Lời thầm

21
NT. Như Thủy

Chị Ba ơi!
Em đã làm giỗ chị hôm mùng 01/02 âm lịch, còn bên trời Tây mọi người đang chuẩn bị giỗ 17/3 dương lịch cho chị. Được nhiều nơi làm giỗ, tưởng niệm, chị sướng quá hen? Hồi còn sống, chắc chị cũng không tưởng tượng là mình được vậy đâu nhỉ? Em nhớ hồi ở Viên Chiếu, chị đã sống rất hào hùng, cống hiến hết mình. Trồng rẫy xanh tốt, giảng bài khô hơi. Chị còn trổ tài đào giếng (mà không phải trổ tài, là ráng đào thôi), em đứng ở trên miệng giếng hì hục kéo đất lên. Lúc đó, chị lom khom nằm uốn cong theo vòng tròn của giếng để nạo vét đất… mình ướt mem, nhìn rất tội nghiệp. Chị còn nói: “Xem ra đào giếng cũng không khó lắm?” Không khó, nhưng cũng là một kỳ công của chị em mình. Hồi đó tuổi trẻ còn sức, nhưng lúc nào mình cũng làm quá sức… Vì hồi ở nhà, có bao giờ mình làm mấy việc này đâu? Cứ ăn rồi học, sung sướng vô tư, cho đến lúc vô chùa. Ở nhà mình không dám giết con gì, nhưng vào chùa phải khai hoang, phá rừng, dỡ núi, vô tình mà sát sinh, để rồi âm thầm đau lòng, nỗi buồn cứ âm ỉ, lẩn khuất trong tim…

Có khi mệt và buồn em khóc, còn chị vóc dáng như nam tử, nên luôn cố tỏ vẻ mạnh mẽ bên ngoài, nên dẫu có muốn khóc, chị cũng không biểu lộ, nhiều lúc chị trở nên cô đơn khi tâm sự mà em không thể hiểu được và cảm thông. Phải tới khi lớn bằng tuổi chị, nhất là bây giờ, em mới hiểu hết nỗi niềm của chị. Đến khi không còn sức khỏe, sức cạn lực tận, chị em mình đều buồn. Mỗi lần ra cuốc đất nhìn côn trùng quằn quại dưới từng nhát cuốc em lại càng buồn hơn.

Chị lo cho em, thấy em đuối sức, chị mượn một cái cốc ở Đại Tòng Lâm cho em nhập thất, để có thể dưỡng bệnh và an tu. Lúc này, chị đi dạy có khi tận miền Tây, nơi nào gần, chị chịu khó đi bộ để dành tiền mua gạo cho em. Để chị đỡ cực khổ, tốn kém, em chỉ ăn mỗi ngày một bữa, mỗi bữa một chén. Bữa cơm đơn sơ với rau má hoang, rửa sạch; cơm cạn thì bỏ rau vào nồi, thế là cơm chín, rau cũng chín. Chị đến thăm, thấy em nấu cơm rau chung kiểu đó, chị bảo: “Em nấu giống cho heo ăn quá!” Có lúc nóng ruột, chị đến thăm khi em đang ngồi thiền, lặng lẽ nhóm bếp, chiên cho em mấy cuốn chả giò. Khi em dùng bữa, chị ngồi kể mấy câu chuyện vui cho em nghe. Buổi tối, em không thắp đèn, nên không tốn dầu. Nhờ vậy, một lít rưỡi dầu em dùng một năm vẫn chưa hết.

Dì Ba đến thăm thấy em ốm yếu, bật khóc vì sợ em không trụ nổi. Nhưng ngược lại, em thấy mình sướng như ở thiên đường, không còn phải nhìn đám trùng hổ thân bê bết máu oằn oại dưới từng nhát cuốc của em, không còn bị ám ảnh ngày nào cầm liềm cũng móc bụng bọ hung để lôi nó ra khỏi thân cây dừa nữa… Chư thánh nói chí lý, thấy đủ thì sẽ hạnh phúc.

Chị vẫn bôn ba khắp nơi, đu xe than đi dạy, khi về đến cốc thăm em thì mặt mày ám đen vì khói. Có lần chị chìa ra miếng phô mai cho em và cười nói: “Miếng phô mai này người ta cho chị, chị cầm lên ngắm thật lâu mấy lần, rồi bỏ vào túi cất, để dành cho em.” Em biết chị cũng thèm lắm, nhưng ráng nhịn để dành cho em. Chị còn kể: “Có lần chị đi ngang hàng bánh Pâté Chaud (Pa-tê-sô), chị mới mở miệng hỏi giá định mua về cho em thì bà bán nói: “Bánh này mặn, cô ăn không được đâu! Thất vọng, chị bỏ đi một nước.” Nghe kể, thấy thương chị quá đỗi! Chị còn nhắc: “Gần Trung thu rồi, hồi nhỏ em rất thích bánh Trung thu, hễ được bánh là em nhảy tưng tưng, vừa vỗ tay vừa reo : ‘Bánh ten tu, bánh ten tu!’ Em nhảy tới mức té xuống thềm, khóc ngất.”

***

Trong cốc tôi, gia tài chỉ có hộp gạo đậy kín và ba bộ đồ, ngoài ra không có gì, nên chuột cũng không ở nổi. Mỗi ngày, tôi nấu đủ một chén cơm để ăn, vậy mà không thấy thiếu chi. Chị vẫn miệt mài đi giảng, vẫn có mệt mỏi và những nỗi buồn riêng, nhưng không thể tâm sự với tôi vì tôi không hiểu. Chị cũng muốn xây cái cốc, sống ẩn dật để nghỉ ngơi khi kiệt sức, nhưng tôi không bao giờ có thể thực hiện điều đó cho chị, không làm gì được cho chị. “Nước mắt chảy xuôi, lệ chẳng ngược dòng”, tôi mãi mãi không làm được gì cho chị. Chỉ biết cố gắng tu tập để đền đáp ân nghĩa đã thọ nhận trong nhiều kiếp luân hồi.

Hạnh Đoan