Những đóng góp của Thiền Viện Viên Chiếu cho đạo pháp và dân tộcPhần 2

15

  3.2 Ni chúng Viên Chiếu đóng góp cho Đạo pháp

Hiện nay, Ni chúng 180 vị, Ban Lãnh đạo gồm Trụ trì Ni trưởng Thích Nữ Như Đức, Phó Trụ trì Ni sư Thích Nữ Hạnh Phước, Thủ bổn Ni sư Thích Hạnh Huệ và một số Giáo thọ sư: Thuần Bạch, Thuần Tuệ, Thuần Chánh, Hạnh Nhã… Các vị này trong số mười vị đầu tiên khai hoang từ những ngày đầu và đã dạy thêm trên những trường Phật học Đồng Nai như Ni sư Thuần Ẩn. Ni chúng có người đến trước đến sau, nhưng mỗi người đều tích cực nhiệt tình tu tập. Với ý chí tự mình phấn đấu, tin vào chính mình nỗ lực tu hành nên luôn sống an lạc, đây cũng một phần đóng góp cho Đạo pháp. Cho nên, tinh thần giác ngộ và tự lực đã thành công qua mô hình Viên Chiếu, với sức mạnh tin tưởng vào chính khả năng mình, cùng sự phát triển thuận lợi của đất nước, Viên Chiếu luôn sống lục hòa theo thanh quy do Hòa thượng Thiền chủ Thích Thanh Từ đề ra. Bởi vì, Đức Phật cũng dạy rằng: “Này các Tỳ kheo, có sáu pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến vô tranh luận, hòa hợp, nhất trí. Thế nào là sáu? Ở đây, này các Tỳ kheo, Tỳ kheo an trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.

Bên cạnh đó, Ni chúng cũng góp phần vào các diễn đàn văn hóa, dịch thuật, hoằng pháp. Về mặt dịch thuật Ni sư Hạnh Huệ dịch từ chữ Nho ra Việt, và từ Việt qua tiếng Anh với lô sách Kim Cang Quyết Nghi, dịch – Đại Sư Hám Sơn, Cao Tăng Dị Truyện, biên soạn, Tất Cả Đều Là Lẽ Đương Nhiên, soạn dịch HT. Thích Tinh Vân, Thủ Thuật Nhà Thiền, biên soạn – Phí Ẩn Thông Dung, Định Cội Xét Nguồn, dịch – Phổ Am Ấn Túc, Mộng Du Tập, dịch – Đại Sư Hám Sơn, Tông Môn Vũ Khố, dịch – Thiền sư Đại Huệ, Chân Không Thoáng Thấy – Janwillem van de Wetering, Những nụ cười Thiền, dịch, Không có sông nào để vượt qua, dịch – Thiền sư Daehaeng, Những nhánh sông thầm trôi, dịch – Sunryu Suzuki: Bạch Ẩn Huệ Hạc, dịch tuyệt Quán Luận Vô Niệm; Quốc sư Đại Đăng Bạch Ẩn Thiền định ca. Ni sư bảo: việc này chỉ phụ cho con đường hoằng pháp tu tập thôi, chớ không phải là cái chính, nếu không học mà tu thì tu mù, có học mà không tu như cái đãy đựng sách, mỗi thứ sẽ bị thời gian khỏa lấp. Có làm bao nhiêu đi nữa cũng không ai nhớ tới mình, còn chính mình phải thương chính mình, mình phải chuyển đổi chuyển hóa tâm của mình, mọi người đều có Phật tánh. Mục đích chính của mình là trở về với chính mình, khai mở để Đức Phật trong chính mình được hiển lộ và trở thành vị Phật trong tương lai.

Ở điểm này, Ni sư Thuần Chánh có biên soạn tác phẩm Dõi bước Huyền Trang, Đối chiếu niên biểu Việt Nam – Trung Quốc, giúp hành giả hiểu rõ hơn về các niên đại lịch sử và cáo vị chư Tổ Trung Quốc và Việt Nam. Bên cạnh đó, Ni sư còn dịch các tác phẩm cho giới trẻ, Trong những vần xoay, Mây vừa trôi qua; Hỏi đá rêu xanh. Mục đích của Người muốn gửi các em để giúp các em nhận ra con người thật của chính mình và ứng dụng vào đời sống tu tập mà đánh mất tâm ban đầu. Như vậy, việc dịch thuật các tác phẩm là trong những việc làm thiết thực, khẳng định tinh hoa Phật giáo Việt Nam và truyền tải thông điệp đến mọi người.

Ni sư Hạnh Đoan soạn dịch rất nhiều tác phẩm như: Chút hương ngày cũ, Sao trời mênh mông, Hòa thượng Thích Tinh Vân Nhân quả nghiệp báo, trích dịch. Những tác phẩm giúp cho hành giả tu Thiền xác quyết rõ ràng lời Phật, ý nghĩa Tổ trong kinh luật, đồng thời hiểu được yếu chỉ Thiền học, nắm vững đường lối tu Thiền, không sợ bị lầm lạc. Qua đó, còn một số Ni sư trong Viên Chiếu đã trước tác, biên dịch, giảng giải, dịch thuật thêm các kinh sách cũng có những nhà dịch giả, dịch từ Hán văn hoặc từ Anh văn mang tư tưởng Thiền, in ấn phổ biến rộng rãi cho đại chúng và Phật tử tu học, với tinh thần phục vụ đóng góp mạnh mẽ, tích cực trong tất cả hoạt động Phật sự đó là đóng góp cho Đạo pháp.

Thiền viện Viên Chiếu hướng đến việc tu tập tự thân là chủ yếu, nhưng nhập thế lợi sanh, phát triển xã hội, làm đẹp cuộc đời là kết quả tất yếu của việc thực hành Chánh pháp. HT. Thích Thanh Từ dạy qua tác phẩm Phật pháp xây dựng thế gian rằng: ”Chúng ta tu làm sao để đem lại cho xã hội này cái an bình hạnh phúc, đó mới là mục tiêu mà người Phật tử hướng đến. Chúng ta chuyển nghiệp ác thành nghiệp thiện, chẳng những tự bản thân đã hiền thiện lại thanh cao, mà người trong gia đình ngoài xã hội cũng được an vui thanh thản”. Ngài hướng dẫn các bước tu tập, từ giữ gìn năm giới cho đến hành thập thiện để xây dựng nếp sống đạo đức cho bản thân, gia đình và xã hội.

Các hoạt động mang tính xã hội của Viên Chiếu trong những năm qua đã mang lại phúc lợi cho quốc gia. Về mặt hoằng pháp, các giảng sư của Viên Chiếu, đã có mặt hầu như các tỉnh thành trên đất nước Việt Nam. Các nẻo đường đất nước đều có dấu chân hoằng pháp của quý Sư, góp phần vào công cuộc ổn định tinh thần của nhân dân, xây dựng một đất nước vững mạnh từ yếu tố cơ bản nhất là con người.

Bên cạnh chương trình hoằng pháp, Thiền viện Viên Chiếu đã góp tích cực công sức của mình cho công tác từ thiện xã hội, nhằm tạo mối quan hệ tốt đẹp với đồng bào địa phương, cũng như góp phần giáo dục kết hợp hoằng pháp như xây dựng các lớp mẫu giáo ở Phước Bình trao học bổng cho học sinh nghèo, gầy dựng thế hệ tương lai cho Đạo pháp và Dân tộc, ủng hộ đồng bào bị bão lụt theo tinh thần tương thân tương ái, góp phần làm tốt đạo đẹp đời tại địa phương, đưa Phật pháp vào đời sống. Vật chất tuy bé nhỏ nhưng giá trị tinh thần, lòng nhân ái, nghĩa cử cao đẹp thì thiêng liêng biết nhường nào. Trong công tác đào tạo phát triển Đạo pháp, thể hiện tinh thần từ bi của đạo Phật. Thực hiện tiêu chí này, Thiền viện Viên Chiếu đã tổ chức duy trì công tác từ thiện tại Thiền viện:

– Phát quà cho người nghèo ở gần Viên Chiếu;
– Phát học bổng kỳ I cho các em Viên Chiếu;
– Phát quà cho dân tộc Châu Ro và dân tộc khác xã Phước Bình 170 phần;
– Phát học bổng kỳ II các em thiếu nhi Viên Chiếu.

Với tấm lòng, những người con Viên Chiếu đã góp phần đem đạo vào đời. Để rồi mai kia con đường Thiền rộng mở nơi nơi, cho người người ngời sáng giữa dòng đời, giữa vô vàn bất hạnh vẫn còn chỗ tin yêu, gởi gắm trông chờ. Viên Chiếu đã phát triển trên nhiều lãnh vực như hoằng pháp, giáo dục, văn hóa dịch thuật và từ thiện. Những gì các Ni sư trong Viên Chiếu đã làm là thành quả của những Ni lưu Việt Nam nói chung, Viên Chiếu nói riêng, như trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ dạy: “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác, ly thế mịch bồ đề, kháp như tầm thố giác”. Bởi vì, Phật pháp ở ngay thế gian, không thể rời thế gian này mà tìm Phật pháp, nếu rời thế gian mà tìm Phật pháp, giống như tìm lông rùa sừng thỏ vậy! Điều này cho thấy Viên Chiếu đã tiếp nối theo con đường của Sơ tổ Trúc lâm, Phật giáo nhập thế. “Ở đời vui đạo hãy tùy duyên”, đó cũng là góp chút phần đóng góp cho Đạo pháp vào đời sống xã hội nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng.

3.3 Phật tử đóng góp cho Đạo pháp

Từ năm 1997, Viên Chiếu đã tổ chức xây dựng mô hình hướng dẫn sinh hoạt thiếu nhi vào mỗi cuối tuần tại vườn Thiền. Thế là từ đó đến nay, Viên Chiếu lại có thêm “Thời khóa tu Thiền đặc biệt” giữa đời thường.

Chủ nhật hàng tuần gia đình Phật tử về Thiền viện tu tập, tổng số lượng khoảng 320 em nam và nữ tương đương nhau, đối tượng các em từ lớp 12 đi làm, từ 7 giờ sáng, tụng kinh, ngồi thiền, học Phật pháp, hoạt động thanh niên dạy các em. Giáo thọ Viên Chiếu dạy các em phải biết trung thực, không nói tục, chửi thề, ngoan ngoãn, nghe lời thầy cô, hiếu thảo với cha mẹ.

Tổng kết cuối năm, Gia đình Phật tử Viên Chiếu biểu diễn văn nghệ vào các dịp: lễ Phật đản, lễ Vu Lan, lễ Phật thành đạo, Tết Trung thu, Tất niên… Các em còn được quý Ni sư, quý Sư cô và các anh chị huynh trưởng dạy giáo lý cho các em hàng tuần về chùa tu học. Chương trình Phật pháp và kỹ năng hoạt động thanh niên. Một tháng có một ngày tập tu, ba tháng hè có dạy thêm; Anh văn, học viết chữ đẹp, móc thú bông, đánh trống. Có một vài Phật tử phát tâm dạy cho mấy em. Bây giờ, những mầm xanh đã trổ lộc ra hoa. Các bé đã biết chào kính quý cô, quý Thầy với cái tâm chơn chất, đã biết tụng kinh lễ Phật và ghi nhớ lời Phật dạy để mà hiếu kính mẹ cha, vâng nghe lời dạy của người trên và vui bước đến trường trong màu áo mới do những tấm lòng Viên Chiếu gởi trao.

4. Thiền viện Viên Chiếu đối với dân tộc

Thiền viện Viên Chiếu thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, dòng Thiền thuần Việt, mang bản sắc Việt, nên đóng góp cho dân tộc, là góp phần xiển dương bản sắc văn hóa Phật giáo Việt Nam.
Ni trưởng Viện chủ Như Đức luôn tiếp nối tâm nguyện của Thầy Thiền chủ góp phần phục hưng Thiền học Việt Nam, làm chỗ nương tựa cho chư Ni và Phật tử có nơi tu học. Người đã bày tỏ: “Tôi muốn góp phần để người Phật tử Việt Nam có một chỗ đứng thật vững trong lòng Phật giáo Việt Nam. Các Phật tử phải thấy cái hay cái đẹp của Tổ tiên mình. Là Phật tử Việt Nam, ai hỏi đến đạo Phật Việt Nam thì phải am tường.” Hiện thực hóa chí nguyện phục hưng nền Thiền học, rất nhiều ngôi Thiền viện được hình thành và đi vào hoạt động một cách quy củ.

Nói về con đường tu học, đi đúng Chánh pháp, Ni trưởng Như Đức luôn nhắc nhở chư Ni và Phật tử phải lấy việc hành trì thoát ly sinh tử làm chính yếu: “Điểm thứ nhất nghiên về chư Ni, nếu chúng ta tu chưa ngộ đạo, chưa sáng đạo thì phải nhiệt tâm, tinh tấn tu hành, đem hết sức mình miệt mài nghiền ngẫm giáo lý, làm sao phát minh cho được việc lớn. Nếu đã phát minh được rồi thì không nên hài lòng ngay đó, mà phải nỗ lực hằng tỉnh giác để trở thành con người bất tử. Có thế chúng ta mới khả dĩ thoát ly sanh tử. Bởi lẽ, người tu là tấm gương cho hàng Phật tử noi theo. Chư Ni phải là người trực tiếp duy trì mạng mạch Phật pháp.”

Còn đối với cư sĩ tại gia: “Chuyện thoát ly sanh tử rất khó thực hiện, nhưng nếu có thiện chí, nỗ lực tinh tiến tu nhận ra được nơi mình có con người bất tử, như vậy cũng rất tốt, rất nhiều công đức.”

Phương cách giáo dục và đường hướng tu học của Thiền viện Viên Chiếu hết sức cần thiết cho chư Ni và Phật tử thời đại ngày nay. Không những làm sống dậy dòng Thiền Việt Nam mà còn góp phần xiển dương Chánh pháp. Phật giáo Việt Nam và dân tộc Việt Nam luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Phật giáo đã đồng hành cùng dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử hơn 2.000 năm, với biết bao thịnh suy thăng trầm, biến đổi mà Thiền viện Viên Chiếu là một minh chứng sống động trong suốt tiến trình lịch sử dân tộc.

4.1 Viên Chiếu thuộc Thiền phái Trúc Lâm

Tôn chỉ của Thiền viện Viên Chiếu đi theo đường hướng Thiền phái Trúc Lâm là “phảng quan tự kỷ bổn phận sự bất tùng tha đắc”, bổn phận của người tu phải xoay lại nhìn mình và nhận cho ra ông Phật và sống với tâm Phật để chuyển hóa thân tâm và đóng góp tích cực cho đời. Trần Nhân Tông đã chủ trương nhập thế tích cực như một cương lĩnh hoạt động của Thiền mà Cư trần lạc đạo ghi: “Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc; Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thật cả đồ công”. Sự truyền thừa Thiền phái Trúc Lâm đã thể hiện tinh thần nhập thế tích cực, đem đạo Phật đi vào cuộc đời, giúp đời bằng tất cả tài năng trí tuệ, từ bi nhiệt huyết của một người đệ tử Phật, nhằm đem lại cho dân chúng một đời sống ấm no và hạnh phúc. Thiền Trúc Lâm hiện đại chủ trương xây dựng hệ thống giáo lý Thiền – Giáo song hành, nhằm đào tạo những mẫu người Phật tử kế thừa tông phong, được giáo dục toàn diện mới đáp ứng nhu cầu lịch sử của thời đại. Đó là xây dựng và phát triển Đại Việt trở nên hùng cường thì Phật giáo mới hưng thịnh, theo tinh thần “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác”.

Người tu sĩ Việt Nam chúng ta phải tự hào về Phật giáo Việt Nam, trong đó Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là trang sử vẻ vang của đời Trần, một thời đại vàng son vang danh. “Thời ấy, nhân dân ta không những biết giữ nước, dựng nước mà còn biết sống theo đạo làm người: trong sạch, cao thượng, thương yêu, đùm bọc nhau… vừa tự chủ, vừa sáng tạo, cởi mở, phóng khoáng… Đó chính là triết lý, tư tưởng Đại Việt ở thế kỷ XIII.” Và dẫu trải qua bao thăng trầm Thiền phái Trúc Lâm vẫn tồn tại và đang trên đà phát triển. Đồng thời, đó là tấm gương sáng lớn cho chúng ta soi chung, với tinh thần nhập thế tích cực đưa đạo vào đời “tùy duyên nhưng bất biến”. Đạo Phật ở giữa cõi đời này tiếp nhựa sống cho đời, chúng ta ngày nay cần phải phát huy mạnh tinh thần tùy duyên nhập thế. Bởi Phật ngay tại tâm, chứ không phải trốn vào nơi hẻo lánh ẩn tu mới có Phật. Mà phải làm sao để Phật giáo đồng hành cùng dân tộc, đó chính là nhiệm vụ chung của tu sĩ Phật giáo chúng ta là những người kế thừa mạng mạch sanh tồn của Đạo pháp, kế thừa sự nghiệp Như Lai, tiếp nối con đường chư Tổ, đem đạo vào đời làm sáng đạo đẹp đời, thay Phật Tổ tuyên dương giáo pháp. Với sứ mạng tối cao, hiến trọn đời mình cho lý tưởng lợi tha. Muốn thành tựu vẻ vang, chúng ta phải thiết thực áp dụng tinh thần Phật giáo như các vị Thiền sư để cảm hóa lòng người, hay nói cách khác, phải hòa nhập vào cuộc đời, hành Bồ tát đạo để tiến đến quả vị toàn giác. Từng bước thể hiện tinh thần nhập thế trong mọi sinh hoạt của cuộc đời, cho Phật pháp mãi sáng ngời lợi lạc khắp muôn nơi. Chính vì thế, Viên Chiếu cũng đóng góp một phần trong sự nghiệp dịch thuật văn hóa và hoằng pháp với mong muốn đem lại hòa bình an vui cho nhân loại và cũng góp phần trong công cuộc xây dựng một cõi Niết Bàn tịnh lạc ngay tại thế gian này.

4.2 Đóng góp đối với dân tộc

Tuy là Thiền viện Viên Chiếu cũng chuyên tu theo Thiền phái Trúc Lâm nhưng chư Ni của Thiền viện cũng đóng góp cho xã hội Việt Nam, dân tộc Việt Nam, thông qua từ thiện xã hội, góp phần giúp cho dân nghèo được giảm nghèo, bớt đau khổ từ trong giáo lý của đạo Phật của các Ni chúng trong Thiền viện, giúp cho chúng sanh bớt khổ. Thông qua hoằng pháp kết hợp với từ thiện xã hội Viên Chiếu tổ chức nhiều đợt phát quà cho người nghèo ở gần Viên Chiếu; phát học bổng cho các em thiếu nhi nghèo; phát quà cho dân tộc Châu Ro và dân tộc khác xã Phước Bình; chia sẻ tịnh tài, phẩm vật đến các hộ nghèo trong các dịp lễ tết. Các khóa tu định hướng cho giới trẻ. Với tâm nguyện muốn cho nước nhà có nền độc lập lâu dài, nhân dân sống ấm no, hạnh phúc. Phật giáo trở thành ngọn đèn soi sáng cho cuộc đời, xây dựng một đất nước phồn vinh thạnh vượng.

Thiền viện Viên Chiếu hướng đến tu tập tự thân là chủ yếu, nhưng nhập thế lợi sanh, phát triển xã hội, làm đẹp cuộc đời là kết quả tất yếu của việc thực hành Chánh pháp. Qua tác phẩm Phật pháp xây dựng thế gian: “Chúng ta tu làm sao đem lại cho xã hội này cái an bình, hạnh phúc, đó mới là mục tiêu của người con Phật hướng đến, chúng ta tu chuyển ác thành thành thiện, chẳng những tự bản thân hiền thiện lại thanh cao mà trong gia đình ngoài xã hội cũng được an vui, thanh thản”. Với ý nghĩa đó, hàng Phật tử, phải giữ gìn năm giới cho đến hành thập thiện để xây dựng nếp sống đạo đức cho bản thân, gia đình, và xã hội.

Về mặt giáo dục đạo đức cho Ni chúng và Phật tử luôn tạo phương tiện cho Ni chúng nhập thất chuyên tu, tâm tư luôn hướng về đạo, mục đích tu là phải giác ngộ giải thoát. Bởi vì trên tinh thần phục vụ xã hội mà muốn phục vụ xã hội muốn xây dựng GHPGVN thì chư Ni luôn luôn phải kiện toàn về mặt học vấn và đạo đức.

5. Lời kết

Qua những trình bày trên cho thấy Thiền viện Viên Chiếu có những đóng góp rất lớn lao cho Đạo pháp và Dân tộc. Đã góp phần xiển dương Thiền phái Trúc Lâm thuần Việt. Thiền viện Viên Chiếu trong quá trình phát triển đã thể hiện được mặt mạnh của Ni giới chịu thương, chịu khó. Dẫu là thân nhi nữ mà phải cày cuốc, cấy lúa, trồng khoai… để cho ngôi Thiền viện ngày thêm nâng cao về mặt kiến trúc đẹp đẽ. Hiện nay đã tạo nên cảnh quang, ai tới đây cũng muốn lưu lại thời gian dài. Đồng thời nó cũng là di tích du lịch văn hóa và du lịch tâm linh.

Thiền viện Viên Chiếu cũng đóng góp nhận những trách vụ do Giáo hội giao phó: Thành viên BTS GHPGVN tỉnh, UV Ban Giáo dục GHPGVN tỉnh; Giáo thọ trường Đại học và Trung cấp Phật học. Ngoài ra, chư Ni tại đây còn hướng dẫn Phật pháp cho các đạo tràng Phật tử; hướng dẫn Phật pháp cho thiếu nhi địa phương; dịch thuật kinh sách từ chữ Hán và Anh ra tiếng Việt; cộng tác với tuần báo Giác Ngộ, cơ quan ngôn luận của GHPGVN TP. Hồ Chí Minh.

Sự đóng góp tuy khiêm tốn, nhưng chư Ni luôn dặn lòng: Việc chính của người tu sĩ là phải trở thành người giác ngộ, sau đó giác ngộ người. Việc độ người thì có vô số phương tiện, chỉ cố gắng thúc liễm thân tâm, hằng nhớ tỉnh giác và sẽ làm việc hết khả năng của mình để phụng sự Phật pháp. Với tâm nguyện mong muốn nước nhà có nền độc lập lâu dài, nhân dân sống an vui hạnh phúc, Phật giáo trở thành ngọn đèn sáng soi cho cuộc đời, xây dựng một đất nước phồn vinh và thịnh vượng. Ni trưởng Viện chủ Viên Chiếu cùng với chư Ni đệ tử không ngừng nỗ lực tiếp nối và phát triển dòng Thiền thuần Việt mang đậm bản sắc dân tộc và tự chủ. Sự sống dậy của Thiền viện cho đến nay có thể nói đã đóng góp hết sức tốt đẹp vào công cuộc chấn hưng Phật giáo, xây dựng nước nhà ngày một tiến bộ hơn. Trên tinh thần “xây dựng nếp sống đạo chân chính, lành mạnh”, đã góp phần vào công cuộc xây dựng văn hóa, đạo đức con người mới, làm thay đổi cái nhìn của xã hội về Nữ giới Phật giáo – một tôn giáo vốn dĩ như là một phần máu thịt của dân tộc Việt Nam.

Thích Nữ Hòa Nhã

Ghi chú

  1. Nhiều tác giả (2016), Kỷ yếu 50 năm Thiền viện Chơn Không, NXB. Tôn giáo, Hà Nội.
  2. Thích Minh Châu (2003), Kinh Trung Bộ III, NXB. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 702.
  3. Hòa thượng Tuyên Hóa lược giảng (2013), Lục Tổ Đàn Kinh, NXB. Tôn giáo, Hà Nội.
  4. Viện Văn học (1989), Thơ văn Lý Trần, Tập II, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 506.
  5. Hòa thượng Tuyên Hóa lược giảng (2013), Phẩm Bát Nhã, Lục Tổ Đàn Kinh, NXB. Tôn giáo, Hà Nội.
  6. Viện Khoa học xã hội (2000), Tuệ Trung Thượng sĩ với Thiền tông Việt Nam. NXB. Đà Nẵng, tr. 4.

Thích Thanh Từ (2000), Nền tảng của đạo Phật trọn một đời tôi, NXB. TP. Hồ Chí Minh.


 

Thư mục tham khảo
1. Thích Minh Châu (2005), Trường Bộ I, NXB. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 502.
2. Thích Minh Châu (2003), Kinh Trung Bộ III, NXB. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 702.
3. Thích Thanh Từ (2000), Nền tảng của đạo Phật trọn một đời tôi, NXB. TP. Hồ Chí Minh.
4. Hòa thượng Tuyên Hóa lược giảng (2013), Lục Tổ Đàn Kinh, NXB. Tôn giáo, Hà Nội.
5. Tỳ kheo ni Như Đức (2009), Ni giới Bắc tông Việt Nam, NXB. Tôn giáo, Hà Nội.
6. Viện Văn học (1989), Thơ văn Lý Trần, tập II, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 506.
7. Viện Khoa học xã hội (2000), Tuệ Trung Thượng sĩ với Thiền tông Việt Nam, NXB. Đà Nẵng, tr. 4.
8. Nhiều tác giả (1997 – 2007), Viên Chiếu 30 năm, NXB. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.
9. Nhiều tác giả (1997 – 2014), Viên Chiếu 40 năm, NXB. Hồng Đức.
10. Nhiều tác giả (2016), Kỷ yếu 50 năm Thiền viện Chơn Không, NXB. Tôn giáo, Hà Nội.
11. Thích Đạt Ma Quán Hiền (2013), Thiền tông Việt Nam trên đường phục hưng & hoằng hóa. NXB. Tôn giáo, Hà Nội.
12. Thích Tuệ Nhật (2017), Thiền phái Trúc Lâm thời hiện đại, Luận văn Thạc sĩ, TP. Hồ Chí Minh.
13. http://www.thuongchieu.net/index.php/thienvien/2-uncategorised/365-thien-vien-vien-chieu.