Luật học tinh yếu

11
Chương 2
CÁC PHÁP YẾT-MA
I. KHÁI QUÁT VỀ YẾT-MA.
1. Định nghĩa Yết-ma
Yết-ma là phiên âm từ Karma của tiếng Phạn, Hán dịch là nghiệp, hành động hay tác pháp; nói cho đủ là tác pháp biện sự, nghĩa là lập thủ tục để giải quyết một sự việc. Yếu tố căn bản để thành tựu Yết-ma là Tăng phải hòa hợp và thanh tịnh.
2. Phân loại Yết-ma.
Nói tổng quát thì Yết-ma có 3 trường hợp: tâm niệm, đối thủ và tăng pháp.
– Tâm niệm là tự mình nghĩ và nói thành lời mà không cần có người khác nghe. Về nguyên tắc của Yết-ma đòi hỏi phải biểu hiện bằng lời nói. Trường hợp này áp dụng cho những Tỳ-kheo sống độc cư.
– Đối thủ là mình nói cho một hay hai người khác

* Trang 37 *
device

nghe. Trường hợp này áp dụng giữa hai hay ba Tỳ-kheo, vì chưa đủ túc số tăng.
– Tăng pháp là pháp Yết-ma áp dụng cho tăng số từ 4 người trở lên, được chia làm 3 loại: đơn bạch, bạch nhị và bạch tứ.
a. Đơn bạch: chỉ một lần tác bạch giữa tăng thì Yết-ma thành tựu. Nghĩa là chỉ cần công bố một lần. Theo quyển Yết-ma Chỉ Nam quy định đơn bạch có 44 pháp.
b. Bạch nhị: 1 lần tác bạch và 1 lần Yết-ma. Nghĩa là 1 lần tuyên bố và 1 lần lấy biểu quyết. Yết-ma Chỉ Nam quy định có 76 pháp.
c. Bạch tứ: 1 lần tác bạch và 3 lần Yết-ma. Nghĩa là 1 lần tuyên bố và 3 lần lấy biểu quyết. Yết-ma Chỉ Nam quy định có 39 pháp.
3. Những yếu tố cần thiết cho pháp Yết-ma.
Muốn thực hiện pháp Yết-ma cần phải hội đủ 3 yếu tố mới hợp quy: nhân, pháp và sự.
a. Nhân: tức là người hay nhân cách. Nghĩa là những người đó phải đủ tư cách pháp nhân của một Tỳ-kheo hợp pháp, và túc số phải phù hợp cho từng pháp Yết-ma. Túc số này được quy định như sau:
– Tăng gồm 4 người: đây là túc số tối thiểu trong sinh hoạt thông thường như thuyết giới.
– Tăng gồm 5 người: đây là túc số tối thiểu cho việc Yết-ma Tự tứ; ngồi ra túc số này cũng có thể truyền giới Cụ túc tại những địa phương mà ở đó số Tỳ-kheo quá ít.
– Tăng gồm 10 người: đây là túc số cần thiết để truyền giới Cụ túc.

* Trang 38 *
device

– Tăng gồm 20 người: túc số cần thiết để xuất tội Tăng tàn và tất cả các pháp Yết-ma khác. Trên túc số 20 có thể thực hiện bất cứ pháp Yết-ma nào.
Khi thực hiện các pháp Yết-ma thì số người thừa không phạm, nhưng số người thiếu sẽ phạm luật.
b. Pháp: tức những nguyên tắc, những thủ tục… đã được quy định như trường hợp nào đơn bạch, trường hợp nào bạch nhị…
c. S: tức sự vật cụ thể hay sự việc diễn tiến. Ví dụ kết đại giới thì phải có những tiêu tướng rõ rệt, đúng pháp, và diễn tiến công việc theo thứ lớp, không được lộn xộn.
4. Các giai đoạn tiến hành Yết-ma.
Quá trình của Yết-ma diễn tiến theo 3 giai đoạn: gia hành, căn bản và hậu khởi.
Gia hành hay còn gọi là tiền phương tiện, Căn bản tức trọng tâm hay chính thức Yết-ma, và hậu khởi, chỉ giai đoạn kết thúc.
Tất cả các loại Yết-ma, từ đơn bạch cho tới bạch tứ, đều có tiền phương tiện tương đối giống nhau.
Sau khi Tăng đã tập hợp trong tinh thần thanh tịnh và hòa hợp, một Tỳ-kheo Thượng tọa đại diện Tăng tác pháp Yết-ma, bắt đầu hỏi; một Tỳ-kheo khác gọi là Duy-na, cũng đại diện Tăng trả lời. Hỏi và đáp diễn ra như sau:
Hỏi: Tăng đã họp chưa?
Đáp: Tăng đã họp (vấn đáp1)
Hỏi: Hòa hợp không?

* Trang 39 *
device

Đáp: Hòa hợp (vấn đáp 2)
Hỏi: Người chưa thọ Cụ túc đã ra chưa?
Đáp: Đã ra (vấn đáp 3)
Hỏi: Các Tỳ-kheo không đến có gửi dục và thanh tịnh không?.
Đáp: Không có người gửi dục (nếu có thì đáp là “có” và bước ra thuyết dục) (vấn đáp 4)
Hỏi: Tăng nay tập họp để làm gì?
Đáp: (nói Tăng sự) Yết-ma (vấn đáp 5)
Vấn đáp 1 nhằm xác nhận sự tập họp của Tăng là đúng thời gian quy định.
Vấn đáp 2 nhằm xác định yếu tính của Tăng, tức sự hòa hợp.
Vấn đáp 3 nhằm xác định thành phần hay tư cách pháp nhân của Tăng.
Vấn đáp 4 có một vài thay đổi tùy theo loại Yết-ma, sẽ nói rõ ở sau.
Vấn đáp 5 nhằm xác định mục đích của pháp Yết-ma.
Trên đây là thể thức tổng quát về tiền phương tiện. Nhưng pháp Yết-ma có đơn, có kép khác nhau. Ví dụ trường hợp giải và kết đại giới hay tiểu giới, thì sau khi tác tiền phương tiện để Yết-ma giải giới, lại cần có tiền pbưông tiện khác, để kết giới, đó gọi là Yết-ma đơn. Nghĩa là một tiền phương tiện cho một pháp Yết-ma duy nhất. Trái lại Yết-ma đơn là Yết-ma kép. Nghĩa là một tiền phương tiện chung cho Yết-ma kế tiếp sau. Ví dụ, trường hợp Tự tứ, tác pháp chủ yếu là đơn bạch Yết-ma, nhưng

* Trang 40 *
device

nếu Tăng quá đông cần phải kiểm điểm Tăng số, thì cần có thêm bạch nhị Yết-ma để sai người hành xá la (phát thẻ), hoặc cần có người nhận sự Tự tứ của các Tỳ-kheo, thì lại thêm bạch nhị Yết-ma để sai người nhận sự Tự tứ. Tuy vậy trong vấn đáp 5, câu trả lời vẫn phải nói là: Yết-ma Tự tứ. Đây gọi là Yết-ma kép.
Có trường hợp nhất định đơn, như Yết-ma kết và giải các giới.
Có trường hợp nhất định kép, như Yết-ma truyền giới Cụ túc.
Có trường hợp bất định như Yết-ma Tự tứ…
5. Các yếu tố để thành tựu Yết-ma.
Tổng quát có 4 yếu tố căn bản để Yết-ma được thành tựu, đó là:
– Nhân thành tựu: người tham dự phải đủ tư cách pháp nhân.
– Tăng thành tựu: túc số tăng phải đúng theo quy định cho mỗi pháp yết ma.
– Giới thành tựu: ở trong cương giới đã được quy định.
– Pháp thành tựu: các thủ tục tiến hành đúng pháp.
Ngoài ra còn có trường hợp cộng và bất cộng khác nhau.
Cộng nghĩa là cả hai bộ Tăng và Ni cùng tác pháp chung. Nhưng trong túc số Tỳ-kheo Tăng không thể kể Tỳ-kheo-ni vào cho đủ số, và ngược lạïi cũng vậy.
Bất cộng là Tỳ-kheo Tăng và Tỳ-kheo-ni không được tác pháp chung.

* Trang 41 *
device

6. Già Yết-ma.
Tăng pháp Yết-ma đòi hỏi sự nhất trí tuyệt đối không có trường hợp đa số áp đảo thiểu số. Do đó, khi Tăng tác pháp, nếu có người đủ tư cách pháp lý nói lên lời phủ nhận sự tác pháp ấy, thì Yết-ma bất thành.
Hai trường hợp được Già Yết-ma:
a.   Tỳ-kheo thanh tịnh được kể trong Tăng số có quyền Già Yết-ma.
b.   Người không được kể trong Tăng số, nhưng có quyền Già Yết-ma. Đó là trường hợp giới tử xin thọ giới Cụ túc, nhưng nửa chừng thối chí, xin không thọ giới nữa thì sự Yết-ma truyền giới phải hủy bỏ.
Hai trường hợp không được Già Yết-ma.
a.   Người được kể trong Tăng số, nhưng không có quyền Già Yết-ma. Đó là trường hợp các Tỳ-kheo đang là đối tượng của Yết-ma ha trách, tẫn xuất, y chỉ, không cho đến nhà bạch y…
b.   Người không được kể trong Tăng số và không được quyền Già Yết-ma. Đó là trường hợp những Tỳ-kheo đã mất quyền Tỳ-kheo, và những người khác không liên quan đến pháp Yết-ma đó.
7. Phi tướng của Yết-ma.
Để Yết-ma được thành tựu cần phải thực hiện đúng thể thức và quy tắc dựa trên 3 yếu tố cô bản là nhân, pháp và sự, như đã nói trên. Nếu tiến hành không đúng thể thức và lộn xộn thì thành ra phi pháp hay phi tướng. Phi tướng tổng quát gồm bảy trường hợp:

* Trang 42 *
device

      a. Phi pháp phi Tỳ-ni: sai cách thức và sai số lượng. Nghĩa là đáng lý đơn bạch lại bạch nhị…; đáng lý phải tập họp đủ 10 người lại tập họp chỉ có 5 người.
b. Phi pháp biệt chúng: phi pháp như trên. Biệt chúng là sự tập họp không đồng bộ, những người vắng mặt không gửi dục đúng pháp.
c. Phi pháp hòa hợp: Tăng tuy hòa hợp, tập họp đúng quy định nhưng các thủ tục tiến hành không đúng pháp.
d. Như pháp biệt chúng: tiến hành đúng thể thức, nhưng Tăng không hòa hợp.
e. Pháp tương tự biệt chúng: các loại Yết-ma đơn bạch, bạch nhị hay bạch tứ được áp dụng đúng quy định, nhưng tiến hành lộn xộn, và Tăng không hòa hợp.
f. Pháp tương tự hòa hợp: pháp tương tự như trên, và hòa hợp tức Tăng hòa hợp.
g. Già bất chỉ: Yết-ma bị ngăn cản đúng pháp mà không chịu đình chỉ, vẫn tiến hành.
Ví dụ về phi tướng của một buổi thuyết giới:
   Nhân phi: trong buổi thuyết giới có người không đủ tư cách pháp nhân tham dự.
   Pháp phi: đáng bạch nhị mà lại bạch tứ; túc số bắt buộc phải 10 mà chỉ có 5.
   Sự phi: tiến hành lộn xộn không có thứ lớp và thiếu sót. Không gặp nạn duyên mà rút ngắn thuyết giới.
Nhân, pháp phi: nghĩa như đã nói trên.
Nhân, sự phi: (nt)
Pháp, sự phi: (nt).
Nhân, pháp sự phi: (nt)

* Trang 43 *