Di chúc của Ni trưởng Hải Triều Âm

14

Linh Quang ngày Tự Tứ năm con rồng 1988

Đông Tây Nam Bắc chị em nhắc nhở “Thầy đã 70 tuổi rồi, cho chúng con tiểu sử, để lúc Thầy lâm chung, chúng con có tiểu sử của Thầy, chúng con đọc như đám các Hoà-thượng”.

Đời Thầy có chi đáng kể mà nói tiểu sử. Chỉ có mấy điều đáng ghi là Hoà-thượng Bổn Sư trao cho Thầy năm chữ “VÔ NGÃ, VÔ NGÃ SỞ”. Thượng tọa Thanh Từ khi lên thăm Phú An dạy Thầy lưu tâm đến “NGHIỆP THỨC”. Hoà-thượng Bửu Lai khi từ biệt, nói không có quà gì hơn là cho Thầy hai chữ “NHẤT TÂM”.

Vậy nay Thầy nói đường lối tu hành Thầy đã tự đi và đang dẫn các con đi : Dĩ nhiên giới luật là căn bản. Còn Định và Tuệ thì vì Thầy thuộc căn cơ hạ hạ, nội phận chúng sanh quá nặng nề. Ngoại phận Thánh Hiền gần như chỉ được học trên Kinh điển, chính bản thân chẳng có chút giác tỉnh nào. Vì thế Thầy cần học TỨ NIỆM XỨ. Quán bất tịnh miên mật năm này qua năm khác. Không phải chỉ tưởng, chỉ suy ngẫm mà phải tập thấy cho bằng được sự thật. Những người chung quanh mình, cũng như bản thân mình, bắt đầu là giọt máu, hoá miếng bầy nhầy, thành một thai bào, rồi một đứa trẻ, một cô gái, một bà già. Cuối cùng là một thây ma, một đống thịt nứt loét. Nếu để trong không khí sẽ hoá dòi, xú khí lừng trời, một bộ xương, một nắm bụi, trả về đất…

Chúng ta bị nghiệp lực cuốn phăng phăng trong biến hoá, không một sức tự tại. Ngu si mê muội nhận nghiệp là mình. Không một chút nghi ngờ huống chi còn biết để ý :

1. Thần thức bị nghiệp dẫn vào tử cung mẹ. Ta lấy máu kinh nguyệt của mẹ làm chỗ ở và thức ăn. Các cụ thường nói : “Khi quỷ sứ đưa đi đầu thai, nó cho ăn cháo lú”. Nay học Kinh mới biết : Quỷ sứ là nghiệp dâm dục, cháo lú chính là thứ máu này. Đã chịu thân cách ấm thì Bồ-tát còn quên hết chỗ tu kiếp trước huống kẻ phàm tình. Tử cung mẹ toàn máu tanh. Quanh tử cung là những vòng ruột toàn phân thối. Một bọng nước tiểu khai. Tất cả các bộ phận này ở trong nước nhớp khắm. Chúng ta thành hình ở trong đó, từ nhơ bẩn mà ra. Ấy thế mà lớn lên trợn mắt cãi mẹ, tự cho mình là kẻ khôn giỏi tài hoa!

2. Cả 7 năm đầu công mẹ phù trì nuôi nấng, nói sao cho hết những nhọc nhằn.

3. Cho đến 21 tuổi, sáu căn bỡ ngỡ tập làm quen với sáu trần, trong cuốn phim đời chúng ta tự đóng trò và tự nếm ý vị.

4. Tuổi thành niên là tuổi năm ấm xí thịnh. Kinh Lăng Nghiêm nói : “Con mắt lưu dật bôn sắc”. Dùng ba danh từ liên tiếp để nói sức mạnh của vô minh chạy theo trần cảnh. Lưu là nước chảy xuôi dòng. Dật là lửa bén rừng hoang. Bôn là vó ngựa tung trong cánh đồng. Ý nói những sức mạnh này, không phải là không ngăn cản được, nhưng đã tập quá quen từ vô thuỷ, ít ai để ý kìm hãm. Thế là rông rỡ tham sân si… Thế là buông lung sát đạo dâm vọng…

5. Từ trẻ đến già, thân là cái máy đòi ăn uống, áo quần, nhà ở v.v… trăm thứ cần dùng. Ta đã đem hết tinh thần cung phụng. Nó chuyên sản suất phân tiểu, mồ hôi, cáu ghét. Mắt ra ghèn, tai ra ráy, mũi miệng ra đờm dãi. Ngày này qua ngày khác, trọn đời lo tắm rửa.

Tới khi tất cả gió trong người đồng dứt, cười, nói, cử động, nhất tề lạnh ngắt. Thây ma nằm im. Người ngoài tưởng thế là an nghỉ. Nhưng theo Kinh dạy thì khi hơi thở ngừng, tinh thần bức ngộp khổ vô cùng. Ta cứ thử lấy tay bịt mũi vài phút, sẽ biết chút ít sự khổ của người không được thở. Thiếu dưỡng khí, máu lạnh dần. Từng tế bào, từng thớ thịt, xương tuỷ như bị dao cắt kim châm. Khổ muốn phát điên mà thân không cử động được một tơ hào. Cứ thế cho tới lúc toàn thân lạnh ngắt, thần thức mới không hiện hành, tinh thần chìm trong mờ mịt… để sửa soạn một cuốn phim khác, bước sang đời sau.

6. Từ trong bào thai đến khi vào quan tài, các thứ bệnh hoạn : Đậu mùa, ho lao, thương hàn, sốt rét, hủi cùi, ung thư v.v… lặng lẽ bất chợt đem đau đớn cho người ta như rắn bò dưới cỏ. Nó đến lúc nào không ai biết. Chợt nó phát ra thì già trẻ sang hèn đều bị nó ngự trị hoàn toàn. Da thịt xương tuỷ đau nhức kiệt quệ. Còn bao nhiêu tai nạn khác như hóc xương, trượt chân, ngã gẫy tay vỡ sọ, một viên ngói rơi trúng đầu, một luồng gió độc thoáng qua…

Đời người là một chuỗi lo âu sợ hãi nhưng trí nhớ con người như dao chém nước, vừa nhấc lên đã mất vết. Không ai dám tự hào ngày mai tôi vẫn còn mạnh khoẻ. Ai cũng biết cuộc đời có lắm bất ngờ, hoạn nạn này, khốn khổ khác. Vậy mà thế gian vẫn vui cười, uống rượu, mê sắc, các thứ ngông nghênh kiêu căng đáo để, hành hạ lẫn nhau, xoay sở tàn hại nhau. Chỉ vì không thể nhớ rằng mình đã và sẽ khổ.

7. Mục đích cốt làm thế nào thấy rõ sự thật ở mỗi con người, mỗi con chim, con cá… là vô thường, vô ngã, khổ và không. Thấy rõ để giải thoát ba độc tham sân si, xót thương thành thật vạn loài, vui vẻ ở với ai cũng được và ở cảnh nào cũng được.
Đức Bổn-sư vừa giáng sanh đã nói ngay : “Thiên thượng, thiên hạ duy ngã độc tôn”. Thầy hiểu câu ấy nghĩa thế này : ”Trên trời dưới đất chỉ có cái TA chân thật mới đáng tôn quý”. Vì muôn loài sống mê muội. Thân, tâm, cảnh đều hư vọng. Từ vô thuỷ lẩn quẩn mãi trong vòng Hoặc Nghiệp Khổ. Phật giáng sanh để khai mở cho nhân loại thấy và trở về sống với cái TA chân thật.
Kinh Lăng Nghiêm dạy ba tiệm thứ. Chúng ta phải thiện hiện từ lúc phát tâm đến ngày thành Phật :

1. Trừ trợ nhân sanh tử ( năm thứ rau cay).

2. Khoét bỏ tánh chúng sanh (trì giới).

3. Sáu căn sống trái với nghiệp hiện tiền (xả thọ).

Trợ nhân sanh tử nếu chỉ có 5 thứ rau cay thì chúng ta chắc đã thành Phật cả rồi. Trợ nhân mạnh nhất chính là gia đình, xã hội, cả trái địa cầu đang sống trong HOẶC NGHIỆP KHỔ. Cho nên chúng ta phải xuất gia, tìm nơi có quy củ đúng chánh pháp, để mong ở bầu được tròn, để tránh ở ống hoá dài.

Kiếp sống phù du, cảnh vốn mây bèo, trí tuệ non cạn, tâm phàm khó gột. Giơ tay cất bước tội đã ngập đầu, ác đạo trầm luân dễ vào mà khó ra. Cho nên ta phải dự chọn một nơi có đủ minh sư thiện hữu để rời thân ngũ ấm này, chúng ta đủ duyên tiếp nối công phu.

Đức Thích ca dạy : “ Về phương tây cách đây 10 vạn ức cõi Phật , có một thế giới gọi là An lạc, có đức Phật A Di Đà hiện đang thuyết pháp.

Đức Phật vì sao hiệu là A Di Đà ?

Xá Lợi Phất này, Phật A Di Đà quang sáng vô cùng vô lượng, soi khắp các nước suốt cả 10 phương không đâu chướng ngại. Phật A Di Đà cùng với nhân dân của Ngài sống lâu vô cùng đến bao nhiêu kiếp không thể kể xiết. Phật A Di Đà thành Phật đến nay mới có 10 kiếp. Đệ tử Thanh văn toàn A-la-hán hằng sa vô số. Các vị Bồ-tát cũng đông như thế. Mười phương chúng sanh sanh về An lạc đều là những bậc một đời không thoái. Trong có rất nhiều nhất sanh bổ xứ. Số sanh sang đấy nhiều lắm không thể đếm mà biết được. Chỉ có thể nói là nhiều vô số vô lượng vô biên. Chúng sanh nghe rồi thì nên phát nguyện, nguyện sanh sang đấy để được cùng các bậc thượng thiện như thế cùng nhóm họp một nơi”.
TÍN NGUYỆN HÀNH

Chúng ta cần học tập để ra khỏi ba cõi, tiến tu sự nghiệp, trên cầu Phật đạo dưới giác tỉnh chúng sanh, ngõ hầu đền đáp bốn ân, cứu khổ muôn loài.
Như trên là đường đi do quý Hoà Thượng, liệt vị thiện tri thức đã dắt dẫn. Thầy đã được một đời sống bình an vui vẻ trong hiện tại. Và tương lai hé mở một khung trời đầy ánh sáng hy vọng.
Nam mô tánh tướng bất nhị, minh hợp vô vi, nhất thiết tối thượng Tăng già gia chúng.

Nam mô thập địa, tam hiền, ngũ quả, tứ hướng, nhất thiết xuất thế Tăng già gia chúng.

Nam mô Tỳ kheo ngũ chúng, hoà hợp vô tranh, nhất thiết trụ trì Tăng già gia chúng.

Tái Bút : Thầy để lại cho các con một hướng phương cất bước, để đỡ bơ vơ trong biển Phật pháp mênh mông. Nhưng trên con đường mòn này, tuỳ sở thích các con muốn trì kinh nào cũng quý, Pháp Hoa, Hoa nghiêm, Bát Nhã, cho tới Di Đà, Phổ Môn, A Hàm… Muôn hoa, hoa nào cũng tươi, cũng đẹp, cũng thơm.
Nguyện cầu :
Tông phong vĩnh chấn,
Tổ Ấn trùng quang,
Giác hoa hương biến khắp rừng thiền.
Mưa pháp tưới nhuần người sơ học.
Cành cành lá lá tiếp nối không ngừng,
Tổ đường rực rỡ, chánh pháp xương minh.
Nam mô Độ Nhân Sư Bồ-tát ma ha tát (3 lần).
Đây là nguyên văn Di Chúc, Thầy đã để lại cho hàng đệ tử chúng tôi. Ngưỡng mong ai đọc văn này, hiểu được đường lối tu hành chánh pháp, sẽ lợi ích trong hiện đời và cả mai sau.

(phattuvietnam.net)