Nghĩ về đại dịch qua lời Phật dạy

17

  Chắc chắn Đức Phật đã có khi phải đối phó với tai nạn lớn của chúng sanh, đặc biệt là khi Ngài ở Trúc Lâm Tinh xá – Ma Kiệt Đà. Tại Vesāli dân chúng đang bị một trận dịch lớn, dịch hạch, mất mùa, tai nạn hoành hành, nên người chết rất nhiều. Dân chúng bèn cử người sang Trúc Lâm thỉnh Đức Thế Tôn. Trong tình hình đó, dân chúng chết vì bệnh, đói, sợ hãi, bấn loạn và rất nhiều cảnh tượng đau khổ xảy ra khiến vùng Vesāli trở nên vô cùng ô nhiễm. Nhờ năng lực của Đức Phật và chư vị đệ tử, quý vị thiện thần đã dọn dẹp sạch hết tất cả: Sông Hằng dâng lên những đợt sóng lớn cuốn trôi tất cả bụi bặm ô nhiễm, tất cả những tử thi của người chết, và rồi trời mưa. Suốt mấy tháng nay, trời không mưa, hạn hán xảy ra làm đất đai khô cằn, người dân thiếu hụt nước dùng. Lúc Đức Thế Tôn và chư Tăng sắp đến, mưa rất lớn, làm thanh lọc không khí. Khi đến nơi, Đức Thế Tôn tụng một thời kinh Châu Báu và Ngài nói với Ngài A-nan hãy đi chung quanh kinh thành Vesāli và tụng kinh Châu Báu này. Khi Ngài A-nan cùng chư vị Thánh đệ tử đi xung quanh thành và tụng Kinh Châu Báu ba vòng, tất cả tai nạn, bệnh tật, chết chóc đều chấm dứt. Dân chúng được hưởng năng lượng từ bi, an lành của Đức Thế Tôn và hết dịch bệnh. Tuy vậy, dân chúng đã phải trải qua đại nạn mất 3, 4 tháng.

TKN. Như Đức

Sau khi xem bài kinh này, chúng ta nghĩ rằng thời hiện tại cũng cần một năng lượng an lành. Vì thời đại của chúng ta rất đau khổ. Đau khổ này không chỉ tập trung ở một địa điểm, một quốc gia mà còn trên toàn cầu. Nỗi sợ hãi, lo lắng, bất an của chúng ta lớn hơn cả dịch bệnh, bao trùm tất cả các quốc gia. Khi chúng ta hiểu điều này, tâm ta khởi niệm, chúng ta phải giúp ích chúng sanh trong hoàn cảnh khổ sở này. Đó là một việc làm rất hữu ích và thiết thực.

Có thể trong khi chúng ta ngồi đây ôn tập và nhắc nhở những phương pháp tu, chúng ta cũng có thể đem năng lượng tỉnh thức, an ổn của mình, ít ra là một ánh sáng, một ngọn đèn nhỏ. Tuy chúng ta không có năng lượng từ bi lớn nhưng mỗi người chúng ta có một năng lượng, có một khả năng chữa lành thân và tâm trước tiên cho chính mình và sau cho những chúng sanh cần.

Vậy thái độ của chúng ta như thế nào trong thời điểm này? Ước muốn thâm sâu của tu sĩ chúng ta là mong chúng sanh bớt khổ, mong cho đại dịch này sớm chấm dứt. Với ước nguyện đó chúng ta nuôi dưỡng gì? Chúng ta nuôi dưỡng từ bi và chúng ta chuẩn bị cho mình một tư lương, thái độ, tâm thức như thế nào để có thể lắng dịu chính bản tâm và từ đó có thể an ủi, chia sẻ, lắng dịu mọi người chung quanh. Trước tiên, mình phải lắng dịu, cần thường xuyên theo dõi tư tưởng và biết hết, nắm rõ tất cả chân pháp Đức Như Lai.
Chúng ta có thể chỉ cho mọi người một phương thuốc đúng thời, đúng lúc có thể giúp cho người qua cơn bệnh. Đó là chia sẻ những kiến thức thông thường và bây giờ trong thời dịch bệnh này chúng ta cần một phương thuốc của Phật, đó là Chánh niệm tự thân. Chánh niệm nghĩa là khuyên các huynh đệ trong khi rửa tay, mặt, súc miệng,… chúng ta cũng luôn ý thức được mình đang làm gì. Chánh niệm trong từng hành động của mình. Trong Tỳ ni nhật dụng yếu lược, “Dĩ thủy quán chưởng, đương nguyện chúng sinh, đắc thanh tịnh, thủ thọ trì Phật pháp” (Khi lấy nước rửa tay, nguyện cho tất cả chúng sanh được tay thanh tịnh). Tay thanh tịnh là tay trong sạch. Tay chúng ta là nơi tiếp xúc với rất nhiều bề mặt. Do đó, muốn tay thanh tịnh, trước tiên chúng ta đã giữ vệ sinh cho chính mình. Giữ tay thanh tịnh tức là chúng ta đã có chánh niệm, đưa Phật pháp vào đời sống hàng ngày của mình. Chánh niệm như vậy chính là bước cơ bản đầu tiên trong tu tập.

Đời sống hàng ngày của chúng ta là sinh hoạt, giao tiếp, di chuyển, mua bán,… nhưng một lúc nào đó tất cả chợt biến mất, mọi thứ đều thay đổi,… điều này nói lên gì? Thế gian vốn vô thường và mong manh, gọi là quốc độ nguy thúy. Quốc độ rất mong manh, nhưng chúng ta không phải đợi đến những lúc này mới thấy nó mong manh. Chỉ là tâm chúng sanh ham vui, dễ quên, dễ bị lôi cuốn theo những biến chuyển, biến ảo xung quanh. Mong manh mà Đức Phật dạy chính là vô thường. Những người ta mới gặp, nói chuyện, hôm sau đã gọi điện: “Cô ơi, con đã bị bệnh, cách ly rồi, trong gia đình có người chết vì Covid,… ” Có vị bác sĩ chia sẻ: “Mỗi ngày, con tiếp xúc với không biết bao nhiêu bệnh nhân. Con không dám về nhà, nhìn hay gặp người thân.” Những chia sẻ nhứ thế thật sự khiến chúng ta cảm thấy bất toàn, nhưng Đức Phật không dạy chúng ta thấy mong manh, dẫn đến bi quan yếm thế mà thấy để hiểu, để biết và hành động.

Tất cả mọi thứ đều biến mất nhưng có một thứ không biến mất, tất cả mọi thứ đều thay đổi nhưng có một thứ không thay đổi, tất cả mọi thứ đều mong manh, dễ vỡ nhưng có một thứ không mong manh, đó là gì? Nếu chúng ta củng cố mạnh mẽ nhận thức của mình đó chính là tỉnh giác, chánh niệm tỉnh giác, thứ duy nhất chúng ta còn ngay lúc này để đối phó đại dịch. Tự tâm thức của mỗi người được nâng đỡ bởi sức mạnh của chánh niệm. Ý thức được hoàn cảnh, ý thức được thân tâm và trong ý thức đó còn có cả kiến thức, kiến thức về bệnh, phòng bệnh, giúp đỡ những người bệnh và tất cả đều được nâng đỡ bởi chánh niệm.
Mỗi khi tiếp nhận được một tin tức bất an, chúng ta không nên tán loạn dù bất an đó liên hệ rất gần, hãy trở về với chánh niệm, điều đó giúp chúng ta vững vàng hơn để đối diện. Đời sống của tu sĩ vốn an lạc hơn đời sống của thế gian, vậy nên hãy nương tựa vào sự an lạc đó để củng cố thân tâm trước tiên, không chỉ để lo cho cá nhân, không phải ích kỉ, tiêu cực, mà để mạnh mẽ hơn, tỉnh giác hơn, lan tỏa năng lượng ấy đến mọi người bằng cách an ủi, giúp đỡ được người.

Trong câu chuyện ở thành Vesāli, Đức Thế Tôn và các Thánh đệ tử đã có mặt với tâm thức đã hoàn toàn tỉnh giác, mạnh mẽ, vững chãi, an ổn như núi Tu Di. Do đó, các Ngài đã lập tức trấn an được dịch bệnh và những bất ổn của xã hội. Đó là nhờ công phu chánh niệm, thực tập chánh niệm. Chúng ta sống xa Đức Thế Tôn hơn 25 thế kỷ, chỉ nương vào lời dạy của Ngài để tự củng cố mình. Lời dạy đó đến nay vẫn thiết thực, nhất là trong bối cảnh này. Trên hầu hết các trang báo Phật giáo, chúng ta vẫn thấy những điểm căn bản: Thứ nhất, luôn chánh niệm, trở về với chính mình để lấy lại sức mạnh. Thứ hai, hiểu về bệnh, biến chuyển của bệnh và những cách phòng bệnh (hiểu cũng là một từ của ý thức). Khi có chánh niệm, một cơn đau nhỏ vừa chớm lên, chúng ta biết ngay. Chúng ta thường dễ rơi vào lăng xăng, bỏ quên hơi thở, ý thức của mình, đến khi nhìn lại thì cơn đau đã nghiêm trọng hơn. Người luôn chánh niệm, khi cơ thể mệt mỏi, biết ngay và biết uống nước chanh nóng, uống vitamin, giữ ấm cơ thể, tập thể dục, ngồi thiền, hít thở,… Cơ thể chúng ta như một tiểu vũ trụ, tạo sức mạnh, năng lượng, đề kháng cho cơ thể chính là để đối phó với những sự xâm nhập bên ngoài. Và khi thân mạnh khỏe, tâm cũng sẽ khỏe mạnh. Khi phòng vệ đầy đủ, chúng ta không phải sợ hãi, xa lánh, chán ghét những người bệnh, mà có thể chia sẻ, giúp đỡ. Đệ tử Phật, chúng ta càng phải giúp đỡ mọi người nhiều hơn. Các vị Thánh đệ tử Phật từng đi vào vùng dịch bệnh nguy hiểm, nếu tâm bấn loạn, chắc chắn họ sẽ không giúp ích được gì cho cư dân thành Vesāli. Các vị đã tình nguyện đi theo Đức Thế Tôn vào một đất nước đang bị hoành hành bởi dịch bệnh với tâm vững chãi, an lạc. Mạnh mẽ không phải để ức hiếp người, cũng không để tự kiêu, tự mãn với đời mà để giúp người, làm những điều có thể làm được. Trong phương tiện của mình, nấu một nồi nước xông đẩy tới cửa phòng người bệnh đang cách ly chẳng hạn, và bằng tất cả lòng từ thương xót.
Thời điểm này cũng giúp chúng ta bớt lăng xăng, ở yên như an cư vậy, thực tập chánh niệm cho chính mình và chia sẻ năng lượng. Có những việc bất như ý không hoàn toàn tiêu cực, đáng chán ghét. Mỗi khi nhận được một tin tức bất an, đừng vội bất an theo, mà lập tức trở về hít thở sâu để lấy lại năng lượng cho mình. Thời điểm này là cộng nghiệp chung của nhân loại. Chúng ta làm được gì? Những việc phải làm, chúng ta đã làm, nhưng chưa đủ, cần phải cố gắng thực tập hơn nữa, đưa những lời nhắc nhở của Đức Phật về vô thường để suy ngẫm mà trở về với chính mình, luôn giữ cho mình tỉnh thức hơn.

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta bị bao quanh bởi những dục ái lôi cuốn về vật chất lẫn tinh thần. Có nhiều duyên lôi kéo và phiền não về chuyện được mất, đôi khi rơi vào trạng thái sợ hãi, xấu hổ, buồn chán mỗi khi được nhắc nhở hoặc tự mình thấy phạm tội. Trong kinh Tạp A-hàm nói về những trói buộc, lôi kéo, chúng ta luôn dính mắc vào cảnh trần, luôn dích mắc vào chuyện thích hoặc không thích. Bình tâm soi xét lại, điều gì trói buộc ta? Chúng ta bị trói buộc và lôi cuốn rất nhiều, và điều gì đã khiến chúng ta dính mắc? Người bình thường cho rằng cảnh hấp dẫn, lôi cuốn, thành ra mê. Cấp bậc thứ hai cho rằng vì mình thấy, nghe, ngửi, nếm… nên mê. Nhưng câu trả lời của Đức Thế Tôn là bậc trí thấy không tại ngoại cảnh, cũng không phải tại tai nghe, mắt thấy, mà do dục tham của ta là sợi dây trói buộc. Đức Phật đã chỉ ta nút thắt đó và việc của chúng ta là gỡ ra.
Một thời, Đức Phật ở tại vườn Trúc khu Ca Lan Đà. Bấy giờ, tôn giả Xá Lợi Phất và tôn giả Ma Ha Câu Thi La cùng ở trong núi Kỳ Xà Quật. Buổi chiều, sau thời thiền định, tôn giả Ma Ha Câu Thi La đến chỗ tôn giả Xá Lợi Phất cùng nhau bàn luận, tôn giả Câu Thi La nói:

– Tôi có điều muốn hỏi, nhân giả có thể giải đáp cho chăng?
– Tùy theo những gì nhân giả hỏi, nếu biết, tôi sẽ trả lời.
– Thưa tôn giả, mắt kết được sắc hay sắc kết được mắt?
– Này tôn giả Ma Ha Câu Thi La, có hai con bò, một đen và một trắng cùng bị buộc vào một ách. Con bò đen cột con bò trắng hay con bò trắng cột con bò đen?

Con mắt buộc với vật đẹp hay vật đẹp buộc con mắt? Khi ta thấy cảnh đẹp, mắt ta đang cột ta, không thể nào buông ra được. Đức Phật đã dạy giữa mắt và sắc trần là ý niệm lòng ưa thích. Ví dụ như nhìn thấy cây kẹo mút, ta vẫn tỉnh táo, không khởi ham thích, nhưng một đứa trẻ thì rất ham thích.

Cũng vậy, chẳng phải bò đen cột bò trắng hay bò trắng cột bò đen, mà giữa chúng có một sợi dây, đó là người cột chúng. Bài học ở đây là ý thức được sự trói buộc của mình và quan sát sự bị trói buộc ấy đến nơi đến chốn với tất cả công lực, không chối bỏ, không chạy trốn. Đức Phật dạy người thấy được nguyên nhân của trói buộc, người đó mới có thể gỡ ra, cũng như người thấy nguyên nhân của bệnh mới biết trị bệnh.

TKN. Như Đức