Hoa sứ sân chùa
(Kỷ niệm ngày Đại tường Sư phụ thượng Huyền hạ Huệ)

1993

  Nhân duyên đưa tôi từ miền Trung xa xôi vượt ngàn cây số đến thành phố Sài Gòn, vào chùa Giác Tâm xin tu học. Lúc đó, chùa Giác Tâm chúng điệu quá đông nên Sư trụ trì gửi tôi lên Thầy của Ni sư tế độ. Từ đó, chùa Hải Ấn là nơi tôi gửi gắm niềm tin và nguyện trọn đời theo Thầy học đạo…

“Thầy ơi, Sứ này ai trồng vậy,
Mà hương sực nức cả sân chùa?
                                                                      Thầy trả lời rằng: “Thầy không biết nữa
                                                    Lúc Thầy về Sứ đã ra hoa”.

Đó là kỷ niệm khó quên khi tôi mới vào chùa hành điệu, phụ Thầy chăm sóc cây kiểng. Thầy và tôi, hai thế hệ cách nhau hơn nửa thế kỷ, Thầy là bậc phương trượng, đạo cao đức trọng, thân tướng uy nghi, còn tôi là kẻ sơ cơ mới phát tâm học đạo. Thật sự, lúc mới vào chùa tôi không dám đứng gần Thầy vì thấy mình như nai con ngơ ngác, sợ gần Thầy nói năng không khéo lại thất lễ, nên “kính nhi viễn chi”. Nhưng không, Thầy rất giản dị, điềm đạm, một phong thái ung dung tỏa ra từ nếp sống Giới luật, giọng nói nhỏ nhẹ, nụ cười hiền từ dễ mến khiến tôi cảm thấy rất gần gũi và ấm áp.

Hằng ngày tôi theo Thầy ra vườn nhổ cỏ, bón phân, vun bồn cho cây. Vườn chùa tương đối rộng nên Thầy trồng đủ loại cây, mít, xoài, nhãn và cây kiểng các loại, nhiều nhất là mai và sứ. Mai thì mỗi năm một lần nở vào những ngày Tết, còn Sứ thì ra hoa quanh năm. Thầy rất yêu thiên nhiên nên dù công việc dạy học có bận rộn đến mấy Thầy cũng tranh thủ dành thời gian tự tay chăm sóc, cắt tỉa cây cảnh…

Mỗi sáng thức dậy công phu, nghe thơm lừng mùi hoa Sứ, một mùi thơm nhẹ nhàng quyến rũ đến lạ thường. Công phu xong tôi thường dạo ra phía trước chùa để tận hưởng không khí trong lành của thiên nhiên ban tặng. Hồi đó, nhà dân thưa thớt, không có lầu cao, chung cư nhiều như bây giờ, cảnh vật thật yên tĩnh, không khí trong lành mát mẻ. Đúng là một ngôi chùa quê nằm giữa lòng Thành phố.

Ở với Thầy được bốn năm, tôi lại có ý muốn đi học ở các trường Phật học, có lẽ tuổi trẻ hiếu kỳ không cho phép tôi an phận nơi chốn Thiền môn yên tĩnh chuyên tâm tu trì, và cuộc phiêu lưu mạo hiểm bắt đầu vào mùng một tháng tư năm 1996 đã biến tôi trở thành một gã cùng tử lang thang đi tìm ngọc trong chéo áo.

Để thực hiện ý nguyện của mình, tôi đến gia nhập vào các lớp Phật học, từ Sơ cấp, Trung cấp, Cao đẳng, Học viện cho đến xuất ngoại du học. Mười chín năm đằng đẵng trôi qua, tôi lần lượt ra trường với những tấm bằng khá giỏi, tạm gọi là đã thành công trên con đường học vấn. Nhưng khi tôi trở về, Thầy đã bước qua tuổi chín mươi hai, thân tướng khỏe mạnh ngày xưa đã bị bào mòn bởi thời gian và công việc, thân tứ đại đã đến hồi kiệt sức. Căn bệnh đau nhức ngày đêm làm Thầy ăn không ngon, ngủ không trọn giấc, dung nhan càng tiều tụy hơn nhưng tinh thần vẫn rất minh mẫn, chánh niệm vững vàng và không rời câu niệm Phật.

Những ngày Thầy nằm ở Bệnh viện Thống Nhất, huynh đệ chúng tôi túc trực bên Thầy không rời một bước. Tự nhiên hôm đó, Thầy nói Thầy mơ thấy Phật Di Đà rồi, huynh đệ chúng tôi đứng lặng nhìn Thầy nửa mừng nửa sợ; mừng vì Thầy đã được như nguyện về với cảnh giới Phật Di Đà; sợ vì sống cảnh mồ côi không Thầy nương tựa…

 

Thế rồi, việc gì đến rồi cũng sẽ đến, tôi kề cận hầu Thầy được vỏn vẹn 45 ngày, rồi Thầy lặng lẽ ra đi không lời nhắn nhủ. Lúc Thầy trút hơi thở cuối cùng, tôi không hề biết vì tay Thầy vẫn còn nắm tay tôi. tôi lặng người đi nhìn Thầy và hỏi chị y tá đứng kế bên: “Ủa sao Thầy không thở nữa hả chị?” Lúc đó, Sư huynh tôi mới khóc thét lên: “Thầy đã đi rồi!…”. Thế là, cả chùa phủ kín một màu tang thương, tiếc nuối, tiếng khóc lẫn tiếng niệm Phật vang lên theo tiếng trống Bát Nhã giục liên hồi. Còn tôi, cứ điếng người ra đứng nhìn như người mất hồn, không khóc không la cũng không niệm Phật, cứ ngỡ như chuyện trong mơ chưa tin vào mắt mình đó là sự thật… Trong suốt mấy ngày tang tôi vẫn cứ lờ đờ như thế, như cái xác không hồn mà trong lòng ngổn ngang một mớ ưu tư phiền muộn. Có lẽ, tôi quá hụt hẫng vì thời gian ở gần Thầy quá ngắn ngủi, thời gian đi học quá nhiều, chưa kịp báo hiếu ân Sư, chưa kịp chia sẻ với Thầy về những thành quả học tập đã đạt được, kể cho Thầy nghe chuyện buồn vui khi sống không có Thầy bên cạnh… Và trong tôi bắt đầu trào dâng một sự hối hận, ăn năn. Thế là, tôi tức tưởi, vỡ òa nức nở trước kim quan Thầy, thỏ thẻ lời sám hối mà lòng nghèn nghẹn, và đó là những lời sám hối muộn màng.

Đến hôm nay, thấm thoát đã hai mùa sen nở, ngày Đại tường của Thầy đã đến tôi càng thấm thía hơn cảnh mồ côi Thầy và giật mình tự hỏi:

Ai mang cánh hạc về Tây,
Mang đi luôn cả dáng Thầy yêu thương?
Vườn chùa sau trước còn vương,
Hàng cây Sứ trắng tỏa hương ngạt ngào…

Giờ đây, mỗi khi nhìn hàng Sứ trắng trước sân chùa, hoa Sứ trắng tinh, hương thơm thoang thoảng. Tôi chợt nhớ tới bóng dáng uy nghi của Thầy năm nào, một phong thái ung dung đĩnh đạc, bất chấp mưa nắng trái mùa hay thời tiết khắc nghiệt,

Thầy vẫn trang nghiêm thân bằng hương thơm của giới Luật, của từ bi lan tỏa đâu đây, khắp vườn chùa và bay đi muôn hướng, như mùi hương hoa Sứ Trắng không bao giờ nhạt phai .

Đệ tử: Huệ Hoàn