Một kiếp thương đau

9

  Tôi là chú chó nhỏ được sinh ra ở gần Bồ Đề Đạo Tràng – Ấn Độ. Nhà tôi có ba anh em, mẹ tôi rất thương yêu chúng tôi. Hàng ngày, mẹ đi kiếm ăn, chốc chốc mẹ lại chạy về ổ cho chúng tôi bú. Mẹ âu yếm, liếm từng đứa một, truyền hơi ấm gói trọn yêu thương tình mẫu tử. Dẫu là loài vật, trái tim mẹ vẫn đỏ hồng. Ngày tháng trôi qua, chúng tôi lớn lên trong vòng tay thương yêu của mẹ. Rồi một ngày định mệnh đến, ngày mẹ tôi trên đường đi kiếm ăn, vô ý bị tai nạn. Trên mình đầy máu, mẹ tôi lấy chút hơi tàn, lê từng bước chân đau đớn về với chúng tôi, cho chúng tôi ăn, rồi trút hơi thở cuối cùng, để lại ba anh em chúng tôi bên đống rác với bao niềm sợ hãi, thiếu vắng tình thương.

Ngày đầu tiên không mẹ, chúng tôi khóc nhiều lắm, tiếng khóc não nề, bi ai, nhưng không ai nghe tiếng chúng tôi khóc, cũng chẳng có bác chó nào cảm thông, an ủi, vỗ về. Cuối cùng đói quá, chúng tôi bắt đầu cuộc mưu sinh bên đống rác. Xuân qua hè lại, chúng tôi lớn dần thành một chú chó bảnh bao, chạy rông khắp nơi, chỗ nào cũng đến. Đói thì lục lạo, kiếm tìm cái gì ăn được là ăn, khát thì xuống mương uống nước. Không biết mấy con chó kia con nhà ai chạy rông, kiếm ăn như chúng tôi. Hỏi ra, toàn là những chó hoang vô chủ. Thức ăn khan hiếm, khó khăn, cả cuộc đời chưa từng được bữa no. Chả bù cho mấy chú chó kiểng, được chủ cưng chiều, tắm rửa sạch sẽ, trông mát mắt. Bởi vậy, làm kiếp chó phước báo cũng khác nhau: Con vô phước vừa xấu, vừa đói, không được nuôi nấng, thiếu vắng tình thương, con có phước vừa đẹp, vừa được cưng chiều, ăn ngon, ngủ ấm. Đôi lúc tủi thân, tôi tự hỏi: “Sao mình không xinh xắn đáng yêu như bác chó Nhựt kia, được vuốt ve, sung sướng?”. Vì miếng ăn đôi khi chúng tôi giải quyết bằng phương pháp cắn lộn. Nhân gian có câu: “Miếng ăn là miếng tồi tàn, mất ăn một miếng lộn gan lên đầu”. Miếng ăn lấn át lý trí, chỉ biết dùng “Mạnh được yếu thua”, xâu xé lẫn nhau cũng vì hai chữ “Tranh phần”.

Một lần, tôi giành ăn với con chó khác, bị nó cắn rách lỗ tai, nhưng thói quen ham ăn, giành ăn cũng không chừa. Ngày nào không cắn lộn, ngày đó ăn không ngon. Bởi vậy người ta nói: “Làm người thì khó, làm chó thì dễ”. Làm người nhân nghĩa, thương yêu, nhường nhịn mới khó, làm chó chỉ biết nhe nanh ló vuốt, cắn sủa, sân si. Cắn lộn riết rồi cũng chán, tôi muốn tìm một chỗ tốt hơn. Nhớ lời mẹ tôi từng nói, ở Bồ Đề Đạo Tràng là nơi Đức Phật thành đạo, có nhiều Tăng Ni, Phật tử, những người cảm tình, yêu mến, tìm hiểu đạo Phật… về nơi ấy đông lắm. Các vị Sư tu tập và rất thương yêu các loài động vật, không bao giờ gây tổn hại mà còn bố thí thức ăn cho loài chó nữa. Thế là tôi bắt đầu hành trình đi đến đó. Vừa đi vừa hỏi thăm đường, chốc chốc thấy ngọn tháp cao cao, sừng sững, uy nghiêm, dát vàng, nổi bật giữa bầu trời xanh bao la, đẹp vô cùng. Tôi sung sướng muốn nhảy cỡn lên. Theo đoàn người xếp hàng qua cổng an ninh, tôi được vào trong khuôn viên tháp Đại Giác. Chèn ơi! Chưa thấy nơi nào mà nguồn năng lượng lớn đến như vậy. Chư Tăng Ni tinh tấn dù thời tiết lạnh lẽo hay mưa rơi. Ở đây, có nhiều phái tu tập như Mật tông Kim cương thừa, phái Theraveda, phái Mahayana… với nhiều màu sắc y phục. Khi đến nơi, tôi mới biết cũng có nhiều chú chó đã có mặt trước rồi. Gần các sư mà thói tranh giành không chừa, thỉnh thoảng cũng lại cắn lộn inh ỏi. Tôi chán ghét chuyện cắn lộn lắm, lúc nào tôi cũng muốn tìm một chỗ an ổn, bình yên bên các sư tu tập để được hưởng sự thanh thản, an bình. Nhưng mà lũ chó cũng ganh tỵ, cắn nhau ơi ới, thành ra trong lòng lúc nào cũng sợ hãi.
Một ngày, tôi gặp vị Sư Việt Nam đang thiền tọa gần chỗ tượng Bồ tát Quan Âm. Tôi đến bên Ngài. Ngài từ từ mở mắt, mỉm cười rồi lấy tay xoa đầu, quy y cho tôi, còn gãi ngứa nơi cổ tôi nữa chứ. Một cảm giác yên bình xâm nhập vào tim, tôi bèn nằm xuống bên cạnh Sư ngủ một giấc ngon lành. Chưa bao giờ trong cuộc đời làm chó, tôi được sự bình yên như thế! Cho đến khi tôi tỉnh dậy, vị Sư đã ra đi. Tôi hoảng hốt chạy đi tìm Sư khắp Bồ Đề Đạo Tràng. Từ cội Bồ đề, nơi Đức Phật thành đạo, đến con đường Thiền hành, tháp “Không Chớp Mắt”, Nhà Châu Báu, Trụ đá nơi cổng, hồ Munchalinda, cho đến nơi Đức Phật quy y cho hai người thương buôn Miến Điện. Đi đến đâu tôi cũng đều thầm mong ước được gặp lại Sư, đi theo Sư. Tôi bèn sử dụng kỹ thuật đánh hơi chuyên môn mà mẹ tôi đã truyền dạy, tôi ngửi hết người này chạy qua Sư kia, nhưng bóng dáng Sư biệt vô âm tín. Có lẽ Sư đã đi xa. Tôi thất vọng, buồn khổ vô cùng. Trong nỗi buồn tột bực phải xa lìa người mình quý kính, tôi tru lên một tiếng dài áo não bi thương. Gặp người tri kỷ đã là khó, gặp người đức hạnh lại càng khó hơn, huống chi vị Thầy đã quy y cho tôi. Nhờ Pháp lành này đời sau thoát kiếp mang lông thú vật, chỉ có tiếng sủa, chẳng nói được tiếng người. Tìm bên trong Tháp không có, tôi đi ra ngoài tháp để kiếm. Đi mãi, đi mãi cho đến khi mặt trời lặn. Trời tối quá, tôi tìm tạm một chỗ nào đó để ngủ qua đêm, mong ngày mai sẽ gặp…

Trời sáng, khi Pháp hội Ngài Kamapa đang trong giờ trì tụng, tôi bừng tỉnh dậy đi về hướng tháp Đại Giác. Vừa đi vừa kiếm ăn, bỗng dưng tôi tìm được một bọc thức ăn thừa của người ta vứt bỏ. Tôi vui mừng xé bọc nylon với hy vọng sáng nay được đánh chén một bữa ngon lành. Gần đó có những con chó khác đang kiếm ăn. Một con phát hiện tôi tìm được đồ ăn bèn xông lại giành. Tôi cũng nhe răng nanh ra để hù dọa lại. Nào ngờ lòng tham quá lớn, thế là con chó đó xông lại cắn tôi liền, những con chó khác cũng chạy lại cắn hùa với nhau. Một trận hỗn chiến kịch liệt xảy ra. Kết cục, đồ ăn đã tan theo bụi đất, còn lũ chó chúng tôi đứa trầy đầu, đứa què chân la inh ỏi. Phần tôi vết thương quá nặng, máu đã chảy, Tôi cố vùng ra khỏi trận chiến. Khó khăn lắm mới thoát khỏi sự vây ráp của bọn chúng. Tôi cắm đầu chạy về Bồ Đề Đạo Tràng, trên đường tháo chạy, máu chảy be bét xuống nền đá. Tôi theo chân những người đi lễ qua cổng kiểm soát an ninh, chạy vào nơi thánh địa, một mạch đến khu vườn phía sau hòn non bộ. Tôi tìm một chỗ vắng bên bụi cây nằm bẹp để thở. Máu chảy nhiều, tôi yếu sức từ từ. Màn đêm buông xuống, không gian Thánh địa chìm trong nét đẹp nhiệm mầu không nơi nào trên trái đất này so sánh được. Tôi nhớ đến Sư phụ tôi, nhớ đến bàn tay hiền dịu của Sư phụ, lời quy y chúc phúc của Người và nguồn năng lượng tu tập lòng từ truyền đến tôi như một phương thuốc chữa bệnh hơn bất cứ loại thuốc nào làm cho tôi vượt qua cơn đau thể xác. Nhìn lên đỉnh tháp dát vàng chói sáng, tôi chắp tay, quay đầu về Đức Phật, bỗng chốc nhớ lại cuộc chiến vừa rồi quá đỗi kinh hoàng. Thật là:

Lửa nào bằng lửa tham
Chấp nào bằng sân hận,
Lưới nào bằng lưới si,
Sông nào bằng sông ái.
                                                   (Pháp Cú 251)

Một khi lòng tham lam nổi lên muốn chiếm hữu thì lòng sân có mặt. Tham là một tâm lý xấu, chính vì lòng tham mà ta đã làm khổ bản thân và mọi người. Vẫn biết tham là khổ nhưng muốn từ bỏ tham thật sự không phải dễ. Chỉ khi nào dùng Tam thiện căn: vô tham – vô sân – vô si, mới có thể dứt trừ Tam độc: tham – sân – si:

Lấy không giận thắng giận
Lấy thiện thắng không thiện
Lấy thí thắng xan tham
Lấy chơn thắng hư ngụy.
                                                   (Pháp Cú 223) 

Trong thiền định có năm triền cái: tham dục, sân hận, hôn trầm, trạo cử và nghi. Trong đó, tham dục: sắc dục, thinh dục, hương dục, vị dục, xúc dục. Phật dạy: “Các dục vui ít khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn”. (Kinh Ví Dụ Con Rắn – Kinh Trung Bộ). Chính năm triền cái này là năm chướng ngại ngăn che làm cho hành giả thực hành thiền không thấy được tâm an tịnh, xả ly và giải thoát. Nhờ thực hành năm thiền chi: Tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm mà đối trị được năm triền cái. Nhờ Tầm đối trị được Hôn trầm thuỵ miên, nhờ Tứ đối trị được Nghi, nhờ Hỷ đối trị được Sân, nhờ Lạc đối trị được Trạo cử, nhờ Nhất tâm đối trị được Tham dục. Lại nữa, trên con đường thanh tịnh, nhờ thực hành Tứ Vô Lượng Tâm: Từ – Bi – Hỷ – Xả tâm hồn chan hòa yêu thương, đối với nhau tương kính, vui thích khi thấy người khác hạnh phúc, lòng không oán hận, ganh ghét, thị phi. Ai sống thực hành Tứ Vô Lượng Tâm, mình được an vui, người được an vui, người người ai vui, xã hội an vui.

Miên man nghĩ nhớ đến lời Phật dạy, tôi thiếp đi tự bao giờ. Khi tỉnh lại, tôi biết mình đã mất máu nhiều sẽ không sống được bao lâu. Tôi gắng gượng dùng chút hơi tàn của mình đứng dậy đi ra khỏi thánh địa vì sợ làm ô uế nơi đây mà mang thêm tội. Tôi lê từng bước chân nặng nhọc trở về nơi đống rác xưa, nơi mà mẹ tôi đã sanh ra tôi, để được về nơi đất mẹ. Một đời giong ruổi kiếm ăn, đau khổ, những cuộc chiến, máu đổ lệ rơi chợt trở về trong tâm trí và lời dạy của Đức Phật về hòa bình là khuôn vàng thước ngọc để cho nhân loại được sống an bình. Sự hiểu biết, thương yêu, thông cảm, sẻ chia… sẽ có cuộc sống tốt. Sự tranh giành quyền lực, địa phận, xâu xé lẫn nhau vì miếng ăn, vì lợi dưỡng làm cho cuộc sống bất an, đau khổ cho đến tan thân, mất mạng. Càng suy nghĩ, càng hối hận, nhưng than ôi! Nghiệp lực buộc ràng phải làm thân chó. Rồi đây, không biết kiếp sau có còn phải trở lại làm chó nữa hay không? Ôi! Thật đáng sợ cho con đường sanh tử, thật đáng sợ khi phải đọa lạc ba đường ác: địa ngục, quỷ đói, súc sanh. Tâm lý bàng hoàng, đường trước mịt mờ không biết đi về đâu? Về cảnh giới nào trong sáu nẻo luân hồi? Trong nỗi sợ hãi thống thiết đó, hình ảnh ngôi Tháp Đại Giác, ánh mắt từ bi và lời quy y của Sư phụ chợt hiện về. Tôi lấy hết sức lực kêu to:

Buddham saranam gacchami
Dhammam saranam gacchami
Sangham saranam gacchami

Rồi tôi lịm dần. Hồn tôi lìa khỏi xác, bay lên cao, cao mãi…

Như Minh – Bàu Lâm