Cái gương kỳ diệu

139

  Tôi làm việc ở nhà trẻ đã mấy năm nay. Hàng ngày tiếp xúc với trẻ nhỏ hai, ba tuổi mà thấy vui, lại học được nhiều đức tính ở trẻ con, mới hiểu vì sao Thiện Tài phải lặn lội đi tìm các đồng tử mà học đạo.

Nhà tôi ở cách chỗ làm không xa nên tôi có thể bách bộ đến sở làm. Mùa Xuân bước chân nhẹ trên cỏ non, mùa Thu giẫm trên lá vàng; được dịp nhìn bốn mùa thay đổi mà quán cảnh vô thường, xét đời như giấc mộng.

Tôi còn nhớ một buổi trưa mùa Hạ, trời thật oi bức, tôi rảo bước trở lại sở làm sau giờ cơm trưa, mồ hôi lấm tấm trên trán. Khi bước vào trong, máy điều hòa không khí mát mẻ làm tôi dễ chịu hơn nhưng cảm giác dễ chịu kèm lẫn một chút gì xấu hổ vì tự nghĩ rằng: “Cái thân này cứ cầu an nhàn sung sướng thì biết đến bao giờ mới có thể đạo quên thân?”.
Giờ nghỉ trưa của trẻ em đã chấm dứt. Tôi và các bạn đồng nghiệp, mạnh ai nấy lo dẫn đám trẻ của mình về phòng. Nhóm tôi gồm sáu em, nhỏ nhất 12 tháng, lớn nhất hai tuổi rưỡi. Đối với tôi lứa tuổi này thật dễ thương. Tâm hồn các em như tấm gương trong, hồn nhiên tiếp nhận thế giới chung quanh, không phân biệt hay dở, tốt xấu, giàu nghèo, sang hèn. Sau mười lăm phút cho trẻ em giải lao với bánh ngọt và nước trái cây, nhóm tôi ngồi thành vòng tròn để sinh hoạt. Đây là giờ thích thú của các em. Các em đã sẵn sàng, tất cả đều im lặng chờ đợi những bài ca quen thuộc và vui tươi. Nhưng tôi chợt nghe một mùi “hỉnh hỉnh” khó ngửi. Tôi nghĩ thầm: “Tụi nhỏ thức dậy, mình đã lo xong phần vệ sinh cho tụi nó, vậy sao còn có mùi này?” Tôi xét lại tã của các em lần nữa, thấy không có gì. Tôi định bỏ qua nhưng mùi hăng hăng càng lúc càng khó chịu vì phòng lạnh và cứng. Tôi lại nghĩ: “Hay là giày của đứa nào giẫm phải phân?” Thế là tôi lật giày của từng đứa lên để xem; tất cả đều sạch sẽ đàng hoàng, duy chỉ có giày của một cô bé dính đen đen ở bên trong như dầu hắc. Tôi lột chiếc giày ấy ra, chùi rửa mãi đến sạch mới thôi.

Yên chí là đã trừ được mùi hôi, tôi ngồi lại vị trí cũ và bắt đầu mở nhạc. Nhưng mùi khó chịu ấy vẫn còn y nguyên, không bớt được chút nào. Tôi định đứng lên tìm chai nước khử mùi uế ấy, tình cờ nhìn xuống chiếc giày bên chân trái của tôi: Thì ra chính nó là “thủ phạm.”

Quý đạo hữu có thể đoán được cảm giác của tôi lúc ấy không? Thú thật, tôi xấu hổ vô cùng. Xấu hổ không phải vì vô ý giẫm bãi phân chó dơ bẩn bên đường đi mà xấu hổ vì không tự xét mình trước khi xét người. Chuyện gì xấu cứ lo đổ lỗi cho người, tưởng như mình là kẻ không làm điều gì sai quấy bao giờ!

Qua sự việc vừa kể trên tôi nhận ra điều này: có những lỗi rất nhỏ nhặt, tầm thường, tưởng rằng chỉ trẻ con hay những người thiếu căn bản mới phạm phải; nhưng thật ra nếu thành thật xét mình trong mỗi ý nghĩ, mỗi hành vi, chúng ta mới thấy rõ con người của mình. Càng tự cho mình cao cả, tốt đẹp là càng đi vào sự sa đọa mà không hay bởi vì cái tôi kiêu mạn sẽ che lấp tất cả những lỗi lầm sai quấy, làm sao tự thấy được để sửa mình?

Một tuần sau, nhân ngày rằm, như thường lệ, nhóm học Phật của chúng tôi cùng làm lễ Sám Hối. Sau buổi lễ, tôi kể lại câu chuyện này cho các đạo hữu nghe và kết luận:

– Hôm nay, trước bàn thờ Phật và trước mặt các đạo hữu, tôi xin thành tâm sám hối và nguyện rằng từ nay tôi không dám để ý tới lỗi lầm của người khác để phê phán, chỉ dám tự soi chiếu lòng mình, lo ngăn ngừa các lỗi quấy mà thôi. Khi tôi dứt lời, một đạo hữu lớn tuổi khe khẽ đọc:
– Mình hay chớ nên nói. Người dở chớ nên chê…
– Tôi nhớ bài đó dài lắm, đạo hữu có thể đọc hết được chăng?
– Tôi lớn tuổi rồi, trí nhớ lẩm cẩm lắm cô ạ, khi nào tôi nhớ ra, tôi sẽ chép cho cô. Để bù lại, sẵn dịp này tôi xin kể một câu chuyện cổ, rồi sau đó chúng ta sẽ thảo luận.

Ngày xưa có một chàng trai trẻ theo Thầy học đạo đã lâu. Chẳng những chàng thông suốt kinh luận mà còn tỏ ra đạo đức hơn hẳn các bạn đồng môn. Thấy đệ tử tài đức song toàn, vị Đạo sư hài lòng, nghĩ rằng mình có kẻ kế thừa xứng đáng. Để xét nghiệm lại một lần chót, vị Đạo sư truyền cho chàng xuống núi tiếp xúc với người đời và tìm cơ hội hoằng dương Chánh pháp. Trước khi chàng đi, vị Đạo sư trao cho một cái gương nhỏ và dặn:

– Đây là cái gương kỳ diệu, nó có thể soi rọi bên trong mỗi người. Thầy cho phép con tùy nghi sử dụng nó trong hai năm xuống núi.

Vị đệ tử cung kính nhận cái gương rồi đảnh lễ Thầy, từ biệt các bạn đồng môn rồi lên đường. Lòng chàng nôn nao vô cùng với sứ mạng lớn lao mà Thầy giao phó. Nhưng sự nôn nao pha lẫn nỗi lo sợ vu vơ. Chàng tự nghĩ: “Mình theo Thầy xuất gia từ thuở nhỏ, sống cách biệt với đời, nào có kinh nghiệm chi trong cuộc sống, chẳng biết mình có đủ bản lãnh để đối phó với đời và hoàn cảnh sứ mạng không?”

Ngẫm nghĩ một hồi, chàng ngồi xuống gốc cây nghỉ mệt, kín đáo lấy cái gương ra soi mặt. Gương hiện ra hình ảnh một vị Bồ tát sơ phát tâm, lòng đầy nhiệt huyết với trái tim đỏ thắm. Chàng cất gương và tự nhủ: “Dù trải qua tình cảnh nào, mình cứ giữ gìn Giới luật cho nghiêm minh thì ắt sẽ không bị vướng bụi trần.” Kinh có dạy rằng: “Người trì giới luôn luôn được thiện thần hộ pháp theo ủng hộ” vậy đâu có gì đáng lo!

Chàng trai cắm cúi đi một ngày đêm thì gặp một làng nọ. Tại đây, dân làng đang xôn xao vì một vụ án mạng mà kẻ tình nghi bị kết án một mực kêu oan, cứ đập đầu đòi tự tử. Động lòng trắc ẩn, chàng trai tìm cách xin gặp quan huyện. Nhìn cái gương, chàng biết quan huyện là người chánh trực. Chàng thành thật nói rõ về sự kỳ diệu của cái gương soi, rồi xin quan huyện xét lại vụ án lần nữa. Sau khi tận mắt nhìn thấy công dụng của cái gương, quan huyện đồng ý. Quả thật, khi dùng gương soi chiếu tù nhân, gương hiện ra một vòng nước trong veo chứng tỏ bị cáo là người vô tội. Vụ án được đình lại và chỉ trong vòng hai tuần lễ sau, thủ phạm được tìm ra.

Quan huyện trọng vọng người tài, mời chàng trai ở lại phụ lo chuyện quan đường. Chàng lưu lại đấy, vừa phụ việc cho quan, vừa truyền bá Phật pháp, tiếng thơm ngày một thêm lừng.

Trải qua nửa năm, thấy mọi việc đều tiến triển tốt đẹp, chàng từ giã quan huyện để đi chỗ khác. Chàng đến một phố chợ đông đảo, tấp nập. Ở đó, đa số thị dân đều sống bằng nghề buôn bán. Ai cũng chạy theo đồng tiền. Người dối trá, lừa lọc, gạt gẫm nhau không kể chi tình nghĩa. Trăm người chưa tìm ra được một kẻ hiền lương. Chàng trải chiếu làm thầy bói giữa chợ. Sau vài ba quẻ đúng phong phóc, thân chủ tìm đến ngày càng đông. Chàng dùng gương soi để biết tâm ý của mỗi người rồi nói điều nhân quả, khuyên bỏ dữ làm lành, lo tu hành sám hối để tránh tai họa. Những người tin tưởng vâng theo đều được ứng hiện điềm lành, còn ai ngang ngược, chê bai, phỉ báng đều bị lâm vào những tình trạng ngặt nghèo hoặc những tai ương đáng sợ.

Chỉ trong vòng năm ba tháng, dân chúng đều thức tỉnh, ai cũng lo ăn năn sám hối, sửa đổi lề lối làm ăn lại còn ngưỡng vọng Phật pháp, xây chùa đúc tượng, kính trọng ngôi Tam Bảo.
Việc này tới tay vị Tổng trấn. Quan Tổng trấn nghi chàng dùng bùa phép gì để quyến dụ dân chúng nên nhiều lần tra gạn. Khi lục xét các vật dụng tùy thân thì tìm ra cái gương soi lấp lánh ngũ sắc. Sợ bị tịch thu bảo vật, chàng phải thú nhận mọi chuyện với quan. Quan Tổng trấn vốn dòng họ với nhà vua; ông đang lo âu vì trong triều đình hiện có bọn nịnh thần phối hợp với gian thần âm mưu phản loạn. Ông liền tiến cứ chàng vào triều để giúp vua phân định rõ kẻ chánh tà hầu giữ vững cơ đồ vương quốc. Chỉ sau vài lần thử tài, vua trọng vọng chàng ngay.

Những khi lâm triều, vua truyền chàng ngồi sau trướng gấm để soi xét từng người. Chẳng những vua mà chính chàng cũng thích thú với công việc xem mặt trái của mọi người. Biết rõ mặt trái của họ nhìn họ đóng kịch mới thật là thú vị. Nhờ gương thần, chàng giúp vua tiêu trừ đám phản loạn trong một thời gian ngắn. Vua lại càng nể trọng, phong cho tước Hầu. Đi đâu vua cũng muốn có chàng tháp tùng để hai người kín đáo thưởng thức trò chơi “xem mặt trái” của thiên hạ.

Thấm thoát đã hai năm kể từ ngày chàng xuống núi. Nhớ lại lời dặn của Sư phụ, nhớ lại chí nguyện xuất thế gian, chàng xin phép vua trở về núi. Nhà vua hết sức van nài mong chàng lưu lại giúp vua và cùng hưởng vinh hoa phú quý nhưng chàng tự nghĩ: “Công danh là vòng trói buộc; mạng người ngắn ngủi, nếu không lo dụng công tu tập, cứ mãi chạy theo trần cảnh thì khi nhắm mắt xuôi tay lại bị lôi cuốn vào vòng quay tít của bánh xe sinh tử luân hồi, biết bao giờ thoát ra được?”

Thấy ý chàng khăng khăng, vua biết không nài ép được, chỉ xin chàng cho biết nơi ẩn tu, phòng khi cấp kíp, vua sẽ triệu thỉnh.

Buông bỏ hết cân đai áo gấm, chàng mặc lại bộ nâu sồng ngày nào, đeo túi vải trên vai rồi lẳng lặng rời cung điện của vua vào một đêm trăng sáng. Chàng bước đi thật chậm rãi, lòng nghe lâng lâng thoát tục. Tự nghĩ trong hai năm qua, chàng đã làm được biết bao điều ích nước lợi dân. Chàng đi đến đâu là những kẻ gian ác phải xếp giáo quy hàng, cải tà quy chánh vì không thể trá hình lường gạt được nữa.

Một chút gì tự hào dâng lên trong tâm tưởng: “Chắc Sư phụ sẽ khen ngợi chàng không ít”. Nhưng xưa nay Sư phụ chưa từng khen các đệ tử bao giờ. Ai làm Sư phụ vừa ý người chỉ lẳng lặng làm thinh. Ai làm điều sai quấy, người áp dụng thanh quy thật nghiêm túc. Chàng lại nhớ tới các bạn đồng môn. Chẳng biết trong hai năm qua, các huynh đệ có ai tiến vượt bậc như chàng trước kia chăng? Chàng trẻ tuổi, hạ lạp lại chẳng thâm niên như các huynh đã tu học hơn phân nửa đời người, nhưng ai cũng công nhận trí huệ của chàng đã khai mở một cách lạ kỳ. Chẳng những kinh sách Đại thừa đã đọc qua chàng đều thông suốt mà các kinh luận Tiểu thừa dù chưa từng được nghe giảng dạy, chàng cũng có thể trình bày rõ ràng, khúc chiết nếu có ai hỏi đến. Ai cũng ví chàng như Thần Tú thuở xưa.

Bây giờ, sau hai năm lập công bồi đức, va chạm vào cuộc đời mà chẳng nhiễm mùi đời, chàng tự thấy hài lòng: “Chắc mình đã bước vào một nấc thang nào đó trong Thập Địa. Có thể là Ly Cấu Địa chăng?” Ờ nhỉ, tại sao ta không soi vào gương để biết mình đã tu tiến ra sao? Thế rồi chàng ngồi xuống phiến đá ven đường, trịnh trọng lấy cái gương ra. Qua ánh sáng của vầng trăng rằm, chàng nhìn vào gương. Thật là kỳ quái, tại sao gương lại hiện ra hình một con quỷ? Chàng không tin vào mắt mình, sao lại thế nhỉ? Chàng định thần nhìn lại lần nữa, quả đây là hình ảnh một con quỷ, nhưng nó được trang sức lộng lẫy và oai nghiêm như một vị thần, đúng là một loại A tu la.

Cái gương này chàng sử dụng đã hai năm nay, chưa một lần sai sót, chàng không thể phủ nhận công năng của nó. Thế thì tâm địa chàng là loài quỷ chăng? Chàng đâu đến nỗi tệ hại như vậy! Chàng tự kiểm điểm lại mình: từ khi xuống núi chàng vẫn giữ gìn Giới luật không hề dám buông lung; ý nguyện “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh” vẫn đeo đẳng trong lòng, thế thì tại sao chàng lại sa rớt vào đường dữ? Rồi nghĩ đến lúc gặp lại Thầy bạn, chàng càng bối rối hơn. Chàng nhớ đến đôi mắt của Sư phụ; đôi mắt Người sáng quắc, hầu như có thể soi thấu tâm can của Người đối diện, khó ai dám che giấu điều gì khi đứng trước mặt Người. Nhưng tự xét mình chưa làm điều gì sai quấy đáng hổ thẹn, chàng lấy lại lòng tự tin và nôn nóng trở về thiền môn để ra mắt Sư phụ và xin Người giải bày cho tỏ tường mọi việc.

Trải qua năm sáu ngày đường, ngọn núi thân yêu đã trong tầm mắt. Quên cả mệt nhọc, chàng rảo bước nhanh hơn và khi bước vào cổng tam quan có đề ba chữ “Trúc Lâm Tự”, chàng loáng thoáng thấy bóng dáng Sư phụ sau hòn non bộ Lô Sơn. Mừng mừng, tủi tủi, chàng tiến đến phủ phục dưới chân người, kín đáo lau những giọt lệ nóng đang trào tuôn.
Sư phụ xoa đầu chàng rồi dịu dàng nói:

– Khen con khéo trở về! Thôi con hãy vào nghỉ ngơi cho lại sức. Ngày mai Thầy họp chúng, con sẽ có dịp trình bày mọi việc.
Chàng ngần ngừ:
– Nhưng con có một việc quan trọng cần thỉnh ý Thầy, con có thể hầu chuyện với Thầy trước được chăng?
Sư phụ nhìn chàng giây lâu rồi chợt hỏi:
– Con vẫn thường soi gương chứ?

Câu hỏi có âm vang hùng dũng như hồi chuông trống Bát Nhã. Nó vang dội vào tận tâm hồn làm chàng thức tỉnh biết bao! Chàng nhớ lại trước đây, trong những khi chàng và các huynh đệ sắp sửa tọa thiền, Sư phụ luôn luôn nhắc nhở: “Phật tại tâm. Tâm mỗi người là tấm gương sáng soi tỏ hết vạn tượng mà không lưu lại một tì vết nào. Mỗi ngày, mỗi phút, mỗi giây, hãy soi mình trong tấm gương ấy, đừng phóng tâm ra ngoài để rồi quên giác tánh sẵn có của mình. Đừng phán đoán so đo để rồi bị vướng mắc vào trong sự phân biệt. Hãy tự xét mình, đừng xét người”.

Lĩnh hội ý Thầy, chàng im lặng cúi đầu lui vào trong. Sau khi thăm hỏi, chào mừng các bạn đồng môn, chàng tắm rửa sạch sẽ rồi đến trước chánh điện thắp nén hương chân thành sám hối:

– Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Trong hai năm xa Thầy xuống núi, con ngỡ rằng đã tạo được nhiều công đức lợi sinh nhưng nào ngờ con đã quên mất nguồn tâm giác tánh đến nỗi sa rớt vào đường dữ. Mỗi ngày thay vì tự dụng công hồi quang phản chiếu hầu thể nhập tự tâm, con lại trở ngược tấm gương thần, ngao du trong thế giới cuồng si ngã mạn. Càng thấy lỗi của người, tâm con càng chất ngất kiêu căng, sự kiêu căng của loài A tu la, lúc nào cũng thấy mình hơn kẻ khác. Hôm nay một dạ chí thành, con đối trước đấng Thế Tôn, nguyền xin sám hối.

Chàng quỳ như thế rất lâu, chẳng biết bao nhiêu thời khắc đã trôi qua mà không hề cảm thấy mệt mỏi. Mãi đến khi có tiếng Sư phụ cất lên như an ủi, như vỗ về:

– Con vẫn còn thức đấy ư?
– Bạch Thầy, con vừa sám hối!
– Tội vốn tánh Không, khéo về là được!
Chàng sụp lạy:
– Bạch Thầy, may mà kẻ lãng tử kịp thức tỉnh và biết đường về…

Vị Đạo hữu dứt tiếng đã lâu mà cả phòng vẫn còn ngồi im lặng. Câu chuyện đi sâu vào tâm thúc của từng người. Hầu như ai cũng cảm thấy mình đều có phạm vào lỗi chê bai, phỉ báng, không nhiều thì ít. Chẳng ngờ lỗi lầm nhỏ lại gây tác hại to! Mãi một lát sau, mới có tiếng cất lên, giọng đầy e dè:
– Ở thế gian này kẻ xấu nhiều hơn người tốt. Nếu thấy người xấu ác mà mình cứ lẳng lặng làm ngơ không góp ý sửa sai thì xã hội loài người sa sút về phương diện đạo đức.
Một người khác tiếp lời:

– Như vậy im lặng làm ngơ có phải là thái độ thụ động, thiếu trách nhiệm chăng?
Vị đạo hữu lớn tuổi từ tốn trả lời:
– Theo thiển ý vấn đề là nói hay không nói, sửa sai hay không sửa sai. Chúng ta rất nên góp ý xây dựng người chung quanh nhưng cũng phải cẩn thận tự xét mình khi làm việc ấy. Nếu chúng ta chỉ thích nói xấu người cho thỏa mãn lòng ghen ghét hay tìm lỗi chê bai người để củng cố tánh kiêu mạn thì không nên. Như chàng trai trẻ tuổi kia dùng gương thần để thấy lỗi người rồi sinh tâm khinh rẻ và tự củng cố tánh kiêu mạn nên lần lần lìa xa Chánh đạo. Tuy rằng việc làm của chàng ta cũng ích lợi cho đời. Trái lại, nếu dùng tấm lòng từ bi để quan sát sự sai trái của người rồi tìm phương cách khéo léo để xây dựng cho người thì thật là tự lợi, lợi tha.

Nếu căn cứ vào Tứ vô lượng tâm để phân biệt thì sự phân biệt đó lại trở thành vô phân biệt, vì chúng ta không bị vướng mắc vào sự thấy biết của mình. Hãy cùng nhau chiêm nghiệm thử xem!

Rồi ông cười cười, pha trò:
– Tôi xin quý vị làm chứ tôi chưa làm được đâu.
Nói thì dễ chứ làm thì khó lắm phải không các bạn?

Bích Thu