Bước chân ngày ấy – Bây giờ

4

HĐ  Thuyền đi xa thương dòng sông vĩnh cửu
Cùng theo mây nhớ mãi bến đò xưa…”

Phải chăng đây là ý thức hoài niệm một thời vang bóng xa xưa: Đức Phật – Tăng đoàn Tổ Kiều Đàm và chư vị Thánh Ni.

Chiêu đề Tăng, một cộng đồng Tỳ kheo không định cư lâu dài tại bất cứ một trú xứ nào. Thời Đức Phật, Tăng đoàn đầu tiên trong du hóa, hoằng đạo gồm năm vị A la hán, tức nhóm năm anh em Kiều Trần Như. Sau đó, có nhóm Da Xá và thân hữu đồng quy mạng xuất gia tu đạo cộng tất cả được 55 người.

Sau khi chứng đắc địa vị Thánh quả tu học, Đức Phật khiến họ lên đường đi hoằng hóa và đây là hình thức Chiêu đề tân Tăng cộng đồng đầu tiên, những vị này đời sống giản đơn theo nội quy Tứ Thánh chủng dòng họ Phật:
– Bình bát khất thực độ nhật.
– Ba y phấn tảo che thân.
– Ngủ đêm ở gốc cây hay hang động, gò mả…
– Sống đời phạm hạnh, không gia đình.

Xa xưa qua tháng năm, sự phát triển lớn mạnh của giáo đoàn, các Tịnh xá do vua, Phật tử tại gia phát tâm được xây cất hoành tráng đã bắt đầu cho các Tỳ kheo thường ở lâu tại một trú xứ. Cũng từ dấu ấn này, mà sự phân biệt giữa Chiêu đề Tăng và Thường trú Tăng được hình thành ngay thời Phật còn trụ thế.

Theo Luật tạng, cộng đồng Thường trú Tăng luôn phát triển theo thời gian, bên cạnh đó sự linh hoạt sai biệt về khí hậu, kinh tế, sự di chuyển khó khăn mỗi khi về Đức Phật trình bày các công tác Phật sự…, đã đưa đến các hình thức chia nhỏ Tăng đoàn để thuận duyên hóa đạo và không mất thời gian của Tăng chúng trong những ứng xử quy luật Thiền môn.
Trong chiều hướng thuận và nghịch về tư tưởng hoằng đạo, lối sống và những sinh hoạt tương đồng hoặc dị kiến đã đưa đến nhiều hệ phái khác nhau xuất hiện và Luật tạng giữa các bộ phái cũng ra đời, chắc chắn sự việc sẽ đưa đến nhiều mâu thuẫn, rối ren cho Tăng đoàn không nhỏ.

Thời Phật, Chiêu đề Tăng với nếp sống A lan nhã, núi rừng cô tịch, ẩn dật tu hành miên mật theo bốn sở y làm tôn chỉ. Dần về sau do sự chia nhỏ của Tăng đoàn và Thường trú Tăng có nhiều cơ sở mở rộng, từ ấy, nhiều thể chế khác nhau đã an bài và hạn chế sự du hóa khất thực. Tăng đoàn càng về sau càng nghiễm nhiên bám trụ tạo cho mình dốc sinh tồn tự cung nhiều hơn, đương nhiên không phủ nhận sự trợ duyên quá lớn của đàn na tín cúng, nhưng không quên sự nỗ lực của chính mình là yếu điểm.

“Chén cơm tín thí ngày thêm nặng
Học hành chuyên tu nguyện đáp đền”.

Ngày nay, qua dòng lịch sử dấu mòn muôn thuở bước chân xưa vẫn đậm đà dấu chân tiến đạo:

“Đừng đánh mất muôn ngàn vì tinh tú
Để địa cầu có được ánh trăng lên
Khi về đêm lấp lánh dọi bên thềm
Ai níu được cánh thời gian đang chảy”.

Vâng! Những bước chân Kiều Đàm Ni Tổ và chư vị Thánh Ni thời ấy đã nện đều khắp lối, từ đường làng sỏi đá gai chông, dặm ngàn xa tít trên bãi cát sa mạc mênh mông, nắng lửa, gió lùa bào mòn thân xác, chân rướm máu, y áo lả tả lấm bụi ven đường, núi rừng cũng chơ vơ, cây cối ngả màu say nắng đỏ… nhưng họ chưa bao giờ khô máu Phật đà, nhuệ khí và kiên định không nhạt nhòa cùng sông băng núi lở.

Dù tờ lịch đã sang trang, thời gian xóa mòn bao năm tháng, lằn mức phát triển văn minh hiện đại giúp chúng ta sinh hoạt tiện lợi, chính xác và nhanh chóng trong từng dữ kiện, điện đàm, di chuyển siêu tốc… chắc chắn còn nhiều cơ duyên đẩy đà nếp sinh hoạt tiện ích đời thường. Từ đó, Chùa hay Tịnh xá trong hướng dẫn tâm linh cho Phật tử nhân sinh cũng cần có tinh thần thách thức và biện chứng.

Sự phát triển nhanh chóng mọi mặt của xã hội, nếu không có chuẩn mực về văn hóa, không nâng tầm đạo đức, không trau dồi trách nhiệm, lương tâm… Chừng ấy thôi, nếu không kiên trì thực hiện, cá nhân chủ nghĩa sẽ mở lối sai đường, nhiều tệ nạn khác tòng sanh biến con người nô lệ vào máy móc, tiêu xài lãng phí, xa hoa, không còn thuốc chữa, biến chúng ta tự vong thân, thảm khốc, mịt mờ lối quỷ, Niết bàn muôn thuở không có lối về.

“Hãy tinh tấn lên các con!” Đây là lời dạy cuối cùng của Đức Phật, giải thoát và thanh tịnh không thể đạt dưới sự nỗ lực của cá nhân. Càng hiểu về nghiệp lực chúng ta càng cẩn thận trong mọi hành động, lời nói, tư tưởng để tránh những việc làm thiếu suy nghĩ, không trí tuệ vô tình của mỗi cá nhân dẫn đến nguy vong cả chúng hội, Tăng đoàn, quốc gia dân tộc, thế nên, “uốn lưỡi bảy lần trước khi nói” quả là tinh khôn ứng xử của bậc cha ông.

Chúng ta hãy nghe lại câu nói này của các bậc tiền nhân, để có lúc giật mình tỉnh ngộ trong mọi chiều hướng tu hành, hoằng pháp, nghiêm túc trong đối tác với cộng đồng xã hội.
“Cước cân bất trước địa – Nhi hành tẩu tứ phương”, thật là nguy hiểm cho những ai được định nghĩa theo hạng người này.

Lý tưởng của người có đạo lý là lối sống đơn giản và khiêm tốn, một cuộc đời không bị vướng mắc bởi mục tiêu, vật chất, cần kiệm và tri túc để trau dồi tinh thần, nghị lực, luôn hướng mưu cầu lợi ích cho chính mình và nhân loại qua ý niệm: “phục vụ chúng sanh là cúng dường Chư Phật”.

Bước chân ngày ấy xa xăm
Bây giờ giác ngộ thành tâm quay về
Bước chân ngày ấy não nề
Bây giờ tỉnh mộng nguyện về Tịnh bang.

TKN. Như Như