Có một con đường

15

  Đứng trước biển Phật pháp mênh mông vô tận đâu là bờ không thấy, chỉ thấy một chân trời xa xăm… Trong biển luân hồi, chúng sinh cũng vậy, trùng trùng điệp điệp không có dấu hiệu bắt đầu, không có dấu hiệu chấm dứt và cũng không phải là hai con đường bến bờ song song; không dị biệt, nó chỉ là khái niệm, ngôn từ bàn suy, ước lệ… Bởi vì, đối với tâm, Phật dạy: “Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc”. Tâm bất khả đắc là hành giả thực hành tánh Không, không dính mắc vào thời gian, không kẹt vào không gian, nhưng nó cũng không phải là một trạng thái tâm mơ hồ, trừu tượng.
Tâm bất khả đắc là đỉnh cao của sự tu chứng. Để đạt được điều đó, hành giả phải trải qua một quá trình học hỏi, tu tập không ngừng nghỉ. Trong phạm vi bài viết này, con xin trình bày, chia sẻ lời Phật dạy về trạng thái tâm có thể nắm bắt, có thể điều phục trong những bước tuần tự thực hành pháp của một Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, trong các kinh luận Phật giáo Đại thừa với những tư tưởng phóng khoáng, ngôn ngữ triết học phù hợp với thời đại, thái độ, hành xử gần gũi với xã hội. Đây là con đường tu tập mà con tâm đắc, với niềm tin cao nhất là mình đang đi đúng con đường mà Đức Phật và chư Tổ đã chỉ ra. Hy vọng, những kinh nghiệm tu tập của con có thể đóng góp điều gì đó cho các thế hệ hậu học.

Vì vậy, ở đây con chọn ba tác phẩm để giới thiệu về con đường tu học của mình đang hành trì.

Tác phẩm thứ nhất: Bài kinh Phật dạy cho Bà la môn Ganaka Moggallana thuộc kinh Trung bộ tập III, bản dịch Pali – Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu.

Tác phẩm thứ hai: Khuyến phát Bồ đề tâm văn của Đại sư Thật Hiền, bản dịch của Hòa thượng Thích Trí Quang.

Tác phẩm thứ ba: Ba điểm tinh yếu của đường tu giác ngộ của Lama Tsong Khapa trước tác, bản dịch Hồng Như.

Sơ tâm là Bồ đề tâm

Là cái tâm ban đầu phát tâm xuất gia học đạo, tha thiết, mạnh mẽ, cao thượng, đẹp đẽ hứng khởi vô cùng. Cho nên, Ngài Qui Sơn đã nói trong Qui Sơn cảnh sách: “Nói đến người xuất gia là cất bước lên đường, hướng tới phương trời cao rộng, thân và tâm khác hẳn thế gian, tiếp nối dòng thánh, nhiếp phục ma quân để báo đáp bốn ân, cứu khổ ba đường.” Còn Hòa thượng Trí Quang nói về tác phẩm Khuyến phát Bồ đề tâm văn: “Chúng tôi trong những ngày đầu tiên chập chững (sơ tâm) bước đi trên con đường đạo, may mắn đọc được bản văn này. Nếu không có bản văn này, có lẽ chúng tôi đã bị dòng thác cuộc đời kéo phăng đi mất.”

Trên con đường bước đầu học đạo, chúng ta không biết phải bắt đầu từ đâu như Hòa thượng Trí Quang đã nói: “Thế nào là tâm phàm phu, thế nào là tâm Phật, thế nào là chưa phát Bồ đề tâm, thế nào là phát tâm Bồ đề; đâu là tà, chánh, chơn, ngụy, đại, tiểu, thiên viên? Phát Bồ đề tâm là căn bản của việc học Phật. Nhưng Bồ đề là gì? Bồ đề tâm là thế nào? Phát Bồ đề tâm cách nào?”

Ngài đã thay chúng ta đặt ra câu hỏi. Có lẽ đây là câu hỏi muôn đời của người mới vào đạo. Nếu những câu hỏi đó của Đại sư Thật Hiền, Lama Tsongkhapa hay Đại sư Atisha… không được trả lời chúng ta vẫn mò mẫm bởi cái hiểu của mình khác và thấp hơn lời dạy của Phật về Bồ đề tâm trong các bộ kinh luận. Lời lẽ cô đọng, súc tích nên các bậc Thầy, Tổ đã luận giải, phân tích, thiết lập lại ngôn ngữ văn từ, chương cú cho phù hợp với trình độ nhận thức và sự thực hành của chúng ta. Vậy tâm Bồ đề nói một cách cô đọng dễ hiểu là “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”. Khát khao cầu Phật đạo, khát vọng cứu độ chúng sanh.

Tác phẩm Ba điểm tinh yếu của đường tu giác ngộ cũng lấy Bồ đề tâm để tu tập: Tâm xả ly, tâm Bồ đề, Tri kiến chứng ngộ tánh Không. Tâm xả ly chưa đủ để thành tựu Bồ đề, vì lợi ích chúng sanh. Bởi vì họ tái sinh trong luân hồi, nơi họ bị ba nỗi khổ giày vò. Bằng cách quán chiếu tất cả bà mẹ khổ đau trong cảnh ngộ ấy, hãy phát tâm Bồ đề Vô thượng.

Phương pháp thứ tự huấn luyện, điều phục tâm của Đại thừa

Sau khi phát tâm Bồ đề, qua những giai đoạn, quá trình chọn lựa và đào thải như trong Khuyến phát Bồ đề tâm văn. Bỏ Tà, Ngụy, Tiểu, Thiên ; lấy Chánh, Chơn, Đại, Viên và thực hành ba điểm tinh yếu. Không có tâm xả ly thì mọi phiền não của tham, sân, si, mong cầu vô tận trong cõi luân hồi không bao giờ ngừng nghỉ, dẫn đến tích tụ tham chấp năm uẩn, năm triền cái, vô minh tham dục. Quay ngược tiến trình ấy là tâm Bồ đề, tâm mong cầu giác ngộ tuệ giác và làm lợi ích cho chúng sanh. Tri kiến về chứng ngộ tánh Không, sẽ đoạn trừ được nhị chứng, không dính mắc vào nhị biên, mà trong kinh văn Bát nhã chúng ta thường quán chiếu “Trong tướng Không của các pháp, không sanh, không diệt, không dơ, không sạch… ba đời Chư Phật đều nương theo trí tuệ tánh Không Bát nhã ba la mật đa, cho nên chứng được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.”

Trên đây là quá trình tuần tự tu tập của Đại thừa. Nhắc đến Bồ đề tâm là nói đến Đại thừa. Dựa vào vài tác phẩm chưa đủ để khái quát, bao trùm hết con đường tu tập của Đại thừa. Con chỉ dẫn vài tác phẩm nói về tu tập của Đại thừa, thí như nếm vài giọt nước giữa biển khơi mênh mông.

Và đây là những điều con tâm đắc:

Phương pháp thứ tự huấn luyện, điều phục tâm của Đức Phật
Trong xã hội ngày nay, chúng ta có quá nhiều loại để học tập, nhiều con đường, phương tiện để đi. Cũng vậy, người học Phật có quá nhiều phương tiện thực hành. Đôi khi chúng ta phải nhìn lại mình đang đi về đâu trên lộ trình giải thoát? Bởi Đức Phật đã vô cùng thiện xảo với trí tuệ siêu việt của Ngài về phương pháp giáo dục để làm Phật. Người Bà la môn kinh ngạc khi nghe qua cách Ngài huấn luyện điều phục một Tỳ kheo, đã thốt lên: “Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại, những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho những người lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích.”

Đối với một Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, khi thực hành theo sự huấn luyện, điều phục tâm của Đức Phật có sáu bước như sau:

1. Hãy giữ giới hạnh

Hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới.

Hãy giữ giới. Đây là lời dạy thiết thực do Đức Phật đã dự đoán được. Trong tương lai những đệ tử Tỳ kheo của mình vì mãi đi theo những phương tiện mà quên đi giới chăng! Hãy chế ngự với sự chế ngự, như vậy không chỉ chế ngự ngoại cảnh, mà chế ngự lấy tâm mới là điều trọng yếu. Lấy giới bổn làm quy củ, giữ uy nghi chánh hạnh, thấy được sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các giới.

Trong phương pháp hay pháp môn tu tập của Tỳ kheo ni, riêng con thấy rằng, Giới bổn của Tỳ kheo ni và Bát kỉnh pháp là thông điệp rất tế nhị về trách nhiệm và yêu thương mà Đức Phật đã gửi đến cho hàng Ni chúng, như một sợi dây cương để níu giữ con ngựa quý báu của mình, như chiếc kính hiển vi để nhìn thấy những lỗi nhỏ nhặt trong lúc hành trì. Hành trì mới thấy được sự dao động của tâm giữa muôn vàn gợn sóng của thức. Chỉ một ý niệm khởi lên là đã tác động đến thiên hà đại địa (Trong phạm vi bài viết này, con chưa thể đề cập đến nhiều).

2. Hãy hộ trì các căn

Khi một vị Tỳ kheo không hộ trì các căn thì các căn không được chế ngự. Các căn không chế ngự thì khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, kéo theo bao nhiêu khổ lụy, tham đắm thế gian hữu lậu… đời sống tu tập không còn thanh tịnh, an lạc.

3. Hãy tiết độ trong ăn uống

Chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, đam mê, trang sức tự làm đẹp mình. Ăn là nhằm để duy trì thân thể khỏi bị bệnh tật thương tổn, để giữ gìn phạm hạnh và để diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn.

Nói đến ăn uống là nói đến một vấn đề rất tế nhị, chỉ có cha mẹ mới dạy vẽ con cái. Ở đây, Đức Phật đã thương chúng ta như con nhỏ, nhắc nhở chỉ dạy từng tâm lý ăn uống. Lợi và hại do ăn uống, các cảm thọ, lỗi lầm hay an lạc cũng do ăn uống. Cho nên, pháp Tam đề Ngũ quán trong thời quá đường của Tăng chúng rất quan trọng. Bởi đây là “chánh niệm” khi ăn trong các oai nghi, chánh hạnh của chốn Thiền môn mà Đức Phật đã huấn luyện, điều phục tâm của một Tỳ kheo trong tiến trình tu tập.

4. Hãy chú tâm cảnh giác

Đây là bước luyện tâm, điều phục tâm thứ tư trong các oai nghi, khi đi kinh hành, khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại. Ban đêm, canh đầu, canh giữa và canh cuối, chánh niệm tỉnh giác, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp.

Đọc đoạn thứ tư này, ai từng nói đi tu đạo Phật không làm gì cả, suốt ngày ngồi không, hay chán đời, thất nghiệp… Hãy chiêm nghiệm lời dạy của Phật để thấy đời sống tu học của Tăng chúng, của mỗi một cá nhân đều tự ý gột sạch các pháp chướng ngại như năm triền cái tham ăn, tham ngủ… giấc ngủ thật khó chinh phục. Đêm khuya, xóm làng ngon giấc, riêng Tỳ kheo đệ tử của Phật thầm lặng thức khuya tọa thiền, kinh hành, dậy sớm tọa thiền, kinh hành. Có ai theo dõi bắt buộc mình đâu, mà vì tự ý thức chánh niệm tỉnh giác để gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp.

5. Hãy thành tựu chánh niệm tỉnh giác

Trong bốn oai nghi đi tới đi lui, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh, co tay duỗi tay, mang dép, ôm bình bát khất thực, mặc thượng y, ăn uống, nhai, nuốt, đại tiện, tiểu tiện. Đi, đứng, nằm, ngồi, thức, nói, yên lặng… tất cả mọi cử động, hành động hay lặng yên cũng đều tỉnh giác, tỉnh giác và tỉnh giác.

Thật tuyệt vời, đây là phương pháp huấn luyện, điều phục của một Tỳ kheo. Nghe ra không có gì to tát cả. Tu Phật thật là quá tiết kiệm, không tổn hao gì của xã hội. Ăn thì một bữa, tắm thì nửa tháng một lần (theo Giới bổn), không làm gì mà tốn hao nhiều điện nước. Nhu cầu cho cuộc sống của một Tỳ kheo thật khiêm tốn, ít ỏi về vật chất. Nhưng ngược lại đời sống tinh thần thật phong phú, hành động thật vi tế, tâm Bồ đề bao la rộng lớn. Khát khao thành tựu chánh niệm vì muốn làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh mà phải tự mình chế ngự điều phục lấy mình. Việc này nghe qua dễ, nhưng thực hành thật vô cùng khó nhọc, khổ luyện từng hành động, từng thái độ, từng trạng thái của thân và tâm.

6. Hãy lựa một nơi thanh vắng tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm…

“… Sau khi đi khất thực về và ăn xong, ngồi kiết già với lưng thẳng, an trú chánh niệm trước mặt, từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái, từ bỏ sân hận, sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm sân hận, từ bỏ hôn trầm thụy miên, thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, từ bỏ trạo cử hối tiếc… gột rửa tâm nghi ngờ đối với các thiện pháp.”

Chứng và trú Tứ Thánh quả
Thiền thứ I
Phật dạy: “Khi đã đoạn trừ năm triền cái ấy, những pháp làm ô nhiễm tâm, tâm trí tuệ yếu ớt, vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh với tầm và tứ.”
Thiền thứ II
Phật dạy: “Khi đã diệt tầm và tứ, chứng thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ nội tĩnh nhất tâm.”
Thiền thứ III
Phật dạy: “Hỷ trí xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự thọ lạc mà các bậc thánh gọi là xả niệm lạc trú và trú thiền thứ ba.”
Thiền thứ IV
Phật dạy: “Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ, ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.”

Như Lai là người chỉ đường

Những phương pháp để tuần tự rèn luyện hàng phục tâm nhằm hướng dẫn cho các chúng Tỳ kheo hữu học, tâm chưa thành tựu, đang ước vọng cần cầu đạo Vô thượng Bồ đề, giải thoát khỏi các trói buộc, nô lệ của năm triền cái… vốn ngăn trở các Thánh quả.
Còn đối với những bậc Tỳ kheo đã chứng A la hán, các lậu đã tận, tu hành thành tựu, các việc làm, nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thánh đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh tri giải thoát. Những pháp ấy đưa đến sự hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.

…Trong khi có mặt Niết bàn, trong khi có mặt “con đường đi đến Niết bàn” và trong khi có mặt “Ta là bậc chỉ đường”, nhưng các đệ tử của Ta, được Ta khuyến cáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết bàn, một số không chứng được. Ở đây, này Bà la môn, Ta làm gì được? Như Lai chỉ là người chỉ đường.

Tóm lại, giáo pháp Đức Phật dạy cho chúng ta một con đường, một phương pháp để huấn luyện điều phục thân tâm, để phát khởi tâm Bồ đề, để buông bỏ, để chứng được bản chất Không của các pháp. Giáo pháp của Đức Phật, tuy sản sanh nhiều phương tiện, qua nhiều truyền thống mà các học thuyết đã phân chia Nguyên thủy – Đại thừa – Kim Cương thừa. Nhưng cái cốt tủy, tinh túy của giáo pháp là tâm Bồ đề và trí tuệ tánh không. Với sự thành tựu lý tưởng tu hành, lậu hoặc kiết sử đã tận, gánh nặng sinh tử từ vô lượng kiếp dứt sạch, chánh trí giải thoát dẫn đến hiện tại lạc trú, chánh niệm tỉnh giác dẫn đến cứu cánh Niết bàn.

Ý riêng: Pháp bát kỉnh, hiện nay có một ít Tăng, Ni, học giả… cho rằng không do Phật chế ra, mà do quý Tổ đời sau. Riêng con, Pháp Bát kỉnh gắn liền với sự kiện chấn động, Đức Phật vượt qua luật định thế gian, những kiến chấp xã hội thời bấy giờ để cho “một bà Hoàng” và 500 thiếu nữ, mệnh phụ xuất gia làm Tỳ kheo ni. Để rồi nữ giới có Bát kỉnh pháp để tôn kính, khiêm nhường… trước hội chúng Tỳ kheo. Đối với bà, điều quan trọng nhất, tha thiết nhất là được xuất gia, được học đạo giải thoát giác ngộ, chứ không phải sợ vì va chạm vào cái bản ngã, tự ái, kiêu mạn, tham sân si… vốn nhiều và hơn cả nam giới. Vì mục đích tối thượng, vì con đường trải đầy tình thương và tuệ giác của Đức Phật, bản ngã cố chấp ngàn đời nhờ thực hành pháp mà được gột sạch, thì hội chúng Ni còn gì để nói!
Chúng ta hãy niệm Bát kỉnh pháp và Giới bổn Tỳ kheo ni như là một pháp tu đặc thù của chư Ni, của Ni bộ Tăng già và phù hợp với hành vi, tâm lý tâm thức, hạnh nghiệp vi tế… mà một người nữ rời bỏ sự bảo bọc của gia đình sống không gia đình trong một tập thể nữ phải được huấn luyện và điều phục, phải học hành và thành tựu trên đạo lộ giải thoát, để góp phần với Giáo hội Tăng già hoằng dương Chánh pháp, cứu độ tất cả chúng sanh.

Trong sự nỗ lực tổ chức Lễ Tưởng niệm Thánh Tổ Ni mỗi năm qua mỗi tỉnh thành, con lấy làm ngưỡng mộ vì mỗi lần như thế là một lần biểu dương sự lớn mạnh tổ chức của Ni giới trong các tự viện, trong các lãnh vực giáo dục, từ thiện, hoằng pháp… tiếp bước cùng chư Tăng, Giáo hội Tăng già. Chư Ni có được ngày nay, hàng hậu học chúng con mãi không bao giờ quên tấm gương quyết chí cầu đạo của Tổ và sự tinh cần thực hành Chánh pháp dẫn đến đạo quả chứng đắc Niết bàn, 500 Tỳ kheo ni cũng chứng đắc Niết bàn. Các bậc đạo sư Ni tiền bối cũng có mặt trên con đường đi đến Niết bàn mà Đức Thế Tôn là bậc chỉ đường… Hội chúng Tỳ kheo ni chúng con cũng nguyện thiết tâm thành, quyết chí đi trên con đường mà Thánh Tổ Ni đã đi và đã tới hơn 2.600 năm qua. Đó là ý nghĩa tưởng niệm mà chư Ni kính dâng lên Ngài.

Thích Như Tường