Ni đoàn dấn thân hành đạo

11
Ni trưởng thượng Tịnh hạ Nguyện

  Từ ngàn xưa cho đến ngàn năm sau, không ai có tâm bình đẳng giới tính, chỉ có Đức Phật, bậc Cha lành đại ân, đại đức của người nữ, muôn vạn lần tri ân cũng không đủ lời. Dù cho thân xác tan rã muôn vạn kiếp hy sinh, cũng chưa trả được ân Ngài trong muôn một. Ni giới phải hiểu rõ ân đức đại từ, đại bi của Phật đối với phái nữ rất lớn, nhờ Ngài mà ngày nay trên thế giới mới có “nam nữ bình quyền”. Đã bao lần Ngài A Nan thưa thỉnh, nhưng Đức Thế Tôn vẫn một mực từ chối. Đức Thế Tôn bảo: “Này A Nan, Ta đã biết điều ấy, nhưng vì độ người nữ vào Giáo đoàn, Chánh pháp sẽ bị hoại diệt 500 năm”. Ngài A Nan cố khẩn cầu, cuối cùng Đức Thế Tôn Từ bi hứa khả, nhưng Đức Phật ban hành Bát kỉnh pháp. Kiều Đàm Di Mẫu đã trân trọng lãnh thọ và cung kính phụng hành. Rồi từ đó, Ni đoàn mới được xuất hiện, vào khoảng năm thứ 20 trên đường Đức Thế Tôn hóa duyên độ Chúng. Năm nay, 2020, Ni giới TP. Hồ Chí Minh với tiềm năng sẵn có của các bậc Tôn Đức Ni tiền bối, chúng con cố gắng theo dấu chân của các Ngài, phát triển việc tu học theo đúng con đường Chánh pháp, phục vụ quần sanh.

Sự dấn thân của Đức Thánh Tổ Ni

Trong hàng Thánh đệ tử, Đức Thế Tôn đã khen ngợi Tỳ kheo ni Đại Ái Đạo có phẩm hạnh thâm đạt, trí tuệ, giới hạnh và tinh thần vững chắc, tự tại từng nhập từng xuất mười tám pháp thần biến, dâng lên cúng dường Đức Thế Tôn trước khi nhập diệt.
Đó là kết tinh của quá trình tu tập, miên mật. Không dừng ở đó, Tỳ kheo ni Đại Ái Đạo còn nương oai đức của Đức Thế Tôn đã hướng dẫn cho Ni chúng, từng bước tu tập đi vào Thánh vị.

Dấn thân của chư vị tiền bối Ni

Ở Việt Nam, dấu tích có mặt sớm nhất được phát hiện theo tài liệu lịch sử, về các vị nữ tướng của Hai Bà Trưng như Công chúa Bát Nàn, bà Thiều Hoa, khi viên tịch được Trưng Vương phong là Phù Vương Công chúa. Các vị nữ tướng khác như: Phù Dung, Nguyệt Thai, Nguyệt Độ, Công Chúa Chiêu Dung…, đều đã từng theo hai Bà xuất quân dẹp giặc. Sau khi thua trận, hai Bà tuẫn tiết, còn các Công chúa, Nữ tướng lui về chùa tu tập. Ngoài ra, còn có Bảo tháp của Sư bà Diệu Đăng, Sư bà Diệu Tín, Sư bà Diệu Cơ, Sư bà Đàm Thái. Miền Trung có Sư bà Diên Trường, Sư bà Diệu Hương, Sư bà Diệu Viên, Sư bà Diệu Không, Sư bà Thể Quán, Sư bà Cát Tường… Miền Nam có Sư trưởng Như Thanh, Sư bà Diệu Tịnh, Sư bà Diệu Tấn, Sư bà Thanh Tài, Sư bà Diệu Kim, Sư bà Chí Kiên, Sư bà Huyền Huệ, Sư bà Huyền Học, Sư bà Giác Ngọc, Sư bà Giác Nhẫn, Sư bà Như Nghĩa, Sư bà Liễu Tánh, Sư bà Diệu Ninh, Sư bà Như Lý, Sư bà Diệu Hạnh, Sư bà Diệu Chơn, Sư bà Như Châu, Sư bà Như Hoa, Sư bà Như Ngộ, Sư bà Như Huy… Quý Ngài là những bậc đống lương Phật pháp, được Đại Tăng giao gánh vác Phật sự chung trong ngôi nhà Chánh pháp.

Dòng thời gian cuồn cuộn trôi, chảy dài theo năm tháng, chư Tôn Thiền đức Ni đã lần lượt trở về thế giới vĩnh hằng vô tung bất diệt, nhưng pháp âm của các Ngài còn vang vọng trong không gian vô cùng và thời gian vô tận, lan tỏa vào mạch sống của Ni giới Việt Nam.
Một trường hợp của chư Ni cận đại

Ni giới cận đại có Ni trưởng thượng Tịnh hạ Nguyện, Trụ trì chùa Phước Hải (quận 10, TP.HCM) Trưởng Phân ban Ni giới Trung ương, thuộc Ban Tăng sự Trung ương. Ni trưởng sinh năm 1931 tại Kim Sơn, Ninh Bình.

Ni trưởng sinh ra trong gia đình Nho giáo, thân phụ làm Lý trưởng ở làng. Do nhiều đời đã sâu trồng căn lành với Phật pháp, nên 8 tuổi Ni trưởng đã vào chùa làm tiểu, mặc dù thân phụ và anh trai không đồng ý, nhưng nhờ có cụ nội và thân mẫu, Ni trưởng tùy thuận và động viên, sách tấn, tạo điều kiện giúp đỡ khi Ni trưởng cần có bát cơm đỡ lòng, chạy về nhà là có ngay.

1. Chú tiểu chăn trâu

Làm tiểu ở chùa hồi đó rất khổ. Sư cụ làm nông thiền (ở chùa có ruộng nên tự sản xuất) theo lời dạy của Tổ Bách Trượng: “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”. Nghĩa là một ngày không làm là một ngày không ăn, nên kinh tế nhà chùa quý Sư tự làm lấy. Ni trưởng là tiểu nhỏ nhất, nên được đi chăn trâu, tuy cực nhưng Ni trưởng rất thích vì trong tâm Ni trưởng lúc nào cũng mong thành Phật.

Mục đồng thổi sáo, nghêu ngao hát
Lâng lâng mây quyện ánh dương tà.

Đó là lúc tâm hồn thanh thoát khi đưa trâu về chuồng, không còn sợ trâu ăn lúa mạ người khác, ung dung ngồi trên lưng trâu với trạng thái an bình.

Ni trưởng rất tinh tấn trong việc học tập, ông nội là thầy đồ, nên Ni trưởng biết chữ Nho. Cho dù ra ruộng nhổ cỏ hay chăn trâu, Ni trưởng đều mang theo quyển kinh chữ Hán để trên bờ, học thuộc chữ này, học tiếp đến chữ khác, do phát tâm mạnh mẽ trong việc tu học, nên không bao lâu Ni trưởng thuộc được rất nhiều chữ. Tuy không có điều kiện đến trường lớp, nhưng Ni trưởng được nghiệp Sư dạy cho những bài kinh ngắn, nhờ thế hạt Bồ đề ươm mầm từ đấy. Năm 1951, Hội nghị thống nhất Phật giáo ba miền tại chùa Từ Đàm – Huế, thế là Ni trưởng được Sư thầy Đàm Hữu giới thiệu vào Cố đô Huế tu học, năm ấy Ni trưởng vừa tròn 20 tuổi.

2. Đức tin dõng mãnh và sự quyết tâm phát triển trí tuệ

Ni trưởng ở Ni trường Diệu Đức – Huế, do Ni trưởng thượng Diệu hạ Hương làm Tọa chủ (vốn là Thứ phi của vua Thành Thái, bà xuất gia năm 30 tuổi). Chư Ni về tu học rất đông, trong đó có chư Ni miền Nam và miền Bắc tham dự.

Bấy giờ, Huế là trung tâm Phật giáo, từ những năm 1930, công cuộc Chấn hưng Phật giáo được lan rộng ở miền Trung, miền Nam. Ở Cố đô Huế, thời điểm này chư Ni được phép ra ngoài học văn hóa, thế là điều mơ ước của Ni trưởng sắp thành sự thật. Nhờ Hòa thượng Trí Quang đến vận động quý Sư bà, cho các Ni cô đến Bệnh viện Huế thực tập. Bởi vì có một số bệnh nhân nghèo ở nhà thương thí, không có người chăm sóc, nên rất cần các Ni cô trẻ tình nguyện vào bệnh viện tập sự y tá để giúp đỡ họ. Thế là Ni trưởng, lúc ấy được 25 tuổi, cùng ba Ni cô nữa xung phong đến bệnh viện chăm sóc bệnh nhân. Những ngày tháng làm ở bệnh viện rất cực khổ, nhưng trong lòng Ni trưởng thấy rất vui, vì Ni trưởng đã tròn hạnh nguyện giúp đỡ cho người nghèo. Ni trưởng mang hoài bão sẽ được thành Phật, Bồ tát, để cứu giúp bà con nghèo. Dù việc làm rất vất vả, nhưng Ni trưởng có niềm tin rất kiên cố nơi Đức Thế Tôn, hạt Bồ đề đã sanh trưởng, giờ bắt đầu nở hoa giải thoát. Một bên cuộc sống quá thiếu hụt, một bên dụ đạo đầy xa hoa cám dỗ, nhưng Ni trưởng cố gắng giữ vững lập trường, giữ vững niềm tin ban đầu. Thời gian tập sự làm y tá ở bệnh viện, Ni trưởng có tầm nhìn phóng khoáng, Ni trưởng ước mong sau này Giáo hội Phật giáo Việt Nam mở trường dạy đạo cho Tăng, Ni, để mở mang kiến thức và xây bệnh viện để giúp đỡ Tăng, Ni và bệnh nhân nghèo điều trị. Nhờ vào sự nỗ lực nên Ni trưởng đã thành công trong việc học tập. Năm 1968, Ni trưởng đã tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn và đứng ra mở Trường Trung học Mê Linh dành cho nữ sinh, có khu nội trú riêng, với vai trò là Giám đốc sáng lập. Sau năm 1975, trường Trung học Mê Linh giải thể. Khi hội đủ duyên lành, Ni trưởng lại tiếp tục mở Trường Mầm non Tư thục ở Tu viện Dưỡng Chân Tuệ Uyển thuộc tỉnh Đồng Nai, đã duy trì hơn 20 năm qua, giúp đỡ cho học sinh nghèo hiếu học, đó là tấm lòng của bậc Tôn đức Ni, với công hạnh của Bồ tát Quán Thế Âm.

3. Trải lòng từ

Vào những ngày cuối năm, khi gió lạnh tràn qua khe cửa, khiến cho những người cơ nhỡ thiếu nơi nương tựa, hứng chịu những cơn lạnh thấu xương, hoặc những người lao động tất bật đổ rác vào những ngày cuối năm, co ro trong giá buốt. Chỉ còn vài canh giờ nữa cuốn lịch đã sang trang, ấy thế mà Ni trưởng, với vóc dáng gọn gàng, nhanh nhẹn, đã cầm những bao lì xì len lỏi trong đêm tối, đến với những người lao động nghèo thiếu ấy, bằng những câu chúc tụng, an ủi đầy lòng từ ái, với hạnh nguyện bao dung như người mẹ hiền. Vẫn biết rằng bao lì xì ấy chẳng có là bao, nhưng thấm đậm tình người, với việc làm không cần phô bày. Ôi! Nói sao cho hết tấm lòng vô ngã vị tha của người con gái Đức Như Lai, ở tuổi bát tuần mà Ni trưởng vẫn còn hăng say trong công tác từ thiện.

4. Ươm mầm Bồ đề

Hằng năm, cứ vào dịp lễ Phật đản, Ni trưởng tổ chức diễu hành xe đạp hoa, trước tiên là Ni trưởng muốn cổ động bảo vệ môi trường, kế nữa cổ động cho việc làm tôn trọng sự sống của muôn loài, rất hợp với hoạt động cúng dường ngày Đức Phật đản sanh. Bên cạnh đó, việc làm này chủ yếu nhắm vào đối tượng thanh thiếu niên, sinh viên, học sinh, nên rất có ý nghĩa, tác động tốt trong việc giáo dục giới trẻ. Nếp sống lành mạnh, bảo vệ môi trường, khơi dậy và củng cố đạo tâm nơi các em. Ni trưởng luôn khát khao, mong muốn cho lớp trẻ đạo tâm kiên cố, luôn luôn phụng sự Đạo pháp, ủng hộ Tăng Ni, hầu ánh sáng Phật pháp lan tỏa khắp muôn nơi.

Các em Ni trẻ thân thương, qua công hạnh của chư Tôn đức Ni, qua những lời tâm huyết được đăng trên Đặc san Hoa Đàm của Ni trưởng Như Như, Trưởng Phân ban Ni giới tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, luôn nhắc nhở các em, bằng tình thương của người Thầy, người chị đi trước. Vậy mong rằng các em đừng để quý Ni trưởng Tôn sư của mình hụt hẫng. Các em như những mụt măng sinh ra và lớn lên trong sự bảo bọc, chắn gió bởi những bụi tre già vững chắc. Thế hệ các em năng động và tháo vát, bởi thông tin nhanh chóng qua điện, đài, báo, mạng… Không gì hơn các em phải cố gắng tu tập Tam vô lậu học cho làu thông và hành trì cho miên mật, chắc chắn tương lai Ni giới cả nước nói chung, Ni giới TP. Hồ Chí Minh nói riêng, sẽ tiến bộ theo sự phát triển của khoa học. Các em hãy nhìn lại chặng đường mà Ni trưởng, Trưởng Phân ban Ni giới Trung ương đã thành công. Ngài là vì sao sáng đang dẫn đường cho chúng ta tiến bước.

NT. Phước Giác