Kinh nghiệm tu học và làm Phật sự qua 60 mùa hạ

21

  Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính thưa chư Tôn đức Hội đồng Điều hành, Ban Quản viện cùng Tăng Ni nhị bộ.

Đây là mùa An cư thứ tư của học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh PL.2563, cũng là năm thứ 60 an cư của tôi kể từ khi thọ Cụ túc giới. Tôi nhìn lại một quãng đường đã trải qua 59 năm làm Sa môn, hình dung tất cả các bậc long tượng trong Phật giáo, Thầy Tổ của chúng ta. Từ đó, tôi thấy mình may mắn ra đời được gặp các thiện tri thức. Nhờ các thiện tri thức chỉ dạy, từng bước chúng ta vượt khó và trưởng thành. Cho nên, lời nói đầu tiên của tôi đối với tất cả các huynh đệ là chúng ta phải nương vào các thiện tri thức của chúng ta. Nếu rời xa họ, chúng ta không thể nào trưởng thành trên bước đường tu tập.

Thiện tri thức có hai mặt: mặt tốt là thiện tri thức và mặt xấu cũng là thiện tri thức. Nhờ những người bạn tốt khích lệ nên chúng ta dễ trưởng thành nhưng cũng dễ hư hỏng. Muốn cân bằng, chúng ta có những bậc thiện tri thức nghịch, còn gọi là nghịch hạnh. Nhờ các thiện tri thức nghịch hạnh này, chúng ta mới phát hiện được trong lòng chúng ta còn những điều chưa tốt cần phải khắc phục.

Mùa an cư đầu tiên của tôi ở Phật học đường Nam Việt, suốt ba tháng tôi không ra khỏi cửa chùa. Đây là kinh nghiệm quan trọng nhất của tôi. Không ra khỏi cửa chùa nên tôi đã phát hiện ra một điều: nhờ cấm túc an cư, tôi không bị thế tục quấy rầy. Cấm túc an cư là hạn chế đi lại, sinh hoạt và thông qua việc luyện tập thánh đạo mà chúng ta được trưởng thành. Thánh đạo cao nhất còn gọi là Bát chánh đạo. Đây là điều quan trọng nhất các huynh đệ cần suy nghĩ. Dù tu theo bất cứ Pháp môn nào, chúng ta cũng không thể không qua Bát chánh đạo. Cho nên, Bát chánh đạo được xem là cốt lõi của đạo Phật. Muốn thành tựu được Bát chánh đạo, quý vị phải đi đủ từ Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất Bồ đề phần… Trong mùa An cư này, tôi mong tất cả các huynh đệ cần ôn lại những điều này. Lâu nay, chúng ta học trên lý thuyết, nên đôi khi chúng ta nhẹ trên vấn đề thực hành và suy nghĩ, vì vậy chúng ta không thể chứng được thánh quả.

Bài học đầu tiên Đức Phật dạy năm anh em Kiều Trần Như đó là thực hành Tứ niệm xứ. Sau đó, Đức Phật rút Tứ niệm xứ thành Tam pháp ấn, ba điều căn bản để vào đạo hay còn gọi là Tam giải thoát môn (ba cánh cửa đi vào con đường giải thoát). Hễ rời Tam pháp ấn, 37 trợ đạo phẩm, chúng ta dễ lạc qua đường tà. Phương tiện là tùy chỗ, tùy lúc, tùy hoàn cảnh mà chúng ta hằng thuận chúng sinh, nhưng phải luôn luôn nhớ quán chiếu 37 trợ đạo phẩm để giữ mình trở thành một vị Sa môn thật sự. Nhiều khi đi theo pháp phương tiện, chúng ta lại lạc ra ngoài, bỏ mất đạo lực của người tu, trở thành ngoại đạo hoặc trở thành thế tục.

Các Thiền sư Nam Tông nói với tôi như thế này: “Trải qua 60 năm, tôi không dám rời xa Tứ niệm xứ.” Đôi khi, phiền não còn tiềm ẩn trong lòng nhưng mình không thấy được, cần luôn luôn quán sát và nắm bắt được nó để loại trừ. Quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã để trụ pháp Không. Bây giờ, chúng ta đã trụ được pháp Không chưa? Hay còn kẹt? Đức Phật nói con người khổ nhất là chấp ngã và chấp pháp. Chấp ngã và chấp pháp rất nguy hiểm. Khi quán được tâm vô thường, pháp vô ngã, mọi việc luôn luôn chuyển biến, thay đổi, có liên quan đến mình không? Mặc dù tu theo kinh Pháp Hoa nhưng tôi cũng dành nhiều thời giờ trong cuộc đời để quán pháp vô ngã. Nếu thành công được điều này, mọi việc trên thế gian này có còn chi phối chúng ta nữa không? Ta là gì? Nếu vô ngã, ta không là gì. Tứ đại có phải là ta? Thân tứ đại luôn luôn thay đổi. Từ khi mở mắt chào đời đến khi từ giã cuộc đời, có gì là ta? Thân vật chất luôn luôn biến đổi không ngừng. Ta hít thở không khí ngày hôm nay để thải ra tất cả những gì của ngày hôm qua. Vì vậy, con người ngày hôm nay không phải là con người ngày hôm qua, cũng không phải là con người của ngày mai. Khi quán được chỗ này, chúng ta mới thấy được Như Lai. Trong kinh Kim Cang, người nhìn thấy Đức Như Lai bằng sắc tướng bên ngoài, người đó hành tà đạo. Trong kinh Nguyên Thủy, Đức Phật nói các hàng ngoại đạo: “Hiện giờ, các ông đang đứng trước mặt Sa môn Cồ Đàm, thấy được con người thật của Sa môn Cồ Đàm. Hỏi sau khi Sa môn Cồ Đàm chết đi, Sa môn Cồ Đàm còn hay mất, đó là chuyện quá ngớ ngẩn.” Đó là những người ngoại đạo, luôn luôn gây tranh cãi sau khi chết rồi, còn hay mất. Khi suy nghĩ, quán chiếu, chúng ta thấy được sau khi chết vẫn còn.

Trong kinh Pháp Hoa, những người con uống lầm thuốc độc nên mất bản tâm, chấp ngã và chấp pháp. Như vậy, thấy Đức Phật nhập Niết bàn nghĩa là thấy Phật đã chết, thấy thân vật chất trà tỳ nghĩa là đã hết. Thuốc của vị lương y để lại chính là Tứ thánh đế. Trong Tứ thánh đế, cốt lõi là Đạo đế, tức là 37 trợ đạo phẩm. Thực hành 37 trợ đạo phẩm, uống thuốc này liền khỏe mạnh và chứng được vô ngã, đồng nghĩa chứng được Niết bàn. Lúc bấy giờ, chúng ta mới qua được cửa Không, còn gọi là Không giải thoát môn. Người còn chấp bất cứ một việc gì trên cuộc đời vẫn còn kẹt ở sanh diệt môn. Sanh diệt môn và Giải thoát môn chỉ cách nhau một lằn tơ. Còn chấp ngã, chấp pháp tức còn ở sanh diệt, hết ngã hết pháp tức chứng Niết bàn. Chứng được Niết bàn, nghĩa dùng chân thân của chính mình thấy được chân thân của Đức Phật. Đây gọi là Thường Tịch Quang Tịnh độ, thế giới bất sanh bất diệt, Phật đang hiện hữu ở đây. Những người con si mê này sau khi uống thuốc Tứ thánh đế, khỏe mạnh, sẽ thấy ngay người cha của mình, thấy Đức Phật vẫn hiện hữu.

Người tu theo kinh Pháp Hoa nghĩ rằng Đức Phật hằng hữu, đang hiện hữu, có người thấy Phật, có người không thấy Phật. Người nào qua được cánh cửa giải thoát, người đó thấy Phật, người nào ở bên cửa sanh tử sẽ không thấy Phật, dù đứng trước mặt cũng không thấy Phật. Trên lập trường giải thoát, ta thấy Phật bằng cách nào? Khi Thái tử Sĩ Đạt Ta mới được sanh ra, mọi người đều thấy Ngài là con vua Tịnh Phạn, nhưng tiên A Tư Đà lại thấy được Đức Phật bên trong Thái tử Sĩ Đạt Ta. Khi chưa sanh, Phật vẫn là Phật. Khi đã sanh ra làm con người, Phật cũng vẫn là Phật nhưng trong con người. Khi làm Sa môn, Phật nằm trong con người Sa môn Cồ Đàm, thành Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác cũng là Đức Phật. Nên mọi người khi nhìn về Phật đều thấy khác nhau. Mọi người trong hoàng cung thấy Phật là Thái tử Sĩ Đạt Ta, các hàng ngoại đạo thấy Đức Phật là Sa môn Cồ Đàm, nhưng các A la hán, Bồ tát lại thấy được chân thân Đức Phật bên trong. Cho nên, những người thấy Phật bằng chân thân, theo chân thân tu hành sẽ sớm đắc quả A la hán.

Khi Đức Phật còn tại thế, Ngài Xá Lợi Phất nhìn thấy Đức Phật liền đắc đạo. Thấy giả thân bên ngoài nhưng thấy thật chân thân bên trong: Sa môn Cồ Đàm là Phật. Ngài Xá Lợi Phất dùng tuệ giác thấy được chân thân của Đức Phật nên chứng quả A la hán. Khi nhìn thấy chân thân của Đức Phật, Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp nói: “Đức Phật Gotama mới là Thánh, ta chưa phải là Thánh.” Ngài tuyên bố làm đệ tử của Sa môn Cồ Đàm. Từ đó, các huynh đệ quan sát từng người, thấy con người thật nằm bên trong thân tứ đại này là quan trọng. Đức Phật dạy chúng ta quán thân, tức là thấy ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nhìn sắc bên ngoài, chúng ta có thể thấy biết được tâm trạng bên trong. Đầu tiên, tôi quan sát các bạn đồng tu, và quan sát đến tất cả mọi người trong xã hội. Sắc diện bên ngoài thay đổi theo thọ, tưởng, hành và thức bên trong. Sa môn thật và Sa môn giả khác nhau chỗ này. Nhìn sinh hoạt, ta biết được thọ, tưởng, hành và thức bên trong. Từ đây, ta thấy rõ tâm sanh pháp, tâm bên trong sanh ra vạn pháp bên ngoài. Vạn pháp gồm sắc pháp và tâm pháp. Pháp từ tâm, vô minh, nghiệp chướng sanh ra. Tâm thanh tịnh, tâm giải thoát sẽ hiện lên tướng giải thoát, Niết bàn, từ dáng đi đến lời nói cũng giải thoát. Vì kém tu nên không sống được với tâm chơn như này, để vô minh cưỡi lên. Trong mười hai nhân duyên, đầu mối là vô minh, do ngu muội, sai lầm, do không thấy được sự thật. Từ sai lầm, chấp trước này sanh ra muôn pháp. Nếu quán mười hai nhân duyên, phải cắt vô minh trước. Minh sanh ra, vô minh hết, giống như mặt trời mọc lên, bóng tối tự tan đi. Điều này rất dễ hiểu và dễ thực tập.

Trong 37 trợ đạo phẩm, điều quan trọng chúng ta thường được Thầy Tổ nhắc nhở là chánh niệm, nắm vững chánh niệm, vô minh sẽ không khởi. Chánh niệm là niệm Phật, Pháp, Tăng. Niệm Tăng là niệm Tam thừa tứ quả giải thoát Tăng. Phàm Tăng, nghiệp Tăng, ác Tăng,… rất phiền, không nên niệm. Chúng ta là phàm Tăng nên cố gắng vươn lên vượt qua khỏi điều này. Không còn nhu cầu nào trên cuộc đời, sẽ không ai chi phối được ta. Người nặng nghiệp mang đủ loại bệnh, phiền phức càng nhiều hơn. Ngoài ra, chỉ còn ăn, uống, ngủ, nghỉ, chúng ta phải thọ lãnh ở một mức độ nào đó, hễ thiếu những điều kiện sống này, phiền não liền nổi dậy. Kinh nghiệm là luôn luôn tập sống dưới mức mình có.

Khi Đức Phật còn tại thế, có một thầy Tỳ kheo xuất thân từ giai cấp quyền quý, trong cơn thiền định, đạt được kết quả, ông hô lớn: “Hạnh phúc quá!” Khi không có nhu cầu nào nữa, tất cả đều không quan trọng, sẽ được giải thoát ngay. Niệm Tăng là niệm hiền thánh Tăng. Tôi luôn nghĩ đến hạnh đầu đà của Ngài Ca Diếp, nghĩ đến trí tuệ của Ngài Xá Lợi Phất, nghĩ đến đa văn của Ngài A Nan. Các vị này luôn luôn là tượng đài để tôi luôn luôn phấn đấu đi theo. Còn tất cả các vị khác, tôi không quan tâm. Khi mình nghĩ đến các vị Cao tăng, thánh Tăng, trong tương lai mình cũng sẽ trở thành như họ. Nếu nghĩ đến những vị Tăng phá giới, phiền não, ta cũng sẽ phiền não. Sống trong Tăng đoàn, điều quan trọng là tiếp cận với các bậc chân tu thật học. Làm Chúng là sướng nhất, giữ quy củ tu hành, không ai làm gì mình. Làm Quản chúng phải theo dõi, quan sát, cân nhắc, đem nghiệp, phiền não của người khác để vào lòng mình, dần dần mình cũng khởi lên phiền não. Người mới tu thường thích lãnh đạo, nhưng tu lâu lại thích làm thính chúng hơn, nghe tiếng bảng đi quả đường, nghe tiếng chuông lên chánh điện,… khỏi khổ. Từ niệm Tăng, tôi gặp được các bậc Tăng thiện tri thức: Bậc Thầy, Tổ, đàn anh,… những người nên việc, đừng nghĩ đến những người hư, nghĩ đến họ, mình sẽ hư theo.

Hòa thượng Trí Quang là người có khả năng hiệu triệu, khi Ngài bước lên, cả đại chúng đều im phăng phắc, Ngài nói một điều gì đó, người biết và không biết cũng đều vỗ tay. Thời nay, chưa thấy người nào có khả năng như Hòa thượng Trí Quang ngày xưa. Người gặp việc khó khăn, càng bình tĩnh, càng quyết đoán là Hòa thượng Thiện Minh. Tôi may mắn có điều kiện hầu các vị này, đây là những đối tượng tôi luôn luôn lưu lại trong lòng mình. Tôi học Hòa thượng Thiện Minh ở chỗ gặp việc càng khó khăn càng bình tĩnh. Trong lúc Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo cử ba vị đại diện tiếp xúc với Ủy ban Liên bộ của Chánh phủ Ngô Đình Diệm, Hòa thượng Tâm Châu làm Chủ tịch nhưng chọn Hòa thượng Thiện Minh làm Trưởng đoàn, mặc dù bấy giờ Hòa thượng Thiện Minh chỉ làm cố vấn. Càng khó khăn, ta càng phải bình tĩnh, vì bình tĩnh mới giải quyết được việc, thiếu bình tĩnh, nổi nóng là hỏng việc. Hòa thượng Trí Thủ là người luôn luôn dấn thân, ở đâu Ngài cũng đi, đây gọi là dấn thân hành đạo. Mỗi vị đều có đặc sắc riêng, mỗi việc đều có kết quả riêng. Những bậc thầy là như thế.

Kế đến là những người bạn cùng tu. Trong Phổ Hiền kệ, những người cùng tôi đồng một hạnh một nguyện mới làm được. Nếu có nhiều người bạn có cùng suy nghĩ, hành động như ta, việc khó chắc chắn ta cũng sẽ làm được. Nếu những người bạn có nhiều ý kiến khác nhau, gặp nhau là gây thì mau tan rã, nên việc kết bạn tu hành rất quan trọng. Thầy hiền bạn tốt là thực tế trong cuộc sống.

Niệm Pháp là niệm chân lý. Chân lý có hai mặt. Chân lý giải thoát mà Đức Phật chứng được, chúng ta không nói đến. Ban đêm, tôi dành thời gian đi về chân lý này, ban ngày tôi đi về chân lý của cuộc đời. Giáo hội giao phó việc cho tôi, nên ban ngày tôi phải cân nhắc, suy nghĩ để làm việc đó. Trên thực tế, chân lý là mình phải nói và làm như thế nào để người khác mới chấp nhận được. Nếu nghĩ rằng thế giới Cực Lạc, xã hội thời Đức Phật từng như thế này thế kia, còn xã hội bây giờ tại sao lại đáng ghét thế này là hỏng. Trong cái đáng ghét có cái đáng thương. Đây là chỗ Đức Phật chứng ngộ. Khi Ngài ngồi ở Bồ Đề Đạo Tràng, chứng được Túc mạng, thấy rõ hết những kiếp quá khứ, có kiếp làm người, có kiếp là thú vật, cỏ cây, hoa lá, rong rêu,… Kinh Pháp Hoa diễn tả Đức Phật nhập Vô lượng nghĩa xứ tam muội. Đó là cảnh 49 ngày nhập thiền định của Đức Phật dưới cội Bồ đề. Một Tỳ kheo ít nhất phải thấy được một kiếp trước của mình. Bản thân tôi biết đời trước mình là một thầy tu, nên đời này tôi sanh ra phải làm thầy tu vì tôi thích làm thầy tu, không thích làm người thế gian, 12 tuổi tôi đã đi tu. Sống trong nếp sống thiền môn, tôi thấy thích hơn, vì đời trước tôi đã sống như thế rồi, khi tái sanh, thấy cuộc sống này quá thích hợp. Các huynh đệ nào sống trong chùa cảm thấy buồn chán chỉ là những người mới kết duyên. Những người thích tu hành, thích sống phạm hạnh là những người đã có căn lành. Trong kinh Pháp Hoa, tâm Vô lượng nghĩa xứ tam muội của Đức Phật tức là trong chánh định thấy được tất cả các loại hình, từ địa ngục A Tỳ cho đến cõi Trời sắc cứu cánh. Những điều này phải thấy trong thiền định, không thể thấy bên ngoài. Khi xả định, chúng ta sống với thực tế, mới cảm thấy trong thiền định và thực tế giống nhau.

Trên bước đường tu, tôi đặt nặng vấn đề kinh tạng Nikaya trước, sau đó là các kinh Đại Thừa, cuối cùng mới có sự đối chiếu, thấy được sự phát triển, mở rộng theo sự tu chứng của các vị Cao tăng. Các Ngài thấy và dạy chúng ta.

Niệm Pháp có hai pháp: Pháp giải thoát ở Niết bàn, nhưng thực tế pháp ở trong sanh tử quan trọng. Trong sanh tử, có nhiều thứ ta phải theo, ta không thể khác hơn được. Ở Niết bàn, ta tự tại, nhưng trong sanh tử thì ngược lại, cái gì cũng cần phải có phép, từ việc xây chùa, cất cốc cho đến những việc nhỏ cũng phải có phép, có nguyên tắc. Chúng ta đã sống theo Pháp luật Nhà nước, khi đi tu lại cần sống theo Hiến chương và Nội quy. Chân lý nằm ở đây. Cho nên, cuộc đời chúng ta có hai mặt: mặt giải thoát đừng bao giờ quên, mặt thực tế phải tùy thuận, ta gọi đây là phương tiện để độ đời.

Niệm Phật là niệm về một đối tượng quan trọng nhất của chúng ta. Vì Phật đã thành nên mục tiêu phấn đấu của chúng ta là sẽ thành Phật, sẽ đạt đến đỉnh cao của giác ngộ, cũng thấy được vô số kiếp về trước của chúng ta. Thấy được các việc xảy ra ở khắp địa cầu này và các thế giới khác, kể cả thế giới sau khi chúng ta từ giã cuộc đời này, thấy rõ không có sai lầm. Phật đã làm được như thế, nên chúng ta lấy Ngài làm biểu tượng để phấn đấu. Mắt huệ chúng ta sẽ mở lần ra. Ví dụ như tôi thấy đời trước mình là thầy tu, cái thấy ở đây là thấy bằng niềm tin. Chính vì tôi tin đời trước mình là thầy tu nên điều đó được ấp ủ trong lòng lâu ngày trong chiêm bao tôi thấy đời trước mình là thầy tu thật, tu ở một ngôi chùa nào đó. Đó là thấy trong niềm tin.

Thấy trong giấc mơ, nếu thấy được đời trước mình là thầy tu ở Yên Tử, thì trong thiền quán, mình thấy được mình là thầy tu thật trên đó. Sống với sự dìu dắt của Ngài Pháp Loa, Ngài Giác Hoàng Điều Ngự, sau đó mình thấy trong cuộc sống mình cũng giống và quen như thế. Thấy bằng niềm tin rồi mới thấy trên thực tế cuộc sống. Nếu thấy được điều này, chúng ta học nhanh, đốt giai đoạn. Đời trước mình là ai, làm gì, đời này mình phát triển rất nhanh về mặt này. Đời trước chưa từng làm việc này, đời này dĩ nhiên sẽ chậm hiểu.
Pháp môn Tịnh Độ cũng có cái hay, đó là thấy đủ thứ, nhưng dù sao đi nữa cũng không thể rời niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Niệm Phật, Pháp, Tăng chính là trở về Phật giáo Nguyên Thủy không khác. Pháp môn Tịnh Độ cũng là Phật giáo Nguyên Thủy. Hễ rời niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng thì không còn là Phật giáo. Lấy chánh niệm này để đi sâu vào trong pháp của Đức Phật, từng bước chúng ta sẽ có chứng ngộ và thấy là điều đáng sống của chúng ta, từ đó sẽ không muốn từ bỏ cuộc đời tu hành này.

HT. Thích Trí Quảng