Ni trưởng thượng Đạt hạ Thử

    564

    VIỆN CHỦ CHÙA PHÁP ĐÀN – LONG AN

    (1923-2004)

    I. THÂN THẾ
    Ni trưởng Đạt Thử, Pháp danh Tánh Đàn, thế danh Huỳnh Thị Hai, sinh năm 1923 (Quý Hợi) tại xã Nghĩa Yên, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Thân phụ là cụ ông Huỳnh Văn Quyền, thân mẫu là cụ bà Lưu Thị Khánh. Ni trưởng là con cả trong gia đình có mười một chị em. Gia đình thuộc tầng lớp trung nông, có nề nếp, theo truyền thống Nho gia, thâm tín Phật pháp.

    Ni trưởng có lòng hiếu thảo, tánh thông minh học hành sáng dạ, ngoan hiền và đặc biệt có lòng nhân từ vượt trội. Do điều kiện khách quan và ảnh hưởng phần nào về tư tưởng phong kiến nên khi học hết Tiểu học trường làng phải ở nhà phụ giúp gia đình lo kế sinh nhai, bảo bọc cho đàn em thơ dại cả thảy mười người nhằm bớt phần cực nhọc cho cha mẹ.
    Thời gian như thoi đưa, cô bé ngày nào nay đã trưởng thành. Sau 17 năm công cha ấp ủ, tình mẹ yêu thương, người con gái thuở xuân thì đã vâng lời cha mẹ xuất giá.

    Gần hai năm trôi qua, quen dần nếp sống bên chồng, trên hòa dưới thuận, cuộc sống trôi êm. Vào một ngày, trong lúc dọn dẹp, Ni trưởng nhìn thấy quyển sách Phật trên bàn thờ nhiều bụi bặm, có lẽ đã lâu không ai xem, do tánh hiếu kỳ Ni trưởng đã đọc nhiều lần và nhờ thiện căn sẵn có bên trong, pháp lành bên ngoài làm duyên, tâm hồn Ni trưởng cảm nhận được những nghĩa lý huyền diệu trong sách Phật và xem như một báu vật.

    Ni trưởng rất tâm đắc lời dạy trong quyển sách: “Chúng sanh do vô minh tham ái, nghiệp dẫn luân hồi trong sáu nẻo, chịu vô lượng sự thống khổ, bức ngặt, không biết bao giờ mới ra khỏi đêm dài tăm tối. Nếu người có đôi bạn mà dám dứt bỏ sự thương mến nhau, thì mới có thể chuyển đổi được sinh tử, sánh cùng Tiên Phật, thoát kiếp luân hồi ”. Từ lời dạy quý báu đầy ý nghĩa đó, Ni trưởng cảm thấy cõi lòng thanh thản, như cởi bỏ được mối tơ duyên truyền kiếp, từ đó tâm Bồ-đề phát khởi lòng quyết tránh xa trần tục.

    II. THỜI KỲ XUẤT GIA TU HỌC
    Để thực hiện bổn nguyện của mình và muốn người bạn đời thấu hiểu, Ni trưởng đem quyển sách ấy cho người bạn đời đọc, sau khi xem xong cả hai “tâm đầu ý hợp” cùng nhau xuất gia học đạo. Ni trưởng lên đường tầm cầu giải thoát trong sự tiễn chân của người bạn đời vào mùng 8 tháng 2 năm Nhâm Ngọ (1942). Bước chân bộ hành trên lộ trình dài, Ni trưởng dừng bước nơi chùa Tôn Thạnh (Cần Giuộc) và cầu xin thế phát xuất gia với Hòa thượng thượng Liễu hạ Thiền vào ngày 18 tháng 2 năm (1942) lúc Ni trưởng vừa tròn 19 tuổi (thuộc dòng Thiền Thiên Thai Giáo Quán).
    “ Ái nghiệp đeo mang từ muôn kiếp,
    Dẫn đường sáu nẻo mãi lênh đênh,
    Bỗng dưng ánh đạo soi mầu nhiệm,
    Con đường giải thoát quyết vượt lên”.
    Chùa Tôn Thạnh là nơi nương tựa của Ni trưởng, từ đó tập quen dần nếp sống đạo lại được gần gũi thầy sáng bạn hiền cùng giúp nhau trên bước đường học đạo, trưởng dưỡng đạo tâm, trau giồi đạo hạnh. Ngoài việc siêng năng công quả, Ni trưởng luôn dành thời gian cho việc tụng niệm, tinh tấn học Bộ luật Trường Hàng để hoàn bị nhân cách người tu sĩ.

    Thời gian lặng lẽ trôi, Ni trưởng cũng trưởng thành theo dòng sữa pháp, được Bổn Sư cho phép đăng đàn thọ Sa-di-ni giới vào năm 1943 tại Giới đàn chùa Tôn Thạnh do Hòa thượng Liễu Thiền đương vi Đàn đầu Hòa thượng.
    “ Bấy lâu ao ước mảnh Ca-sa,
    Đợm màu giải thoát hạnh ly gia,
    Từ bi rộ nở trong tâm trí,
    Con đường sanh tử nguyện thoát ra”.

    Khi khoát trên mình chiếc Mạn y lòng rất phấn khởi, Ni trưởng nỗ lực bái sám công phu, tinh cần trau giồi Tam Vô Lậu học. Ngày hai bữa muối dưa đạm bạc, đêm trì Kinh niệm Phật để phát sinh trí huệ, sau ba năm rèn luyện, tam nghiệp tinh cần để chuẩn bị cho sự tiến lên thềm thang Cụ túc.

    Năm 1946, tại chùa Tôn Thạnh lại khai Đại giới đàn tiếp dẫn hậu lai, Ni trưởng được Bổn sư cho phép đăng Đàn thọ giới Thức-xoa-ma-na và Đại giới. Sau khi đắc giới, Ni trưởng được Ân sư truyền dạy Tứ Phần Luật Giới Bổn Lược Ký hầu làm nền tảng cho nếp sống của người xuất gia, giúp tăng trưởng đạo lực, vững bước đường tu.

    Sau khi thọ Cụ túc giới và học Luật trọn một năm, theo nhu cầu Phật sự, Ni trưởng rời chùa Tôn Thạnh đến chùa Linh Phong (Tiền Giang) để chung lo Phật sự với Hòa thượng Đạt Hương – một vị cao Tăng (cậu ruột của Ni trưởng). Tại đây, Ni trưởng được hướng dẫn tận tình trên bước đường tu học và hành đạo, bản thân chịu khó học tập nên không ngừng tiến bộ trên nhiều lĩnh vực.

    Chùa Linh Phong là đại Già lam cổ kính thường có  nhiều Phật sự nên công việc luôn bận rộn, nhờ đó Ni trưởng rút ra nhiều bài học kinh nghiệm trong cuộc sống đạo.
    “ Hơn bảy năm gần bậc Ân sư,
    Nhiệt tình vì đạo chẳng riêng tư,
    Vượt bao thử thách nào ngại khó,
    Dẹp sạch ngã nhơn tỏa lòng từ ”

    Năm 1953, để thực hiện hạnh nguyện tự tu tự độ và phụng dưỡng bà nội lúc tuổi già, Ni trưởng xin phép Hòa thượng rời chùa Linh Phong cất một am tranh nhỏ trong đồng vắng tại quê nhà để hằng ngày trì Kinh niệm Phật và thay mặt song thân chăm lo phụng dưỡng bà nội. Ròng rã mười năm, vừa lo việc hiếu đạo nhưng vẫn âm thầm tấn tu đạo nghiệp tại am tranh, từ đó ba nghiệp cũng thấm đượm Thiền-na hòa trong thanh tịnh, đạo phong tỏa sáng.

    III. THỜI KỲ HÀNH ĐẠO
    Ni trưởng là tấm gương cho rất nhiều người trong thôn xóm phát tâm Quy y, nương theo Chánh pháp lánh dữ làm lành trở thành những người Phật tử chân chánh.
    “ Mười năm sống dưới mái am tranh,
    Đạo Phật xưa nay cốt thực hành,
    Trái duyên, nghịch cảnh, bao gian khổ,
    Lòng son thanh thản ngắm trăng thanh”.

    Những tưởng nơi đồng vắng am tranh yên ổn nhưng thời cuộc đẩy đưa, chế độ Sài Gòn thực hiện chính sách dồn dân lập ấp chiến lược, làm cho người dân vô cùng khốn khổ, Ni trưởng phải dời am tranh ra cạnh Quốc lộ I cách Gò Đen (Long An) khoảng 500m cất am tranh vách đất tiếp tục tu hành. Năm 1969, cơ duyên hội đủ Ni trưởng biến am tranh này trở thành ngôi chùa lấy hiệu là Pháp Đàn.

    Trên nền đất lầy lội, Ni trưởng đã tốn nhiều công sức để sang lấp mặt bằng, thiết kế đồ án, xây cất chánh điện, từng bước nâng cấp sửa sang trai đường, Tăng xá, nhà trù… Hiện nay, ngôi chùa Pháp Đàn được khang trang là do sự vun đắp cả đời tu của Ni trưởng, xóm làng từ nay có được mái ấm tinh thần, giúp người hướng thiện:
    “ Đất Gò Đen hằng đem rền tiếng mõ,
    Trời Mỹ Yên mỗi tối tiếng chuông ngân,
    Lời pháp âm vang dội khắp xa gần,
    Khách lạc bước dừng chân quay gót ngọc”.

    Cơ sở tạm ổn, giai đoạn tiếp Tăng độ chúng, kế vãng khai lai, thừa hành Phật sự, Ni trưởng không ngại khó khăn áp dụng pháp hành lợi tha, bình đẳng độ chúng, chẳng phân biệt sang hèn. Đặc biệt trong thời gian chiến tranh, lệnh tổng động viên do chế độ Sài Gòn ban hành được thực thi rất gắt gao, với tấm lòng từ bi Ni trưởng chịu biết bao vất vả để lo thủ tục giúp cho ba trăm thanh niên được hoãn dịch (tạm miễn đi lính của chế độ Sài Gòn).

    Trên đường hành đạo ngày càng mở rộng và đạt những kết quả khả quan, nên luôn được huynh đệ đồng môn quý mến, các bậc trưởng thượng tin yêu tạo cơ duyên rộng đường hành đạo. Năm 1969, Ni trưởng được mời giữ chức vụ Ủy viên Kiểm soát Ban Đại diện Giáo hội Phật Giáo Việt Nam thống nhất tỉnh Long An.

    Năm 1971 trên bước đường phụng sự Chánh pháp, tại Đại hội Khoáng đại Kỳ I của Giáo hội Thiên Thai Giáo Quán, với sự tín nhiệm của Tăng Ni, Ni trưởng được mời giữ chức vụ Ủy viên Tài chánh.

    Đại thắng mùa xuân năm 1975, Bắc Nam sum họp một nhà, Phật giáo Việt Nam bước sang giai đoạn thống nhất các hệ phái và thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1981). Năm 1982, tại Đại hội Phật giáo tỉnh Long An nhiệm kỳ I, Ni trưởng được Tăng Ni suy cử làm Ủy viên Ban Tri sự Tỉnh hội Phật giáo Long An kiêm Chánh Đại diện Phật giáo huyện Bến Lức liên tục ba nhiệm kỳ (từ 1982 đến 1991).

    Với đức hạnh vẹn toàn, giới thể trang nghiêm, Ni trưởng được chư Tôn đức mời vào hàng Tam sư thất chứng trong nhiều Đại giới đàn Ni tại TP. Hồ Chí Minh và Long An để truyền trao giới pháp cho đông đảo giới tử Ni.

    Năm 1987, tại Đại hội Phật giáo toàn quốc nhiệm kỳ II, Ni trưởng được tấn phong lên hàng Giáo phẩm Ni trưởng.
    Cuộc đời Ni trưởng sống thanh bần lạc đạo, ngày lo chăm sóc vườn chùa, tăng gia sản xuất, đêm đến tinh tấn trì Kinh niệm Phật thể hiện nếp sống “Tam thường bất túc”. Nhưng với tấm lòng vô ngã, vị tha, Ni trưởng không phân biệt thân sơ, già trẻ mà hóa độ tuỳ duyên. Một hình ảnh đẹp là mỗi khi có ai lỡ bước ghé chùa, Ni trưởng luôn tận tình tiếp đón, từ người thân cho đến những người xa lạ khi gặp hoàn cảnh khó khăn, Ni trưởng đều quan tâm giúp đỡ tận tình. Hình ảnh ấy luôn hiện hữu dưới mái chùa Pháp Đàn suốt mấy thập kỷ qua, xoa dịu biết bao người trong hoàn cảnh khốn khó, bất hạnh.

    “ Một người một sự nghiệp vẻ vang,
    Trải qua bao thử thách lắm gian nan,
    Trọn một đời vẹn toàn đường tu niệm,
    Tấm lòng son tô điểm ánh đạo vàng”.

    IV. THỜI KỲ VIÊN TỊCH
    Tổ Quy Sơn dạy: “Tuy nãi tứ đại phò trì, thường tương vi bội”. Thật vậy, có thân tức có bệnh là lẽ thường tình của kiếp nhân sanh. Vào mùa thu năm 1998, Ni trưởng không may bị bán thân bất toại phải nằm an dưỡng suốt nhiều năm nhưng tinh thần Ni trưởng vẫn minh mẫn.
    Để việc chùa được ổn định sau khi Ni trưởng trở về cõi Phật, người lập di chúc giao phó trách nhiệm cho Thượng tọa Thích Tắc Phi quản lý, điều hành Phật sự tại chùa Pháp Đàn.

    Mặc dù hàng môn đệ luôn quan tâm săn sóc, các bác sĩ lương y tận tình chữa trị nhưng sức khoẻ của Ni trưởng ngày một yếu đi và đến lúc hóa duyên đã mãn. Những việc cần làm đã làm xong, những việc chưa làm đã chuyển giao lại cho thế hệ kế thừa, Ni trưởng không vướng bận điều gì và người đã an nhiên thu thần viên tịch vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 12 tháng 5 năm Giáp Thân (ngày 29 tháng 06 năm 2004). Trụ thế 81 năm, 58 hạ lạp.

    Ni trưởng đã trở về cõi Niết-bàn vô tung bất diệt, để lại vô vàn niềm kính tiếc cho môn đồ pháp quyến và chư huynh đệ đồng môn. Từ nay chùa Pháp Đàn vắng bóng bậc ân sư khả kính suốt đời tận tụy trùng hưng Tam Bảo, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Long An mất đi vị Ni trưởng là một trong những trụ cột của hàng Ni giới, trọn đời hiến thân cho sự nghiệp đạo pháp lợi lạc nhân sanh, tích cực góp phần trang nghiêm Giáo hội.