Cách tiếp cận Phật giáo về giáo dục Mầm non

25

  Hiện nay, giáo dục Mầm non là một vấn đề khá nhạy cảm của xã hội, như là giáo viên bạo lực, hành hạ và quấy rối trẻ em bị xã hội lên án, phụ huynh khởi tố, khiếu nại về mặt pháp luật…, nhưng vấn đề quan trọng nhất là tỉ lệ trẻ em vi phạm pháp luật ngày càng gia tăng.

Tờ báo Lao động ra ngày 06/11/2017, Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày báo cáo trước Quốc hội công tác phòng ngừa, chống tội phạm và vi phạm pháp luật năm 2017. Cụ thể, trong năm 2017, cơ quan Công an đã lập hồ sơ đưa đi giáo dưỡng 20.279 trường hợp, tăng 6.276 trường hợp so với 2016.
Điều này cho thấy con người đang bị suy đồi về các vấn đề của xã hội như ma túy, mại dâm, bạo lực…, chạy đua theo thời đại bỏ quên chính bản thân, phẩm chất của một con người, quên mình là một thành viên, một thành tố phải giúp ích cho đất nước xã hội, để rồi buông tay cứ theo cái mới cái lạ, để rồi thế giới chỉ sống trong ảo ảnh mà không trân trọng phút giây hiện tại khi ở bên nhau.
Thực tế, những hành vi phạm tội ở tuổi vị thành niên nguyên nhân trực tiếp tác động một phần là do không được giáo dục tốt, thiếu nhận thức đúng đắn, không phân biệt được phải – trái, đúng – sai.

Nhằm giải quyết những vấn đề này thì áp dụng những lời Phật dạy sẽ hiệu quả nhất. Lời Phật dạy rất rộng lớn, không giới hạn về không gian, thời gian, trình độ học vấn, độ tuổi, sang hèn, nghề nghiệp…

Từ khi Đức Phật được Đản sanh – Thành Đạo – thuyết Pháp – Nhập diệt, thời gian trải qua hơn hai ngàn năm trăm năm, Ngài đã để lại cho nhân loại Ba Tạng Kinh đồ sộ mang đầy tính luân lý, triết lý, đạo đức, nhân văn… sâu sắc và thực tiễn.

Trước tiên, tìm hiểu về giáo dục Phật giáo khi ứng dụng cho thiếu nhi thì không ai không thể nghĩ đến bốn trường hợp nhỏ không thể xem thường (Tứ tiểu bất khả khinh). Theo Kinh Tạp A Hàm quyển 46, Tứ bất khả khinh nghĩa là:

Thái tử tuy nhỏ, nhưng sẽ làm quốc vương, bậc chẳng thể khinh thường.
Rắn con tuy nhỏ, nhưng nọc độc có thể làm chết người, loài chẳng thể khinh thường.
Tia lửa tuy nhỏ, nhưng có thể đốt cháy núi rừng đồng cỏ, thứ chẳng thể khinh thường.
Sa di tuy nhỏ, nhưng có thể thành bậc Thánh, tuyệt đối không thể coi khinh.

Điều này chứng minh rằng trẻ em hôm nay sẽ là rường cột cho thế giới mai sau, giáo dục trẻ em là đầu tư một cách khoa học và đúng đắn nhất của các nhà giáo dục.

Giáo dục trẻ em là rất quan trọng, giúp trẻ hoàn thiện nhân cách một cách toàn diện, trẻ là những búp măng của Tổ quốc, là nguyên khí của quốc gia, cần được chăm sóc, uốn nắn khi còn nhỏ, giống như uốn tre từ thuở còn măng (tre mà thẳng thì có nhiều công dụng và giá trị cho con người).

Dạy trẻ bằng cách ứng dụng Phật pháp qua những câu chuyện Tiền thân của Phật (Jātaka), chuyện cổ Phật giáo, chuyện Đức Phật dạy La Hầu La… đó là những câu chuyện giúp trẻ phát triển về nhận thức, tình cảm xã hội và có kỹ năng sống tốt trong mọi hoàn cảnh.
Sau đây sẽ ví dụ phân tích về các phương pháp giáo dục khi Đức Phật dạy La Hầu La thời Phật tại thế và các phương pháp trong giáo dục mầm non hiện nay có những điểm tương đồng như thế nào?

Theo Chương trình Giáo dục Mầm non 2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, phương pháp giáo dục gồm có:

– Nhóm phương pháp thực hành, trải nghiệm;
– Nhóm phương pháp trực quan – minh họa;
– Nhóm phương pháp dùng lời nói;
– Nhóm phương pháp giáo dục bằng tình cảm và khích lệ;
– Nhóm phương pháp nêu gương – đánh giá.

Các phương pháp hiện nay đều đã được Đức Phật sử dụng dạy cho La Hầu La trong Trung Bộ Kinh, tập 2, 61. Kinh Giáo Giới La Hầu La ở Rừng Am Bà La (Ambalaṭṭhikārāhulovādasuttaṃ) (tương đương Kinh Trung A Hàm, Kinh La Hầu La).
Trong văn bản kinh, Đức Phật đã đưa ra đồ vật chậu nước minh họa trực tiếp cho trẻ thực hành quan sát và trải nghiệm là tạo tình huống kích thích trẻ tự nguyện ham tìm hiểu, thích tìm tòi khám phá, hứng thú hoạt động, nhằm giúp trẻ phát triển giác quan, nhận thức, tư duy. Ngài cũng dùng lời nói để đàm thoại, đặt câu hỏi với trẻ, giải thích, trò chuyện về các tình huống diễn tiến của các ví dụ được đưa ra minh họa. Sau đó, Đức Phật cũng đã giáo dục bằng tình cảm và nêu gương, đó là khích lệ La – hầu – la bằng lời nói về những điều tốt cần làm và phát huy, điều xấu thì không nên làm, không nói láo dù chỉ là đùa giỡn. Ngài không sử dụng hình phạt để làm ảnh hưởng đến sự phát triển về tâm – sinh lý của trẻ.
Bài kinh này mang tính giáo dục cao về những vấn đề tất yếu phù hợp với quy luật vận động và sự phát triển của lịch sử nhân loại. Chính là, thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau những hiểu biết, những kiến thức, những kỹ năng sống, những kỹ năng sinh tồn, những phẩm chất đạo đức, những kinh nghiệm…, thế hệ sau lĩnh hội, tiếp nhận và kế thừa, cũng có nghĩa là trực tiếp đào tạo nhân tài, đào tạo nguyên khí cho quốc gia, đào tạo những nhân tố nhân sự góp phần quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội.

Kế tiếp tìm hiểu về giáo dục của Phật giáo qua đối tượng là giáo viên và phụ huynh.
Người lớn nếu được học và thực tập về các pháp Thiền định như Tứ niệm xứ (Satipatthāna sutta), Tứ vô lượng tâm (Kinh Ví Dụ Tấm Vải, “Biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi… (như trên)… với tâm câu hữu với hỷ… (như trên)… biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân) và bốn hạng người trong bộ Nhân chế định ở Tạng Thắng Pháp Tập Yếu Luận (tạng Abhidhamma, tương tự Kinh Tăng Chi Bộ 2, XI. Phẩm Mây Mưa, bốn hạng người, giống như bốn cảnh chuyển mưa (valāhakā): Sấm mà không mưa, mưa mà không sấm, có sấm có mưa, không sấm cũng không mưa). Bộ nhân chế định là bộ đưa ra những quy định được đặt ra để phân tích kỹ lưỡng chi tiết về con người. Đây là một bộ luận rất thực tiễn và quan trọng cho mọi người, cũng là kim chỉ nam giúp mọi người tu tập hướng đến cuộc sống cao thượng, tốt đẹp.

Tất cả các bài kinh trên đều có mục đích giúp giáo viên và phụ huynh định tĩnh thân tâm, quán chiếu hơi thở, chánh niệm, không khởi phiền não, đoạn diệt tham, sân, si. Với tinh thần Tứ Vô Lượng Tâm, người giáo viên sẽ không nề cực nhọc, với tinh thần từ bi hỷ xả, vô ngã, quán bất tịnh đã dấn thân chăm sóc, kiên nhẫn, yêu thương nuôi dạy thế hệ trẻ và họ cũng có nhận thức và tầm nhìn nhạy bén, tinh tế, phát hiện kịp thời những bất cập cũng như những điều tốt đẹp.

Nếu giáo viên và phụ huynh thực hành theo hạng người vừa nói vừa làm, là người tốt, có tự tin tạo được niềm tin và sức ảnh hưởng đến mọi người xung quanh, đáng được sự tôn trọng và kính nể của mọi người, tạo được uy tín, là mô phạm, là tấm gương sáng cho mọi người noi theo, chắc chắn con đường sự nghiệp thuận lợi, chắc chắn đem lại hạnh phúc, an lạc cho mọi người.

Huệ Ngọc



  1. Đại sư Tinh Vân, Nguyễn Phước Tâm dịch, 2015, Phật giáo và thế tục, NXB. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 47.
  2.  Thích Minh Châu dịch, 2005, Kinh Giáo giới La Hầu La ở rừng Ambala, Trung Bộ Kinh, Tập 2, NXB. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 171 – 182.
    – Kinh Hán Tạng tương đương là La Vân Kinh (Đại 1.436a).
    – Kinh này được ghi trong bia đá của vua Asoka trong (là) những kinh các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ cần phải tụng đọc.
    – Thích Minh Châu dịch, 1974, Kinh Tạng Pāli, Bộ II, Trung Bộ Kinh, Tập II, Pāli – Việt đối chiếu, Ban Tu thư – Viện Đại học Vạn Hạnh, tr. 419B.
  3. Tuệ Sỹ dịch, 2009, Kinh La Hầu La, Trung A Hàm 1, NXB. Phương Đông, tr. 119 – 128.
  4. Thích Minh Châu dịch, 2005, Kinh Niệm Xứ, Trung Bộ Kinh, Tập 1, NXB. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 131 – 150.
  5. Thích Minh Châu dịch, 2005, Kinh Niệm Xứ, Trung Bộ Kinh, Tập 1, NXB. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 131 – 150.
  6. Thích Minh Châu dịch, 1996 Phẩm Mây Mưa, Tăng Chi Bộ 2, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, tr. 9.