn bao la quên mình đối với tất cả chúng sinh.

Chúng ta đã thấy Đại sư Hoằng Nhất (弘一大师 1880 – 1942) luôn tránh né vợ con; Thiền sư Tòng Gián (从谏禅师) đời Đường từng đóng cửa từ con, xem ra họ giống như vô tình, nhưng lại có tình yêu rất lớn. Tình yêu của họ dành cho vợ con, chính là tịnh hóa thân tâm để theo đuổi chân lý, nâng cao sự quan tâm và ái hộ đối với tất cả chúng sinh. Do đó, tình yêu chân chính không phải là chiếm hữu đối phương, mà là sự giao lưu trong đời sống, cũng là một loại phụng hiến vô tận cho bá tánh trong thiên hạ!

IV. Tình yêu của Đức Phật tại thế gian
Đời sống tình yêu của Đức Phật khi trở thành bậc Đại Thánh như thế nào? Mẫu thân của Đức Phật qua đời vào ngày thứ bảy khi sinh ra Ngài. Sau khi thành đạo, Đức Phật luôn hy vọng có thể giảng pháp cho mẫu thân nghe, báo đáp ân sinh dục, sau đó cuối cùng Ngài cũng hoàn thành tâm nguyện thuyết pháp cho mẹ tại cõi trời Đao Lợi. Tiếp theo, vua Tịnh Phạn – phụ vương của Ngài băng hà, các hoàng tử thảo luận với nhau muốn chính mình khiêng quan tài của phụ vương, mặc dù Đức Phật đã thành tựu đạo quả, cũng đích thân báo hiếu cha mình. Khi mọi người nhìn thấy Đức Phật cũng ở trong hàng ngũ khiêng quan tài, các đệ tử không ai mà không xúc động. Lòng hiếu thảo đối với cha mẹ của Đức Phật là tấm gương tốt cho Phật giáo chúng ta. Ngài thật sự là một bậc Thánh vĩ đại trung hiếu lưỡng toàn.

Tình yêu của Đức Phật dựa trên sự “tôn trọng bình đẳng”. Chúng ta đều biết, trước khi Đức Phật chưa xuất gia, đã kết hôn với công chúa Da Du Đà La (耶输陀罗) – trưởng nữ của vua Thiện Giác thành Thiên Tí; sau khi Đức Phật thành đạo, trở về quê hương – nơi mà Ngài đã rời xa hơn mười năm. Một người đã thành Phật, cuối cùng gặp mặt vợ con ở một mình chốn khuê phòng, trong lòng của Da Du Đà La rất lo lắng, không biết người chồng trước đây của mình hiện nay ra sao? Trái tim của nàng tràn đầy những kỳ vọng và nghi hoặc, không biết gặp mặt Người như thế nào mới tốt.

Sau khi Đức Phật thăm phụ vương, các vương tử và các đại thần, cuối cùng Ngài đến gặp mặt Da Du Đà La. Trong lòng Da Du Đà La thầm nghĩ: “Ta phải trách hỏi chất vấn Ngài, tại sao lại từ bỏ ta”? Nhưng khi nhìn thấy phong thái trang nghiêm của Đức Phật, nàng tự giác quỳ xuống. Đức Phật nói một cách bình thản mà nghiêm túc: “Da Du Đà La, xin nàng hãy thông cảm cho việc làm của Ta, mặc dù Ta xin lỗi cá nhân nàng, nhưng Ta rất xứng đáng đối với tất cả chúng sinh. Bây giờ, xin nàng hoan hỷ cho Ta, vì cuối cùng Ta đã hoàn thành nguyện vọng trải qua nhiều kiếp của Ta, vì Ta đã thành tựu quả vị Phật, Ta lấy việc quảng độ chúng sanh làm chí nguyện, và nàng cũng ở trong hàng ngũ của tất cả chúng sanh đó.” Trong giọng nói và tôn dung của tâm từ bi đó, cử chỉ và nghi biểu trang nghiêm đó, vượt qua cả âm thanh ngôn ngữ của tình yêu, mọi người nghe qua, thấy qua ai cũng đều cảm động và sau cùng, Da Du Đà La cũng xuất gia tu hành. Cho nên, yêu thương chân thành một người nào đó, là hướng dẫn họ đi đúng con đường chân chánh, giúp họ càng ngày càng thành thục chứ không phải chỉ nói năng bề ngoài là làm ra vẻ đến chết không thay đổi.
Đức Phật đối với những người thân yêu của mình, hay đối với oan gia thù địch cũng như nhau. Như Đề Bà Đạt Đa (提婆达多) – người xem Phật như kẻ thù, luôn chống đối Phật. Nhưng Đức Phật xưa nay không bao giờ oán hận ông, luôn nói với mọi người rằng Đề Bà Đạt Đa là tăng thượng duyên, là thiện tri thức của Ngài. Không có bóng tối thì làm gì có ánh sáng? Không có tội ác thì làm gì có lẽ thiện? Không có Đề Bà Đạt Đa thì Đức Phật tối cao vĩ đại của chúng ta làm thế nào thành tựu được Phật đạo để cho mọi người kính ngưỡng?

Lòng từ bi của Đức Phật không phải chỉ là chiếu cố những người có chức phận, địa vị cao sang quyền thế, mà là khắp tất cả chúng sinh. Các đệ tử bị bệnh, Đức Phật đã đích thân lấy nước và nấu thuốc cho họ; đôi mắt của những vị Tỳ kheo lớn tuổi bị mờ, và thật bất tiện khi may vá quần áo, Phật đã luồn kim xe chỉ cho họ. Đức Phật chăm sóc các đệ tử của mình, giống như người mẹ yêu thương con, ban cho các đệ tử ánh sáng, ban cho chúng sinh sự nương nhờ. Đức Phật thật sự là chiếc thuyền từ của tất cả chúng ta, niềm hy vọng vô tận của chúng ta!

Để giáo dục các đệ tử, Đức Phật phải kiên trì và nhẫn nại bằng cách dùng phương tiện thiện xảo để điều phục họ. Đặc biệt, đối với Ni Đề (尼提) – một kẻ gánh phân, Đức Phật phải đi lại con đường mà ngài đã đi qua nhiều lần để hóa độ ông; Châu Lợi Bàn Đà Già (周利槃陀伽) – một người tối dạ ngay một bài kệ học mãi cũng không thuộc, Phật kiên nhẫn giảng pháp khiến ông được khai ngộ; đệ tử Ca Chiên Diên (迦旃延) đi truyền giáo ở một nơi rất xa, một ngày nọ, Tôn giả sai một tiểu đồ đệ vấn an Phật, sau khi Phật biết, Ngài nói: “Đệ tử của Ca Chiên Diên đến, không còn chỗ ngủ nghỉ, nên đặt một chiếc giường trong phòng của Ta cho chú ngủ.” Tôn giả A Na Luật (阿那律), vì tu hành mà mắt bị mù, đợi cho đến khi ông chứng được Thiên nhãn thông Phật mới yên tâm; Tôn giả A Nan thường bị phụ nữ quấy rối, cho đến khi A Nan thực sự giác ngộ, hòn đá trong trái tim Phật mới buông xuống. Đức Phật cao quý vĩ đại của chúng ta đó, đối với chú tiểu từ xa đến, còn được yêu thương và chăm sóc như thế đấy. Ngài không chỉ quan tâm đến các đệ tử bệnh hoạn, các đệ tử lớn tuổi, các đệ tử nhỏ bé… mà còn quan tâm đến cả Ca Chiên Diên đang truyền giáo ở nơi xa.

Do đó, khi chúng ta “nói về tình yêu”, thì tình yêu đó phải có thứ bậc. Ban đầu từ hai bên nam nữ có hảo cảm với nhau tiến đến tình yêu vợ chồng, tiếp tục là tình yêu thủ túc của anh chị em, sau đó mới quan tâm đến người thân và bạn bè một cách rộng rãi, và phát huy đối với toàn nhân loại trên thế giới, cho đến khởi lòng bi mẫn với tất cả chúng sinh. Từ tình yêu chiếm hữu của phàm phu mới có thể đạt đến tình yêu của các bậc Thánh hiền và tình yêu đối với dân với nước, cuối cùng tình yêu đã được thăng hoa bởi trái tim đại từ đại bi của chư Phật và Bồ tát là “Chỉ nguyện chúng sanh lìa đau khổ, không cầu an lạc cho chính mình.”

Tình yêu giống như nước, nó có thể làm tươi nhuận đời sống của chúng ta. Nhưng nước có thể đem lợi ích đến cho muôn vật, mà nước cũng có thể làm lật thuyền, xử lý tình yêu không đúng cách cũng sẽ làm cho chúng ta táng thân mất mạng. Chúng ta phải làm thế nào để đối phó với tình cảm? Tôi chỉ đưa ra bốn điểm để tặng các vị:

1. Chúng ta nên “dĩ trí hóa tình” (以智化情) – dùng lý trí để tịnh hóa tình cảm.
2. Chúng ta nên “dĩ từ tác tình” (以慈作情) – lấy từ bi để vận hành cảm xúc
3. Chúng ta nên “dĩ pháp phạm tình” (以法范情) – lấy phép tắc để điều chỉnh cảm xúc.
4. Chúng ta nên “dĩ đức đạo tình” (以德导情) – dùng đạo đức để hướng dẫn tình cảm.
Làm thế nào để chúng ta loại bỏ những tình yêu riêng tư của trái tim và hun đúc tấm lòng từ bi vô tận để phụng hiến công chúng? Làm thế nào để chúng ta biến tình cảm chiếm hữu ích kỷ thành tình yêu đạo đức vị tha; đem tình yêu có chọn lựa, có suy xét tịnh hóa thành “Vô duyên đại từ và đồng thể đại bi.” Đây là con đường hạnh phúc của đời sống mà chúng ta theo đuổi, thăng hoa cảm giác tồn tại tuyệt đối của sinh mệnh là vấn đề cần phải suy nghĩ thận trọng, đã có lòng từ bi phục vụ tất cả chúng sinh và đóng góp cho xã hội, thì đời sống tình cảm của chúng ta sẽ phong phú hơn và ý vị sâu xa hơn!

Đại sư Tinh Vân – Thanh Như (Trích dịch)