Ni nay nhớ tổ Ni xưa

22

  Dẫu mùa Xuân ngoại cảnh đã lùi về đâu đó, thế mà những ngày này vẫn rộn ràng, bộn bề, tấp nập… chẳng khác nào Xuân sang. Vừa kết thúc thành công hội thảo “Di sản Sư trưởng Như Thanh: Kế thừa – Phát triển Ni giới Việt Nam”, chư Tôn đức Ni tiếp tục cho ngày Đại lễ Tưởng niệm “Đức Thánh Tổ Ni – Đại Ái Đạo Kiều Đàm Di”. là vị Ni đầu tiên được xuất gia trong thời Đức Phật còn tại thế. Là hàng ngũ tu sĩ trẻ như chúng con đây, không thể không biết đến vị Tổ Ni này, Ngài có tầm ảnh hưởng rất lớn đến sự tu tập của Ni giới trong và ngoài nước. Nếu ngày ấy không có người dẫn đầu thì làm gì Ni giới được dự vào hàng Chúng Trung tôn?

Có phải chăng:

Cây có cội mới trổ cành sanh lá
Nước có nguồn mới bủa khắp rạch sông.
Ni giới nay, cũng có Tổ có tông
Làm sao quên được công ơn vun trồng?

Khi nhắc đến người dì của Thái tử Tất Đạt Đa đã thay thế Hoàng hậu Ma Da dưỡng nuôi Thái tử, chúng ta chắc ai cũng rõ. Kiều Đàm Di tên đầy đủ theo Pàli ngữ Mahàpajàpati – Gotami. Hán ngữ phiên âm Ma Ha Ba Xà Ba Đề, nghĩa là Đại Ái Đạo. Người sinh trưởng tại Devadaha, nước Câu Ly (một nước nhỏ đối diện với Ca Tỳ La Vệ), con của Vua Thiện Giác. Sau khi hạ sanh Thái tử Tất Đạt Đa được bảy ngày, Hoàng hậu Ma Da viên tịch, Kiều Đàm Di trở thành Di mẫu, trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng Thái tử khôn lớn. Đến tuổi trưởng thành, Thái tử xuất gia tu hành và thành Phật. Khi Di mẫu xin phép Phật được thế phát làm Sa môn, qua ba lần thưa thỉnh, nhưng Thế Tôn không chấp nhận. Tôn giả A Nan khởi đại bi tâm, đã ba phen khẩn cầu Đức Phật và cuối cùng Ngài bằng lòng cho người nữ xuất gia với điều kiện bắt buộc phải thọ trì Bát Kỉnh Pháp (tám pháp mà Phật dạy chư Ni phải cung kính tôn trọng chư Tăng đến suốt đời dù hạ lạp cao hơn chư Tăng). Sở dĩ người nữ không được Phật cho xuất gia vì giáo pháp của Ngài sẽ bị giảm rất nhiều năm, nhưng cũng nhờ câu hỏi rất thông minh của Tôn giả A Nan:

– Người nữ quyết tâm tu hành có thành Phật được hay không thưa Thế tôn?

Chắc hẳn chúng ta cũng rõ được đáp án này. Trong các Kinh điển đã từng nói, ai cũng có tánh Phật, chỉ là biết mà trở về sống với vị Phật ấy hay quên đi bản tánh sống với phàm tình?

Đã là một phần tử của Ni giới ngày nay, chúng ta đã thọ ơn cao vời của vị Tổ Ni Kiều Đàm Di, mà tinh thần tri ân, niệm ân và báo ân thì không thể thiếu, đó cũng là truyền thống của dân tộc Việt Nam. Quý Ni trưởng, Ni sư cùng chư Tôn đức Ni đã làm những điều thật lớn lao, trong việc tu tập và hoằng pháp, kế thừa và phát triển Chánh pháp, để đền đáp ân đức của những bậc Ni lưu tài đức. Còn những kẻ sơ cơ vào đạo, chút vị mặn của đại dương, làm được gì đây, trong sự tồn hưng của Phật pháp? Thật chẳng gì hơn, chúng con thiết nghĩ: Nương thầy tổ và Tăng thân, tu tập rèn luyện tự thân và tâm, là điều thiết thực nhất khi chúng con còn quá non dại. Gặp được Chánh pháp và Minh sư thì còn hạnh phúc nào bằng?

Trong Cư Trần Lạc Đạo Phú, Vua Trần Nhân Tông đã dạy:

願蒙親近明師果菩提蔑店麻佂
福及情期知識花優曇亖劫耽厠.

Nguyền mong thân cận minh sư, quả Bồ Đề một đêm mà chín;
Phúc gặp tình cờ tri thức, hoa Ưu Đàm mấy kiếp đơm bông.

Nguyện và mong được gần gũi thầy sáng bạn lành những bậc thiện tri thức trợ giúp, thúc đẩy ta, mỗi khi tâm tu lui sụt, bởi những gai góc của dòng đời, thêm thắng duyên thẳng tiến trên con đường tìm về quê hương đích thực của chính mình. Được như vậy, sự giác ngộ sớm gần một bên, không cần thời hạn lượng định. Sự quý báu được hội ngộ đủ duyên như vậy cũng khá là hiếm hoi, nào có khác hoa Ưu Đàm (Uudumbara) mấy ngàn năm mới nở một lần. Thật hạnh phúc và quý báu cho chúng con, một sự tri âm thầm lặng mà không ngôn từ nào có thể diễn đạt được.

Học và tu tập rèn luyện chính mình từng ngày, để mai đây lớn khôn, đủ duyên có thể ứng phó đạo tràng thay nhọc cho thầy, tu được cho bản thân và lợi lạc cho mọi người. Thế nên có câu: “Tiên lập đức, hậu lập ngôn.”

Đây là điều thiết thực nhất, đối với Tăng Ni trẻ thời hiện đại 4 – 5.0 này. Phải thật sự cẩn trọng tâm, chớ bị vọng tâm gạt gẫm, vì chúng ta chưa chứng quả A la hán, thì chưa thể tin tâm mình (Đức Phật đã dạy ở Kinh Tứ Thập Nhị Chương). Thật sự chẳng nên rời Thầy Tổ và đại chúng quá sớm, chỉ vì chút tài lẻ của ta (diễn thuyết hay, cắm hoa, nghệ thuật, giỏi các ngôn ngữ, giao tiếp MC…) Lắm lúc chúng ta nói thật tuyệt vời, nhưng chỗ thực hành và trải nghiệm y còn nhiều lỗ hổng. Có như thế mới phần nào đáp đền được tứ trọng ân, trong đó có ân của các bậc tiền bối đi trước (Thánh Tổ Ni Kiều Đàm Di, Sư trưởng Như Thanh… nhiều và rất nhiều vị Ni lưu, xuất cách cả việc tu và hành đạo).

Tâm viên, Ý mã khổ làm sao,
Sai khiến ta đi khắp nẻo nào.
Ơn Phật phát minh Pháp mầu nhiệm,
Phục Tâm, kiềm Ý tuyệt biết bao.
(Diệu Giác)

Cái quan trọng nhất quyết định thành bại vẫn là tâm, kỷ niệm về bậc Tổ của Ni giới, chúng con nhớ lại bổn phận và trách nhiệm chính mình – Ni trẻ thời hiện đại. Nguyện mỗi ngày một khác hơn, tu tập và phát triển, kế thừa được những di sản vật thể và phi vật thể mà quý Ngài đã để lại cho đời.

“Gắng tu chẳng chút sanh lười mỏi,
Lập chí vững chắc như kim cương.
Dù bao sóng gió không lay động,
Thẳng bước tiến lên quả Vô sanh,
Yêu ma quỉ mị không ngăn nổi,
Chiếc gươm trí tuệ tay chẳng rời.”
(Văn Phát Nguyện – tại Thiền viện)

Nam mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Hải Thuần Bảo Hải