Chùa Hải Vân kỷ niệm khai sơn lần thứ 56:
Lễ nhập tháp lần thứ 21 Cố Sư trưởng thượng Như hạ Thanh

39

  Ngày 24/02/2020 vừa qua (mùng 02/02/Canh Tý), đã long trọng diễn ra lễ kỷ niệm khai sơn chùa Hải Vân (TP. Vũng Tàu) lần thứ 56, cũng là ngày tưởng niệm lễ nhập tháp lần thứ 21 của cố Sư trưởng thượng Như hạ Thanh – Viện chủ Tổ đình Huê Lâm (TP. Hồ Chí Minh); khai sơn chùa Hải Vân, Phổ Đà, Quy Sơn (TP. Vũng Tàu).Tham dự buổi lễ có sự chứng minh của HT. Thích Giác Hạnh – Ủy viên HĐTS TW GHPGVN, Phó BTS GHPGVN tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; chư Tôn đức Tăng Ni các tự viện TP. Vũng Tàu cùng sự hiện diện đầy đủ của chư Tôn đức Tăng Ni thuộc Tông phong Tổ đình Huê Lâm.
Sư trưởng pháp húy Hồng Ẩn, tự Diệu Tánh, hiệu thượng Như hạ Thanh đắc giới thể Tỳ kheo ni tại miền Bắc, pháp hiệu Đàm Thanh. Thế danh Nguyễn Thị Thao, sinh ngày 08/02/1911. Từ dòng dõi trâm anh thế phiệt, thọ phàm thân tại làng Tăng Nhơn Phú, huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định, trong gia đình nhiều đời thâm tín Phật pháp, đủ duyên đắc pháp với bậc thạc đức danh Tăng của dòng Thiền Lâm Tế đời thứ 39 – Sư tổ Pháp Ấn chùa Phước Tường được Tổ quan tâm dìu dắt, thế phát xuất gia, để từ đó:

Phước Tường hiên hiện dấu hài
Hội Sơn chùa cổ ửng hoài sắc mây
Huê Lâm hương giới tỏa bay
Từ Nghiêm nối rộng vòng tay Kiều Đàm
Phổ Đà đón gió phương Nam
Quy Sơn đỉnh núi nhặt khoan chuông chiều
Hải Vân soi bóng Đông triều
Sứ, đào tỏa rạng nắng chiều trời Xuân.

Xuất phát từ chốn Tổ Phước Tường, ở tuổi 23 với tâm nguyện kế vãng khai lai, làm rạng rỡ dòng Kiều Đàm, gót thảo hài “Độc bộ cô hành” xuôi ngược tham học với các bậc Cao tăng thạc đức của miền Nam, như Tổ Khánh Thuyên…
Năm 25 tuổi, Sư trưởng bắt đầu giảng dạy các lớp gia giáo và hợp tác với quý Ni trưởng Diệu Tịnh, Diệu Tấn lập chùa Ni đầu tiên ở Sài Gòn – Gia Định là chùa Từ Hóa, tiền thân chùa Hải Ấn bây giờ… cũng trong năm này, Người thừa mạng Tổ Phước Tường, về trụ trì Tổ đình Hội Sơn ở Thủ Đức.

Năm 28 tuổi, nhờ thân phụ là cụ Huyện Giác và bào huynh là cố Hòa thượng Quy Sơn trông coi, sửa chữa Tổ đình Hội Sơn để Người rảnh tay viễn du tham học. Từ Gia Định Thành đến kinh đô Phú Xuân (Huế) rồi đến kinh thành Thăng Long (Hà Nội), sau đó, đến Yên Tử, thánh địa của Trúc Lâm Tam Tổ để thực nghiệm thiền quán.

Năm 31 tuổi, trở về miền Trung, cầu học giáo nghĩa Đại thừa với Quốc sư Phước Huệ tại chùa Thập Tháp tỉnh Bình Định. Năm 32 tuổi, Người trở về Tổ đình Hội Sơn đại khai pháp tịch, tiếp dẫn Ni lưu, mở lớp dạy Quốc ngữ cho dân làng quanh vùng, bắt đầu sự nghiệp du hóa và xây dựng. Từ Tổ đình Huê Lâm (quận 11) đến Tổ đình Từ Nghiêm (quận 10). Năm 48 tuổi, bước du hóa đến Vũng Tàu. Nơi đây, đất lành – chim đậu, theo kinh nghiệm dân gian hay chốn “đắc địa” theo tuệ nhãn của các bậc pháp khí. Chỉ trong vòng 10 năm, từ năm 1959 đến 1969, Sư trưởng đã khai sơn xây dựng ba trú xứ tại đây. Có hai trú xứ tạm hoàn chỉnh là chùa Phổ Đà, khánh thành năm 1960; chùa Quy Sơn khánh thành 1969. Giữa hai trú xứ này, năm 1970, Sư trưởng mở trường Sơ cấp Kiều Đàm. Năm 1972, Người mở Ký nhi viện Kiều Đàm. Hai cơ sở này đã chăm sóc, miễn phí về học tập và dinh dưỡng cho khoảng 200 trẻ em nghèo quanh vùng.

Riêng trú xứ Hải Vân, nằm trên sườn núi Tao Phùng, nhìn ra Đông hải, trước ngày khai sơn là rừng tre dày ken két “Gai chen lá – đá chen gốc” ở độ dốc chỉ cần đứng được cũng khó khăn lắm rồi nói chi đến san lấp. Vậy mà với quyết tâm hình thành cho được chùa Hải Vân, nên đá chông, gai nhọn, nắng lửa, gió muối khắc nghiệt đều không làm Người chùn bước.

Đánh gốc dưới nắng trưa
Mồ hôi chan ướt đá
Để Hải Vân hình thành
Nhiệm mầu như phép lạ.

Sau bốn năm Người lao động cật lực, đến năm 1968, vùng tre gai khô cằn này đã trở thành vườn đào, sứ hồng, vàng trắng chen nhau giữa những bờ đá xếp ngang lưng chừng đồi. Uốn lượn quanh đây là những bậc cấp đá dẫn lên đỉnh núi. Đi lên núi mà thấy biển thật gần, biển như sát chân, sóng vỗ sau lưng. Ai đã một lần đến đây mới cảm nhận được điều này, núi biển muôn đời vẫn gần gũi nhau là vậy.

Dự tính, nơi đây sẽ là Viện Nghiên cứu, Phiên dịch và Chuyên tu dành riêng cho Ni giới. Dự án này đã trình lên Viện Hóa đạo, được Cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa – Viện trưởng Viện Hóa đạo, thời bấy giờ chuẩn y vào ngày 28/10/1968 và hoan hỷ khuyến tấn. Các bộ phận nghiên cứu và phiên dịch đã hoạt động sơ khởi qua bản dịch Kinh Kim Quang Minh Hiệp bộ của Ni trưởng Như Ấn và Đặc san Hoa Đàm 1972 – 1975, Phật pháp giáo lý 1991 – 1997 do cố Sư trưởng chủ biên.

Sau một thời gian gián đoạn xây dựng, ngày 19/02/1990, lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Quan Âm Bảo điện trong khuôn viên chùa Hải Vân được cử hành. Sau 24 tháng thi công, ngày 19/02/1992 khánh thành. Những công trình còn lại như: Chánh điện, giảng đường và Tòng Lâm Ni chúng bộ chưa kịp thực hiện.

Hiện nay, các gộp đá cao trên sườn núi Tao Phùng, sau chùa Hải Vân vẫn còn dòng chữ “Tòng Lâm Ni chúng bộ” mang bút tích của cố Sư trưởng.
Do vậy, Hải Vân vẫn được xem là trú xứ xây dựng dở dang trong những trú xứ của Tổ đình Huê Lâm tại Vũng Tàu.

Ngày nay, Ni chúng rất đông, số có học thức, học vị căn bản không phải ít, vậy mà nơi nghiên cứu, phiên dịch và chuyên tu có hệ thống – dành riêng cho Ni còn quá ít. Dự án hơn 56 năm chưa đủ duyên thực hiện. Người lập dự án ra đi đã hơn 7.665 ngày, ở tuổi 90.

Chín mươi năm lắm nghĩa tình
Hết lòng Ni chúng, quên mình nhân sinh
Lòng từ tỏa ánh quang minh,
Đức lưu vạn thế, chúng Ni nương nhờ.

Gần 90 năm hòa quang đồng trần và suốt 67 năm hành hóa, Sư trưởng đứng vững trên đôi chân giới đức và trí huệ, kiên chí bền lòng, suốt cả cuộc đời vươn vai gánh vác Phật sự, góp phần xây đắp ngôi nhà Phật pháp. Một tay cầm bút chia sẻ trên hàng nghìn trang giấy những kiến thức uyên thâm lưu xuất từ nội tâm kiên định của bậc xuất trần Ni lưu, Như Lai pháp tử. Một tay cầm phấn mài nhẵn bảng đen, làm người đưa đò nhẫn nại, đào tạo bao thế hệ Ni tài. Từ thuở ấu thơ, chúng con đã được Sư trưởng đích thân chỉ dạy từ việc rất nhỏ cho đến “Tự luyện phàm tâm thành thánh trí”.

Tại buổi lễ, Ni trưởng Như Nguyên – Trụ trì chùa Hải Vân, đã dâng lời tưởng niệm trong niềm xúc cảm đong đầy:

“Cũng vào ngày giờ này 21 năm trước, tất cả chúng con đã nát lòng nuốt lệ đưa nhục thân Thầy vào an nghỉ giữa bảo tháp Đàm hoa. Hôm nay, môn hạ chúng con đồng câu hội về trú xứ Hải Vân nơi Thầy đã dành thật nhiều tâm huyết nhưng không đủ thời gian hoàn thành, ngậm ngùi tưởng niệm công hạnh Tôn sư. Để đền đáp phần nào công đức khai sơn tạo tự, phú pháp truyền y của Sư trưởng Tôn sư, năm nay, chúng con chuẩn bị xây dựng chánh điện chùa Hải Vân.

Buồn thay! “Kế thừa Di Mẫu đảm đương đại sự nhơn duyên, truyền thống Ni lưu tiếp dẫn hoằng khai chánh pháp”, trở lại làm Ni để độ Ni và hoàn thành những gì còn dở dang hoặc chưa kịp bắt đầu, là tâm nguyện của Tôn sư.

Thầy đi công hạnh công vẫn còn
Phó lời di chúc, chúng con hoàn thành
Dù rằng đức bạc, phước manh,
Chúng con xin nguyện hoàn thành di ngôn.

Ở tuổi quá bát tuần, Người lặp đi lặp lại tâm nguyện này nhiều lần với nhiều người và Ni trưởng Như Đức (Thiền viện Viên Chiếu) đã gọi điều này “Như lời hẹn với sanh tử”, mà sanh tử thì trùng trùng, không biết sau này chúng con có đủ phước duyên gặp lại Thầy không? Dù gặp, dù không, chúng con vẫn mãi mãi là đệ tử của Thầy, vẫn là những người thọ ở Thầy thật nhiều ân huệ pháp nhũ, và như vậy chúng con sẽ không bao giờ xa Thầy trong hạnh nguyện.

Đến nay đã 21 năm vắng bóng Thầy, nhưng những âm thanh, hình ảnh vẫn bàng bạc mãi quanh đây. Về Hải Vân vào những tháng đầu năm như thế này nhìn hoa rơi kín đất, lòng cảm thấy bùi ngùi. Chúng con không thể nào quên được hình ảnh Thầy vào những năm đầu khai sơn xây dựng với chiếc gậy hơi nghiêng trên tay, nón lá hơi nghiêng trên đầu, dáng đứng hơi nghiêng vì ở độ dốc cao. Da rám nắng, mồ hôi nhễ nhại. Tuy mệt mỏi lắm nhưng Thầy vẫn cười thật vui khi có khách viếng và những lúc chúng con về thăm như ký thác vào mọi người, tất cả tình thương và tương lai rạng rỡ.

Thầy là hơi thở lẫn không gian
Là cả tình thương tận suối ngàn
Là cả cuộc đời cho hậu thế
Ngàn năm âm hưởng vẫn ngân vang.
Hư không còn có ngày mòn,
Tấm gương Đức hạnh sắt son muôn đời.

Trước sự chứng minh của chư Tôn tịnh đức nhị bộ Tăng – Ni, Ni chúng Hải Vân cùng tông phong chí thành thiết lễ trai tăng cúng dường chư Tôn đức chứng minh và hồi hướng Giác linh Sư trưởng Ân sư và đồng nguyện cầu được đầy đủ thắng duyên viên thành Phật sự, thế giới giảm bớt lửa binh, thiên tai, dịch họa, nhà nhà an cư, người người lạc nghiệp, phát khởi tín tâm vào chánh Pháp.

Nam mô Chứng minh Sư Bồ tát.

TKN. Như Nguyên