Ni giới tỉnh Tiền Giang tiếp tục phát huy tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam

83
  1. Mở đầu

Là người phụ nữ đầu tiên tiếp nhận và đi theo con đường của đức Phật Thích Ca, Thánh mẫu Kiều Đàm đã trở thành vị tổ soi đường cho hằng Ni giới Phật giáo noi theo, trải suốt nhiều thế hệ.

Khát vọng được đến với đạo, được hành trì theo lý tưởng của đức Phật là một động lực mạnh mẽ, là quyết tâm không gì ngăn trở, chính vì vậy, dù cho có gặp nhiều chướng ngại, chông gai trên con đường cầu đạo giải thoát, Đức Kiều Đàm vẫn có đầy đủ nghị lực, quyết tâm, có đủ sự kiên trì, nhẫn nại để thực hiện cho được hoài bão của mình.

Hàng ngàn năm qua, những người con gái của Đức Phật, noi theo hạnh nguyện và đức tính cao quý của Đức Thánh Mẫu Kiều Đàm, nữ giới Phật giáo Việt Nam, Ni giới Phật giáo tỉnh Tiền Giang nói riêng, đã có nhiều đóng góp thiết thực cho bản thân, cho Tăng già(sangha)và cho xã hội. Vượt lên trên những khó khăn, ngăn ngại trên bước đường hành trì, tu tập, hàng ngàn Ni giới Phật giáo Việt Nam đã, đang và sẽ còn tiếp tục xiển dương tinh thần vì Đạo pháp và cho dân tộc Việt Nam.

  1. Ni giới tỉnh Tiền Giang tiếp nối truyền thống vẻ vang của chư Ni

2.1 Giáo dục, đào tạo

Trong vô số hạnh nguyện hành trì để phát triển Phật giáo nước nhà, tinh thần nhập thế vào đời luôn là sợi chỉ xuyên suốt, là kim chỉ nam trong hành động. Phật pháp bất ly thế gian giác! Thật vậy, mỗi một hành giả, những người con gái của Đức Phật, sẽ không thể thực hiện được trọn vẹn hoài bảo của mình, tức tiến tu giải thoát mà lại tách rời với thế gian, với cuộc sống của con người.

Tinh thần tích cực “đem đạo vào đời” của Phật giáo thời đại Lý – Trần đã đưa đến những thiền sư nổi tiếng, trong đó Đức vua Trần Nhân Tông đã trở thành sơ tổ của phái Thiền hoàn toàn mang đặc trưng Việt Nam: Thiền Trúc Lâm Yên Tử! Tinh thần ấy vẫn bàng bạc trong các Thiền sư ở Nam bộ từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đặc biệt là tại một địa bàn đặc thù, với một vị thế địa- lịch sử và địa- văn hóa như vùng đất Nam Bộ, tinh thần đó lại càng được thể hiện rõ nét hơn.

Đầu thế kỷ XX, ở miền Nam Việt Nam đã bắt đầu hình thành một lực lượng lớn nữ tu sĩ xuất gia theo đạo Phật. Số lượng người tham gia ngày một đông và ảnh hưởng xã hội của họ ngày rỏ nét. Ni chúng đã có những đóng góp nhất định trong tiến trình phát triển của Phật giáo Việt Nam.

Từ đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam cũng đã có các vị Ni làm nên đạo nghiệp đáng kể, như sư bà Diệu Tịnh, sư bà Diệu Không, sư trưởng Như Thanh…đã khởi đầu cho việc hình thành và phát triển của Ni giới Việt Nam. Và đến nay, chư Ni đã xây dựng được giáo đoàn lên đến hang ngàn người.

Trên lĩnh vực giáo dục Ni chúng. Không thể không kể đến công lao buổi đầu của Tỳ kheo Ni Hồng Nga Diệu Ngọc. Cô là đệ tử của Hòa thượng Chí Thiền, người đã có công lớn trong quá trình xây dựng lớp gia giáo đầu tiên, để tạo điều kiện cho Ni chúng có nơi tu học, góp phần tạo tiền đề quan trọng cho phong trào tu học của Ni giới được phát triển. Năm 1927, tỳ kheo Ni Hồng Nga mở lớp Gia giáo Ni tại chùa Giác Hoa (Bạc Liêu), là ngôi chùa Ni đầu tiên ở miền nam do cô xây dựng.(1)

Chùa Kim Huê (Sa Đéc), từ năm 1936, là điểm đầu tiên tổ chức giảng dạy cho Ni sinh về nghi thức truyền giới, góp phần đào tạo chư vị giới sư Ni cho Ni bộ Bắc Tông về sau(2). Những năm 1939 – 1945, tại Phú Nhuận, sư cô Diệu Tấn mở Ni trường tại chùa Kim Sơn, đã góp phần đào tạo các vị lãnh đạo Ni giới sau này (3).

Tiếp nối truyền thống này, tại tỉnh Tiền Giang đã xuất hiện nhiều vị danh Ni có đóng góp đáng kể vào sự nghiệp phát triển Phật giáo nước nhà. Chư Ni Việt Nam ngày nay, không quên vị Ni xuất chúng, đã trở thành một danh Ni, không chỉ trong phạm vi tỉnh nhà, mà cho chư Ni cả nước, đó là Ni trưởng Diệu Tịnh (1910 – 1942). Ni trưởng chính là vị giáo thọ Ni đầu tiên của vùng đất Gia Định. Không chỉ là giáo được thỉnh mời giảng dạy và trao đổi kinh điển ở miền Bắc và miền Trung, Ni trưởng còn là một vị Ni tiêu biểu trong phong trào nghiên cứu giới luật, dịch kinh sách, viết bài đăng tạp chí Từ Bi Âm…tất cả cũng chỉ nhằm vào việc tập hợp, kêu gọi tinh thần học hỏi, sống tu đúng chánh pháp cho chư Ni thời bấy giờ.

Học tập gương sang của người đi trước, đệ tử của Ni trưởng là Huyền Học, vụ trưởng của Ni bộ Nam Việt ngay trong nhiệm kỳ I (1964 – 1968). Rồi tiếp nối chức vụ này, Ni trưởng Liễu Tánh, cũng vốn là người con của mãnh đất Tiền Giang, là vụ trưởng Ni bộ Nam Việt nhiệm kỳ II. Chúng ta cũng không quên, một ngôi chùa xưa, được sắc tứ, đó là chùa Linh Thứu, vốn có truyền thống nổi tiếng về việc tu học,đào tạo chư Ni trong tỉnh, và liên tiếp nhiều năm liền, cùng với Phật Bửu Ni Tự và chùa Phổ Đức đã trở thành một điểm đến cho chư Ni toàn tỉnh an cư kiết hạ hang năm.

Như vậy, chỉ trong một kĩnh vực quan trọng là giáo dục, đào tạo Ni giới, tại tỉnh Tiền Giang đã xuất hiện khá nhiều vị tôn túc, các Ni trưởng, Ni sư góp phần xứng đáng trong hoạt động nhập thế vào đời, mang lại những kết quả đáng trân trọng cho việc phát triển đội ngủ Ni giới ở Nam bộ.

2.2 Hộ quốc an dân

Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, nếu như ở giai đoạn chiến tranh vệ quốc trước đây, ít thấy xuất hiện những người nữ(tu sĩ và cư sĩ), thì trong cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu và đế quốc xâm lược Mỹ đã có bóng dáng của Ni sư Huỳnh Liên cùng các chư Ni trong thành phố. Các cuộc biểu tình, tuyệt thực đã làm ngòi nổ kéo theo các cuộc xuống đường của nhiều tầng lớp cư dân ở Sài Gòn. Tịnh xá Ngọc Phương trở thành cơ sở đóng góp tài lực lớn của nhiều đơn vị cách mạng. Sự tham gia, đóng góp công sức của các chư Ni vào việc chống đàn áp Phật giáo của chế độ Ngô Đình Diệm chính là một hành động nhập thế tích cực, cho thấy dù ở hoàn cảnh nào, chư Ni cũng đã thể hiện được tinh thần vô úy, không sợ hãi, tinh thần bất khuất trước sức mạnh, sự đàn áp, hủy diệt của các thế lực xâm lược đất nước, gây đau thương, chết choc cho người dân Việt Nam.

Chúng ta cũng không quên Ni trưởng Huỳnh Liên(1923-1987), vốn là người con của đất Tiền Giang, là đại đệ tử Ni của Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang, người sang lập hệ phái khất sĩ, mang lại nét đặc sắc cho Phật giáo Việt Nam về tính chất thuần Việt của hệ phái. Dưới chế độ độc tài Ngô Đình Diệm đàn áp, khủng bố Tăng Ni Phật giáo, và sau này, trong thời gian chống đế quốc Mỹ xâm lược. Ni trưởng đã là ngọn đuốc trong nhiều cuộc đấu tranh, biểu tình của phong trào công khai giữa long thủ đô Sài Gòn lúc ấy, để đòi độc lập, tự do cho đất nước, Ni trưởng Huỳnh Liên đã làm cho kẻ thù phải sợ hãi và khâm phục trước tinh thần đấu tranh bất bạo động của những người con gái của Đức Phật, sâu lắng nhưng đầy dung cảm và kiên quyết.

2.3 Từ thiện- xã hội

Trên lĩnh vực từ thiện – xã hội, chư Ni, vốn là những người phụ nữ có tấm long vị tha, thương người được thể hiện rõ nét, đã tích cực tham gia vào mọi hoạt động đem lại niềm an vui cho mọi người, giúp họ xóa bớt những đau thương, phiền não trong cuộc sống. Kế thừa truyền thống từ bi, bác ái, thương người như thể thương than, tại Phật Bửu Ni tự, ngôi chùa Ni đầu tiên trong tỉnh đã xuất hiện một ký nhi viện từ những thập niên 60 của thế kỷ trước. Không chỉ có ký nhi viện, mà tại tỉnh nhà Tiền Giang còn lập được chẩn y viện tại Quan Âm Tu viện để khám bệnh và phát thuốc miễn phí cho người dân nghèo, người bị thương tật.

Từ những nhiệm kỳ đầu tiên sau ngày thành lập giáo hội Phật giáo Việt Nam, đến nay, đã trải qua 7 nhiệm kỳ. Ni giới Phật giáo Việt Nam, phân ban Ni giới Phật giáo tỉnh Tiền Giang nói riêng đã cống hiến nhiều công sức trên lĩnh vực nhập thế vào đời này. Bởi chính vì hoạt động từ thiện- xã hội vốn là một lĩnh vực thể hiện tinh thần vị tha, thương người nhiều nhất.

Chư Ni tỉnh Tiền Giang cùng với Phật tử, nhiều năm qua đã góp phần xây dựng cho những người nghèo khổ, bất hạnh có được ngôi nhà tình thương ; đã giúp cho nhiều trẻ em bất hạnh, mồ côi có được mái ấm tình thương để họ có thể tiếp tục sống vui và được yên ổn học hành. Chư Ni trong lĩnh vực là thế mạnh của mình đã góp phần vào việc khuyến tu, hướng thiện qua việc chế biến các thực phẩm chay, giúp thành lập các quán cơm chay…để tinh thần không sát sinh được ngày một nhân rộng ra cộng đồng.

Sau khi ra đời phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang vào năm 2009, số lượng chùa Ni và chư Ni trong tỉnh đã gia tang đáng kể, toàn tỉnh lúc ấy đã có 192 ngôi chùa Ni và 544 chư Ni(1), góp phần tạo nên một lực lượng Ni giới trong tỉnh có được thành quả ngày một tăng cao trên lĩnh vực từ thiện- xã hội đã nâng số đóng góp vào quỹ thuộc nhiệm kỳ II (2012- 2017), lên đến gần 40 tỷ đồng (2).

  1. Kết luận

Nhập thế vào đời là một trong nhiều pháp môn của các tu sĩ Phật giáo, đặc biệt là Phật giáo Việt Nam, bởi lẽ để có thể tiến tu giải thoát, hành giả cần tạo lập thật nhiều công đức. Phật giáo Việt Nam đã vạch ra một con đường mới đi đến giác ngộ, đó là con đường cứu dân độ thế, và trên con đường này tâm con người ngày càng được khai mở, đạt đến tâm Phật.

Hướng đến Đại lễ vía Đức Thánh Mẫu Kiều Đàm, nữ giới Phật giáo tỉnh Tiền Giang tiếp tục xiển dương đức tính quý báu vô ngã, vị tha, lấy tinh thần nhập thế vào đời làm động lực để thể hiện long từ bi và trí tuệ của Phật giáo. Đó chính là sự thể hiện rõ nét nhất tinh thần tri ân và báo ân đến Chư Phật, Thánh Mẫu Kiều Đàm Di và thầy tổ vậy.

Trần Hồng Liên

Ghi chú:

(*)PGS.TS. Phó giám đốc trung tâm Nghiên cứu Phật giáo Việt Nam- Viện Nghiên Cứu Phật học Việt Nam- Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Trần Hồng Liên (1996)Phật giáo Nam bộ từ thế kỷ XVII đến 1975, NXB Thành phố Hồ Chí Minh tr 50.
  2. Trần Hồng Liên (2016) Giáo dục Ni chúng ở Nam kỳ đầu thế kỷ XX. Trong sách nhiều tác giả (2016). Nữ giới Phật giáo Việt Nam truyền thống và hiện đại NXB Đại Học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh tr 590
  3. Trần Hồng Liên (1996)Phật giáo Nam bộ từ thế kỷ XVII đến 1975. NXB Thành phố Hồ Chí Minh tr 51
  4. Số liệu của phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang.
  5. Số liệu của phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang

Tài liệu tham khảo

  1. Như Đức (2009) Lược sử Ni giới Bắc tông, Hà Nội, Nxb Tôn giáo.
  2. Trần Hồng Liên(1996) Phật giáo Nam bộ từ thế kỷ XVII đến 1975, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Trần Hồng Liên (2016) Giáo dục Ni chúng ở Nam kỳ đầu thế kỷ XX. Trong sách: nhiều tác giả (2016). Nữ giới Phật giáo Việt Nam: Truyền thống và hiện đại Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Nhiều tác giả (2016), Nữ giới Phật giáo Việt Nam: Truyền thống và hiện đại. Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.