Di Mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề

11

Đạo Phật là đạo của bình đẳng. Phật nói ” Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật tử sẽ thành.” Bởi thế, theo lời khẩn cầu của tôn giả A Nan, Bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề là con thứ ba của A Noa của thích Ca vương, vua thành Thiện Tý, nước Kosala. Bà cũng là em gái của bà Ma Da phu nhân, là di mẫu của Phật Thích Ca. Con của bà là Nan Đà. Tuy nhiên tình thương của bà dành cho Tất Đạt Đa nhiều hơn.

Sau khi trở về thành Ca Tỳ La Vệ thuyết pháp giáo hóa cho các vương tôn công tử và chọn người thừa kế vua Tịnh Phạn xong xuôi, Phật rút trú đóng tại rừng Ni câu Đà, ngoài thành Ca Tỳ La Vệ. Bì đã thấm được giáo lý giải thoát, một hôm bà Bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề dẫn 500 thể nữ đến rừng Ni Câu Đà, dâng Phật hai tấm y do chính tay bà may. Phật không nhận và đề nghị nên đem y dâng cúng chúng tăng để được nhiều phước nhiều hơn. Bà tỏ ý không bằng lòng, Phật đành nhận 1 tấm và tấm còn lại bà đem dâng cho một tỳ kheo. Nhân dịp đó, bà xin Phật được xuất gia như nam giới. Dù giáo pháp bình đẳng ai cũng có thể thành Phật, nhưng chức năng giữa nam và nữ có khác nhau:

Trong thực tế tiếp xúc, vì ngại có thể sinh những điều không hay, quần chúng dị nghị, Phật chưa chấp thuận.

Vì chí đã quyết nên dù đã 3 lần thưa thỉnh Phật vẫn chưa chấp nhận. Khi trở về cung đường bà và 500 thể nữ tự xuống tóc khoác áo cà sa, tìm phương cách xin Phật xuất gia cho bằng được. Một hôm bà và 500 thể nữ đồng lên đường đến Tinh Xá Na Ma đề kiện ni, nơi Phật đang giáo hóa vì đường xa khi vừa đến cổng tinh xá bà và các thể nữ đều mệt lã, đành đồng nhau ngồi lỳ đợi cơ hội vào bái yết Phật. Tình cờ từ trong tịnh xá ra ngoài A Nan thấy việc lạ lùng và hỏi cớ sự, bà Ma Ha trình bày ý chí và nhờ A Nan khẩn xin Phật giúp để đạt toại nguyện. Trước ý chí tự nguyện cao độ của di mẫu, Phật chấp nhận cho bà và 500 thể nữ xuất gia, với 8 điều kiện, Phật gọi là 8 kỉnh pháp.

1.- Tỳ kheo ni phải y chỉ chúng tỳ kheo để cầu thọ giới cụ túc.

2.- Tỳ kheo ni mỗi nửa tháng, phải đến trú xứ tỳ kheo làm lễ thỉnh thầy giáo thọ.

3.- Tỳ kheo ni mỗi năm 1 lần kiết hạ an cư. Nhưng nếu trong vùng không có chúng tỳ kheo thì tuyệt đối không được phép tự lập kiết hạ riêng.

4.- Tỳ kheo ni không được cử tội hay nói lỗi lầm của tỳ kheo. Ngược lại tỳ kheo có quyền nói lỗi của tỳ kheo ni.

5.- Tỳ kheo ni nếu phạm tội tăng tàn, phải tự mình xin sám hối trước hai bộ chúng tỳ kheo và tỳ kheo ni, trong kỳ bố tát hàng tháng gần nhất.

6.- Tỳ kheo ni dù đã thọ giới cụ túc qua 100 năm, nhưng đối với tỳ kheo mới thọ giới phải đảnh lễ cung kính, vái chào.

7- Tỳ kheo ni sau mùa an cư phải đến trước tỳ kheo xin chỉ những việc bất xứng ý, qua mắt thấy, tai nghe hoặc nghi ngờ.

8- Tỳ kheo ni có điều gì cần hỏi tỳ kheo, nhưng nếu vì lý do nào đó, tỳ kheo không đáp, không được gạn hỏi thêm.

Thể theo ý Phật ngại sự hiện diện của nữ giới trong giáo hội có thể làm cho chính pháp biến thể hoặc sớm hoại diệt, và dị nghị khác có thể xảy ra, Bà Ma Ha Xà Ba Đề nghiêm túc chấp hành các điều giao ước. Bà trở thành tỳ kheo ni đầu tiên trong giáo hội Phật giáo và chứng thành đạo qủa không kém nam giới. Với hàng tỳ kheo ni là vị có Pháp lạp số 1 làm gương mẫu cho hàng tỳ kheo ni.

Thích Minh Tuệ (linhsonphatgiao)