Bức tranh thứ tám Người trâu đều quên

7

  Mưa từng giọt khẽ rơi bên thềm, những bong bóng nước vỡ tan khi chạm xuống đất. Con người đến một lúc nào đó, khi đã giác ngộ lẽ thật ở đời, cũng phải buông bỏ những kiến chấp, phiền não như những bong bóng nước kia.

Lời dẫn

“Phàm tình rơi rớt sạch, Thánh ý thảy đều không. Chỗ có Phật cũng chẳng được dừng ở, chỗ không Phật chạy nhanh qua. Chẳng kẹt ở hai đầu ngàn Thánh khó dòm thấy. Trăm chim ngậm hoa, một phen hổ thẹn.”

Lời bình

Hoa sen muôn đời nay luôn là biểu tượng của sự thanh khiết, trong sạch. Tuy nó mọc ở trong bùn mà không tanh hôi, vẫn tỏa hương thơm ngát, có điều gì hòa lẫn giữa bùn và hoa mà ta không biết, phải chăng:

“Phàm tình rơi rớt sạch, Thánh ý thảy đều không”.

Đến giai đoạn này thì tất cả tình phàm, chấp trước, si mê, ích kỷ, tham lam đều rơi rớt sạch, cho đến Thánh ý cũng không còn sót lại, là một vòng tròn sáng ngời, không còn vọng cũng chẳng còn chân. Chân – vọng cả hai đều bặt, người – trâu cả hai đều quên.

Có một số người thấy cõi Ta Bà có nhiều uế trược, khổ đau, nên mong cầu tu hành để đến với thế giới Cực Lạc (nơi có sự an vui, tịnh lạc). Đây tuy là ý niệm tốt, nhưng vẫn còn vướng kẹt vào hai bên đối đãi: Ta Bà khổ đau (Phàm) và Cực Lạc an vui (Thánh). Họ chưa biết rõ thế nào là chân hạnh phúc. Thế giới Cực Lạc ở đâu? Thế giới Cực Lạc không phải là nơi chốn, nó chính là tự tâm thanh tịnh sẵn có nơi mỗi người, khi không nghĩ thiện – ác, tốt – xấu, hơn – thua, phải – quấy, sống được như thế là đang sống trong thế giới Cực Lạc, chẳng cần phải tìm kiếm đâu xa? Đạo Phật rất hiện thực. Nếu trong hiện tại chúng ta không có được an lạc, hạnh phúc liệu tương lai có được chăng? Để làm sáng tỏ ý nghĩa này, hãy cùng ôn lại pháp ngữ của Lục Tổ Huệ Năng.

Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, có ghi lại:
Vi Thứ Sử thưa hỏi với Lục Tổ rằng:
– Đệ tử thường thấy Tăng, tục niệm Phật A Di Đà, nguyện sanh Tây phương, thỉnh Hòa thượng nói, được sanh nơi cõi kia chăng? Nguyện vì phá cái nghi này.
Lục Tổ bảo:
– Sử Quân khéo lắng nghe, Huệ Năng sẽ vì nói. Thế Tôn ở trong thành Xá Vệ nói Tây phương dẫn hóa, văn kinh rõ ràng cách đây không xa. Nếu luận về tướng mà nói, số dặm có mười muôn tám ngàn, tức là trong thân có mười ác và tám tà. Liền là nói xa, nói xa là vì kẻ hạ căn, nói gần là vì những người thượng trí. Người có hai hạng, nhưng pháp không có hai thứ, mê ngộ có khác, thấy có mau chậm. Người mê niệm Phật cầu xin về cõi kia, người ngộ tự tịnh tâm mình, sở dĩ Phật nói: “Tùy tâm tịnh liền được cõi Phật tịnh”. Sử Quân, người phương Đông chỉ tâm mình tịnh liền không có tội, còn người phương Tây tâm không tịnh cũng có lỗi. Người phương Đông tạo tội niệm Phật cầu sanh về phương Tây, còn người phương Tây tạo tội, niệm Phật cầu sanh cõi nào? Phàm ngu không rõ tự tánh, không biết trong thân Tịnh Độ, nguyện Đông nguyện Tây. Người ngộ ở chỗ nào cũng vậy, cho nên Phật nói: “Tùy chỗ mình ở hằng được an lạc”. Sử Quân tâm địa không có bất thiện thì Tây phương cách đây không xa. Nếu ôm lòng chẳng thiện, niệm Phật vãng sanh khó đến. Nay khuyên thiện tri thức trước nên dẹp trừ thập ác tức là đi được mười muôn, sau trừ tám điều tà bèn qua được tám ngàn, mỗi niệm thấy tánh thường hành bình trực, đến như trong khảy móng tay, liền thấy Đức Phật A Di Đà. Sử Quân chỉ hành mười điều thiện đâu cần lại nguyện vãng sanh, không đoạn thập ác thì Phật nào đón tiếp. Nếu ngộ được đốn pháp vô sanh, thấy Tây phương chỉ trong khoảng sát na. Còn chẳng ngộ, niệm Phật cầu sanh thì con đường làm sao đến được.

Như vậy, đã rõ biết Tây phương chỉ cho tự tâm thanh tịnh, chứ không phải là ở mười muôn ức cõi. Chỉ cần thực hành theo Bát chánh đạo (Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định) và hành mười điều thiện (Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói lưỡi đôi chiều, không nói lời thêu dệt, không tham, không sân, không si) mỗi niệm thấy tánh, thường hành bình trực tức đã sống trong Tây phương Tịnh Độ, chẳng cần phải nguyện cầu, niệm Phật để được vãng sanh.

Hãy nhớ lại xem Đức Thế Tôn thành đạo cũng ở cõi Ta Bà này, chư vị Tổ sư cũng ngộ đạo ở chốn này. Thế nên, chúng ta chớ nên đem tâm phân biệt, thấy đây là uế trược kia là an vui, cũng chớ lấy thiện mà bỏ ác. Hoa sen tuy ở trong bùn mà vẫn tỏa hương thơm ngát. Cõi Ta Bà này đâu chỉ có uế trược, khổ đau mà không có an vui, hạnh phúc? Tiếng cười vẫn tràn ngập khắp nơi, trên mọi nẻo đường, vạn dặm cuộc sống. Ngay cả khi ta tuyệt vọng nhất hãy nở một nụ cười, và điều diệu kỳ sẽ đến với ta trong từng phút giây.

Một hôm, Mã Tổ Đạo Nhất hỏi Thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm:
– Ngày gần đây, chỗ thấy của ngươi thế nào?
Thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm thưa:
– Da mỏng da dày đều rớt sạch chỉ có một chân thật.
Da mỏng da dày đều rớt sạch chỉ có một chân thật chỉ cho người công phu đã viên mãn. Thế nên, tất cả những phân biệt, đối đãi đều rơi rớt sạch, không còn một mảnh vụn, chỉ còn lại một chân thật. Đến đây, tất cả phàm tình đều rơi rớt sạch, ngay cả Thánh ý thảy đều không vướng kẹt, dính mắc.
“Chỗ có Phật chẳng được dừng ở, chỗ không Phật chạy nhanh qua”.
Có Phật – không Phật chỉ là một cách nói, nếu chấp vào đó sẽ kẹt vào hai bên có – không. Phật không có hình tướng làm gì có chỗ để trụ, ngao du hay chạy qua gấp. Cần phải “Vô sở trụ” mới thấy được chỗ này.

Người xưa đã dạy: “Chỗ có Phật chẳng được dừng ở, chỗ không Phật chạy qua nhanh”, còn chúng sanh ngày nay thì khác. Không những không chạy nhanh qua mà còn gấp gáp đi tìm. Khi nghe ở đâu có người tự xưng là Phật, Bồ tát thị hiện liền ùn ùn kéo đến. Những chúng sanh này thật cuồng tín, không hiểu biết về đạo Phật. Phật, Bồ tát đâu bao giờ tự xưng danh mình. Còn những người tự xưng thì biết đây không phải là Phật, Bồ tát thật, chỉ là giả dạng xảo trá để gạt người. Bởi vậy học đạo là phải học đến nơi, đến chốn, chớ có học hiểu qua loa, rồi bị người gạt.

Tổ Ưu Ba Cúc Đa đến nước Ma Đột La, Ngài cảm hóa rất đông dân chúng quy hướng Phật pháp, có nhiều người đã chứng đạo quả. Có những khi Tổ thuyết pháp, chư Thiên rải hoa, quả đất rúng động, khiến cung ma cũng bị chấn động. Vua Ma-ba-tuần sợ e Phật pháp thịnh hành thì bè đảng của chúng bị tiêu diệt, nên quyết dùng hết thần lực phá hoại Phật pháp. Ma bèn hiện các ngọc nữ đến làm nhiễu loạn tâm thính giả. Ngài liền nhập định để quán sát nguyên do. Được cơ hội thuận tiện, ma đem vòng chuỗi anh lạc quàng vào cổ Tổ. Xuất định, Tổ Ưu Ba Cúc Đa dùng thần lực biến ba thây chết: người – chó – rắn thành một tràng hoa đẹp. Tổ dùng lời diệu ngọt bảo ma:
– Ngươi sẵn lòng tốt đem chuỗi anh lạc rất quý tặng ta, giờ ta biếu lại ngươi tràng hoa đẹp này, gọi là thù tạc nhau.
Vua ma nghe rất mừng, đưa cổ nhận tràng hoa. Tràng hoa tròng vào cổ giây lát hóa thành thây thúi, dòi tửa ghê gớm. Vua ma kinh sợ gớm chán, muốn cởi ra mà cởi không được, dùng hết thần lực cũng không cởi nổi. Túng thế, vua ma chạy lên cõi Trời Dục cầu cứu với vua Trời, rốt cuộc không có kết quả. Lần lượt vua ma cầu cứu đến Trời Phạm. Vua các Trời đều bảo:
– Pháp ấy là do đệ tử các Phật biến hóa ra, chúng ta còn phàm lậu làm sao trừ được.
Vua ma nghe phán như vậy, liền hỏi:
– Thế thì làm thế nào gỡ ra?
Vua Trời nói kệ:

Âm:

Nhược nhơn địa đảo
Hoàn nhơn địa khởi
Ly địa cầu khởi
Chung vô kỳ lý

Nghĩa:

Nếu nhơn đất ngã
Phải nhờ đất dậy
Lìa đất muốn dậy
Trọn không lý ấy

Vua ma nhận lời dạy, rời khỏi cung Trời trở về chỗ Tổ Ưu-ba-cúc-đa chí thành lễ tạ sám hối. Tổ bảo:
– Thánh trước dạy ta hàng phục ngươi. Tuy vậy, nếu ngươi biết cải thiện là được thờ phụng Phật, khỏi sa vào đường dữ.
Vua ma nghe dạy vui vẻ thưa:
– Tôn giả vì con làm lợi ích lớn, cúi xin Tôn giả cởi vòng thây thúi cho giùm con.
Tổ dạy:
– Vậy ngươi phải quỳ gối chấp tay tự xướng ba lần quy y Tam Bảo.
Vua ma quỳ gối chấp tay xướng ba lần quy y Tam Bảo xong, thì vòng thây thúi biến mất. Vua ma vui mừng nhảy nhót đảnh lễ Tổ rồi nói kệ:

Âm:

Khể thủ tam muội tôn
Thập lực đại từ túc
Ngã kim nguyện hồi hướng
Vật linh hữu liệt nhược.

Nghĩa:

Cúi lạy chánh định tột
Đủ mười lực đại từ
Nay con xin hồi hướng
Chớ còn tánh yếu hèn.

Sau khi quy y Tam Bảo xong, Tổ bảo vua ma:
– Xưa ngươi thường thấy Như Lai, giờ đây thử hiện cho ta xem.
Vua ma thưa:
– Hiện việc xưa không khó, chỉ xin Tôn giả trông thấy đừng lễ.
Vua ma liền vào rừng ẩn mất. Chốc lát bỗng thấy Phật từ mé rừng đi ra oai nghi nghiêm chỉnh, theo sau đoàn Tỳ kheo 1.250 vị. Tổ vừa trông thấy, bất giác cúi mình đảnh lễ. Ma kinh hoảng biến mất.
Trong Kinh Kim Cang, Đức Thế Tôn có dạy: “Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai.” Nghĩa là nếu lấy sắc thấy Ta, lấy âm thanh cầu Ta. Người ấy hành đạo tà không thể thấy Như Lai. Nếu chúng ta nhìn vào sắc tướng cho rằng đó là Phật, thì sẽ bị lầm qua. Tương tự như câu chuyện trên Tổ Ưu-ba-cúc-đa chỉ thị hiện cho người đời sau biết được chớ có vội tin khi nhìn thấy sắc diện 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp liền cho đó là Phật. Vì ma có ngũ thông vẫn có thể biến hóa thành Phật để dối gạt mọi người. Phật chỉ cho tự tâm thanh tịnh, nó vốn sẵn có nơi tất cả chúng sanh. Phải khéo biết xoay lại chính mình để nhận ra được ông Phật của mình chớ nên hướng ngoại, tìm cầu làm chi. Thế nên, Thiền sư Thanh Cư bảo rằng: “Chỗ có Phật cũng chẳng được dừng ở, chỗ không Phật chạy nhanh qua”.
“Chẳng kẹt ở hai đầu ngàn Thánh khó dòm thấy”.
Khi không còn vướng kẹt vào hai bên thương – ghét, thiện – ác thì làm gì có chỗ khởi niệm. Đã không có chỗ khởi niệm làm sao nhìn thấy được, đến chỗ này ngàn Thánh cũng khó dòm thấy.
Thiền sư Bổn Tịnh có bài kệ rằng:

Âm:

Kiến văn giác tri vô chướng ngại
Thinh hương vị xúc thường tam muội
Như điểu không trung chỉ ma phi
Vô thủ vô xả vô tắng ái
Nhược hội ứng xử bổn vô tâm
Thị đắc danh vi Quán Tự Tại.

Nghĩa:

Thấy nghe hiểu biết không chướng ngại
Tiếng mùi vị chạm thường tam muội
Như chim không trung mặc tình bay
Không thủ không xả không thương ghét
Nếu hội mỗi nơi vốn không tâm
Mới được tên là Quán Tự Tại.

Phải thực sự sống với tâm không, không nhiễm ô, dính mắc, mới không vướng kẹt vào hai bên không thủ – không xả, không thương – không ghét, không được – không mất khi đối duyên, xúc cảnh tất cả thấy, nghe, hiểu, biết đều trong chánh niệm, tỉnh giác mới không bị chướng ngại, thì sẽ được tự tại, giải thoát.

Tâm lý của mỗi người rất phức tạp, luôn thay đổi không ngừng. Chúng ta hay bị trói buộc vào sự thương – ghét. Như khi thương một người nào đó thì thương ơi là thương. Dù người đó có làm điều gì sai cũng sẵn sàng bỏ qua, có đôi khi còn biện hộ giùm nữa. Nhưng đến khi không còn thương thì thật là thảm hại, liền rơi vào thái cực đối lập là rất ghét. Nếu như khi thương thì trái ấu cũng tròn, đến khi ghét rồi thì ghét luôn cả tông ti họ hàng, thật sự là ghét cay, ghét đắng, không còn gì để nói. Dù ở trạng thái thương hay ghét chúng ta đều khổ sở. Khổ vì thương và cũng khổ vì ghét. Nhưng không lẽ cuộc sống chỉ quanh quẩn trong sự thương – ghét hoài hay sao? Phải có một điều gì thanh thoát, siêu phàm để chúng ta nhận chân được giá trị của mỗi con người. Phải biết làm người ai cũng có ưu – khuyết điểm. Nếu như chỉ nhìn vào ưu điểm của người rồi sanh lòng yêu mến và khi nhìn thấy khuyết điểm thì sanh lòng ghét bỏ, có lẽ chúng ta sẽ khổ sở suốt đời. “Nhân vô thập toàn” phải có cái nhìn thoáng hơn. Khi thấy ưu điểm của người phải nên học hỏi, trau dồi, nhưng chớ sanh tâm đắm luyến, còn thấy khuyết điểm thì tự rút cho mình một bài học từ người, tránh những lỗi lầm mà người đi trước đã phạm, hãy giúp đỡ họ để ngày một hoàn thiện hơn, chớ sanh tâm ghét bỏ làm chi. Khi vượt qua những thường tình của thế gian, không vướng kẹt vào sự thương-ghét thì đời sống của mình thật nhẹ nhàng, thảnh thơi. Đến lúc này có thể duỗi thẳng hai chân mà ngủ, không còn bận tâm gì nữa. Chính điều này Lục Tổ Huệ Năng cũng đã dạy:

Yêu ghét chẳng bận lòng
Duỗi thẳng hai chân ngủ.
“Trăm chim ngậm hoa một phen hổ thẹn”.

Trăm chim ngậm hoa một phen hổ thẹn là muốn nhắc đến câu chuyện của Thiền sư Ngưu Đầu Pháp Dung.

Trước khi gặp Tứ Tổ Đạo Tín, Ngài tu pháp quán từ bi, lòng từ bủa khắp nên chim chóc thương, thường hái hoa trái đến cúng dường. Khi gặp Tứ Tổ Đạo Tín được Tổ chỉ dạy, Thiền sư Ngưu Đầu Pháp Dung buông hết kiến giải hai bên, tu một thời gian sạch hết mọi vọng niệm đối đãi, từ đó chim không còn cúng hoa trái nữa.

Thiền sư Ngưu Đầu Pháp Dung trước kia tu pháp quán từ bi, tức còn có chỗ dụng công, là còn có chỗ thấy tâm, nên chim chóc mới thấy được và thường hái hoa để cúng dường. Chư vị cổ đức thường dạy rằng: “Còn có tâm tìm toàn chẳng biết”, nếu như có tâm để tìm, để thấy tức chưa kiến tánh, chưa sống được với “chân tâm vô niệm”. Đến khi gặp Tứ Tổ Đạo Tín được Tổ khai thị, tu hành một thời gian sạch hết mọi vọng niệm đối đãi hai bên. Đến đây quả thật đã đi đến “Vô sở trụ”, “Chẳng khởi một niệm khắp tam thiên”, chỗ này là đã không còn dấu vết của tâm. Dù cho chim chóc có muốn hái hoa cúng dường cũng khó tìm thấy được.

Một người chân tu thường sống trong sự tĩnh lặng, chiếu soi, không để tâm duyên theo trần cảnh và cũng không khởi niệm lung tung. Bởi lẽ vọng tưởng là nguyên nhân của sự trói buộc, khổ đau.Hãy nhớ lại xem, tất cả những khó khăn, trở ngại đều do ta vọng tưởng quá nhiều, hết suy nghĩ thế này rồi suy nghĩ thế khác. Như những lúc huynh đệ không vui, giận hờn nhau. Đôi khi chúng ta muốn làm hòa, muốn nói chuyện lại, nhưng lại suy nghĩ không biết người đó hết giận chưa, có muốn nói chuyện với mình không, nếu mình nói chuyện mà người đó không trả lời thì quê lắm. Biết bao vọng tưởng đang chi phối, kéo lôi khiến cho mình không thể tỉnh táo, sáng suốt để giải quyết vấn đề. Quý Thầy thường chỉ dạy chúng con chớ khởi niệm, mình đi tu là quyết lau sạch những bụi bặm trong tâm, nên khi khởi niệm, không những không lau bụi mà còn bám thêm bụi. Nhất là khi phiền não, cần phải có được sự tịnh tâm, chớ nên suy nghĩ, vọng tưởng, nếu không như thế, cứ để niệm khởi liên tục, vọng tưởng chồng chất, dần dần sẽ làm thối tâm Bồ đề, khiến cho sự tu bị gãy đổ.
Chuyện kể rằng:

Hòa thượng Kim Bích Phong sau khi tỏ ngộ, buông hết mọi tham ái, chỉ thích một cái bát bằng ngọc chẳng rời tay. Mỗi lần trước khi ngồi thiền định, Sư đem cái bát cất kỹ gần bên mới an tâm. Có lần nhân tuổi thọ Sư đã hết, vua Diêm La sai quỷ sứ đến bắt Sư. Sư cũng biết thời đã đến, mỉm cười ngồi nhập định, xem vua Diêm La làm gì. Quỷ đến bên cạnh Sư, đợi một ngày, hai ngày không thể bắt Sư, bèn đi hỏi Thổ Địa. Thổ Địa bảo:
– Thiền sư Kim Bích Phong rất thích cái bát ngọc, nếu ngươi có cách đem cái bát ấy đi, Ngài động niệm sẽ xuất định.
Quỷ nghe nói, liền nhanh đến chỗ đặt cái bát làm nó lay động. Sư nghe tiếng cái bát động, động niệm liền xuất định, quỷ liền vỗ tay cười to:
– Hay đấy! Giờ đây, xin mời Ngài theo tôi đến gặp vua Diêm La.
Thiền sư Kim Bích Phong vừa nghe lời quỷ, biết rõ do tâm tham ái làm mất đi huệ mạng ngàn năm của mình, liền đập vỡ cái bát ngọc, nhập định trở lại và để bài kệ:
Âm:

Nhược nhân dục nã Kim Bích Phong
Trừ phi thiết luyện tỏa hư không
Hư không nhược năng tỏa đắc trụ
Tái lai nã ngã Kim Bích Phong.

Nghĩa:

Nếu người muốn bắt Kim Bích Phong
Trừ khi sắt luyện khóa hư không
Nếu hay khóa được hư không ấy
Trở lại bắt ta Kim Bích Phong.

Chỉ vì một chút tham ái, đắm luyến cái bát ngọc mà quỷ sứ thấy được tâm, thấy được chỗ động niệm. Nhưng Thiền sư Kim Bích Phong đã kịp tỉnh giác, biết được chỗ mống khởi làm mất đi huệ mạng ngàn năm của mình, nên đã nhanh tay đập vỡ cái bát và nhập định trở lại, cho nên quỷ sứ mất hết dấu vết để bắt Sư. Qua câu chuyện trên mới thấy rõ: dù còn sót một hạt bụi cũng làm xốn mắt. Dù chỉ là một vật dụng, nhưng nếu đem tâm yêu thích, sẽ bị nó trói cột, ràng buộc, khiến bị chướng ngại trên đường giải thoát.

Nhắc về xưa cũng liên hệ đến nay. Ngày nay chúng ta không chỉ đắm luyến một cái bát ngọc mà cả trăm ngàn thứ: nhà lầu, xe hơi, công danh, địa vị khiến ngày càng quên mất bản tâm. Thật đáng hổ thẹn. Thuở xưa Thiền sư Triệu Châu Tùng Thẩm lúc đi hành khước trừ hai thời cơm cháo là tạp dụng tâm, ngoài ra không có dụng tâm khác. Thế mới biết đạo lực của tiền nhân không thể nghĩ bàn. Đâu như chúng ta cả trăm ngàn vọng tưởng, đụng đâu dính đó, dính chắc còn hơn đinh đóng cột, gỡ hoài không ra.

Hoặc như giới tu sĩ, khi phát tâm tu tập, tất cả đều buông xả hết, nhưng lại bị những tập khí xưa cũ kéo lôi. Những tập nghiệp tình cảm, hút thuốc, uống bia rượu… thuở xưa còn sót lại, chưa chuyển hóa được. Nhiều người không làm chủ được, trở lại thế tục, tiếp tục trôi lăn trên con đường sanh tử luân hồi. Thế mới biết nghiệp tập của chúng sanh rất sâu dầy, nặng nề. Khi chưa bắt đầu yêu thích vật gì thì chớ mang vào tâm, bằng không sẽ rất khó buông bỏ, mà đã không buông bỏ được thì không thể đến gần với đạo. Đến đây mỗi người phải tự xét lại mình, đã có được phước duyên làm người, sáu căn đầy đủ, gặp được Phật pháp, lại được xuất gia thì phải cố gắng tiến tu, tu hoài, tu mãi, nguyện khi nào thành Phật mới vừa lòng. Bởi lẽ: “Bỉ ký trượng phu ngã diệc nhĩ, bất ưng tự khinh nhi thoái khuất”, nghĩa là “Ai kia đã là trượng phu thì ta cũng là trượng phu, không được tự khinh khi mà thoái lui” (Qui Sơn cảnh sách văn).
Lời tụng
Âm:

Tiên sách nhân ngưu tận thuộc không
Bích thiên liêu quách tín nan thông
Hồng lô diệm thượng tranh dung tuyết
Đáo thử phương năng hiệp Tổ Tông.

Nghĩa:

Người trâu roi gậy thảy về không
Thăm thẳm trời xanh tin khó thông
Lửa rực lò hồng đâu chứa tuyết
Đến đây mới thật hợp Tổ Tông.

Lời bình

“Người trâu roi gậy thảy về không
Thăm thẳm trời xanh tin khó thông”.

Người, trâu, roi, gậy đều không còn. Đến lúc này có gì là trâu, có gì là chăn, đã là một vòng tròn viên mãn, trong ấy còn có gì để luận bàn. Chỉ là một bầu trời trong xanh, ngút ngàn, không một dấu vết để người nhìn thấy, đến đây tâm và cảnh đều nhất như.

“Lửa rực lò hồng đâu chứa tuyết”.

Ở đây chỉ cho người trong tâm không còn một chút dính mắc, vướng kẹt, tất cả phiền não đều rơi rụng, như tuyết tan trong lò, vừa rơi xuống liền tan mất, không còn một mảnh vụn.
“Đến đây mới thật hợp Tổ Tông”.

Bức tranh thứ tám “Người trâu đều quên” mới khế hợp với tông chỉ của Tổ sư từ Ấn Độ sang, khi “Tất cả phàm, Thánh thảy đều quên, chỗ có Phật cũng chẳng dừng ở hay chạy nhanh qua, cũng chẳng kẹt ở hai đầu”. Có ai thấy được cây tùng trước sân của Thiền sư Triệu Châu Tùng Thẩm chưa?

Người tu đến đây tâm viên, ý mã đã được lọc sạch, tâm đã yên, ý đã dứt, không còn vọng đọng, lăng xăng. Thấu suốt được nguồn gốc của các pháp. Nhưng cũng không được dừng lại, nếu dừng lại chẳng khác nào rơi vào trạng thái “Trầm không trệ tịch” (Rơi vào không và chìm đắm trong sự yên lặng). Trong Mười bức tranh chăn trâu, Thiền sư Thanh Cư chỉ vẽ đến bức thứ tám “Người trâu đều quên”, tức chỉ nói được cái thể mà chưa nói đến diệu dụng. Chính vì vậy, cần phải vượt qua cảnh tịch tịnh vắng lặng này để làm lợi lạc cho tha nhân mới đúng với sở nguyện của người xuất gia “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”. Thế nên Thiền sư Tắc Công và Thiền sư Từ Viễn tiếp nối Thiền sư Thanh Cư họa thêm bức tranh thứ chín và mười, cũng làm nổi bật diệu dụng của một người sau khi thể nhập vào nguồn tâm thì phát ra diệu dụng hằng sa.

Lệ Quang


Tài liệu tham khảo
HT. Thích Thanh Từ, Sử 33 vị Tổ Thiền tông Ấn – Hoa Giảng giải, NXB. Hồng Đức.