Bức tranh thứ sáu cỡi trâu về nhà

14

  Ánh hoàng hôn dần buông xuống, cảnh vật hòa mình vào sự tĩnh lặng của buổi chiều tà, có điều gì nhẹ nhàng, bình yên từ lòng đất mẹ. Tiếng sáo vi vu, ngân vang trong làn gió mát, những cánh diều bay lơ lửng trên bầu trời xanh, bao la. Một khúc khải hoàn đã được tấu lên, vui mừng reo hò, chào đón người trở về.

Lời dẫn

“Chiến tranh đã hết, được mất trở về không. Hát bài ca thôn dã của ông tiều, thổi khúc nhạc đồng quê của chú mục đồng. Ngồi ngang trên lưng trâu, mắt nhìn trời mây. Kêu gọi chẳng quày đầu, cố giữ cũng chẳng đứng lại”.

Lời bình

Tìm về chốn bình yên luôn là khao khát của những người lữ khách tha phương. Qua rồi những mất mát, đau thương và ngày trở về đã đến.

“Chiến tranh đã hết, được mất trở về không”.

Đã qua giai đoạn cực khổ chăn giữ, chú mục đồng giờ đây không cần phải tìm kiếm, nắm giữ, kéo dây hay thêm roi vọt. Người và trâu không cần phải gia công, ráng sức nữa. Khi không còn chăn giữ, chiến đấu thì được mất đều trở về không, tất cả đều như huyễn. Chú mục đồng đã thuần phục được trâu và đang cỡi trâu về nhà. Đến đây là chấm dứt quá trình tìm trâu.

Hành giả trong quá trình tìm tâm đến đây là đã chín muồi. Tất cả công phu từ trước đến giờ chỉ là để sống lại với bộ mặt thật xưa nay của mình.

Muốn biết một người tu hành có được an lạc, tự tại hay không hãy nhìn vào nét mặt, thái độ, hành động của họ. Khi đã có chỗ sống thực sự, từ sâu trong nội tâm toát lên một sự điềm tĩnh, an nhiên, phóng khoáng. Khi khó khăn, thử thách đến, họ biết sống tùy duyên và đón nhận, xem đó như một phương tiện để trui rèn đạo đức, giới hạnh, chớ không phải than khóc, ưu sầu như những người mới tập tu.

“Thiền sư Nghĩa Thanh, đến chỗ Thiền sư Viên Thông không thưa hỏi gì, chỉ ăn cơm xong rồi ngủ. Tri ự thấy thế bạch với Thiền sư Viên Thông:

– Trong Tăng đường có vị Tăng cả ngày lo ngủ, xin thực hành theo quy chế.
Thiền sư Viên Thông hỏi người nào?
Tri sự thưa:
– Thượng tọa Thanh.
Thiền sư Viên Thông bảo:
– Khoan, hãy đợi ta xét qua.
Thiền sư Viên Thông cầm gậy đi vào Tăng đường, thấy Sư đang nằm ngủ. Thiền sư Viên Thông gõ vào giường quở:
– Trong đây tôi không có cơm dư cho Thượng tọa ăn xong rồi ngủ.
Sư thưa:
– Món ăn ngon không cần với người no bụng.
Thiền sư Viên Thông bảo:
– Tại sao có nhiều người không chấp nhận Thượng tọa?
Sư thưa:
– Đợi họ chấp nhận để làm gì?
Thiền sư Viên Thông hỏi:
– Thượng tọa gặp ai rồi đến đây.
Sư thưa:
– Phù Sơn.
Thiền sư Viên Thông bảo:
– Lạ, được cái gì mà lười biếng.
Do đây tiếng tăm Sư vang lừng.”

Hành động ăn xong rồi ngủ của Thiền sư Nghĩa Thanh ngầm chỉ Ngài đã hoàn thành xong việc lớn, mắt tâm đã khai sáng, nên chẳng cần thưa hỏi gì cả. Người bụng đói mới cần phải ăn, tức chưa ngộ đạo cần phải dụng công tu tập, phải tụng Kinh, tọa thiền, niệm Phật… Còn người no bụng thì dù thức ăn ngon đến mấy cũng không cần, ngầm chỉ người đã sáng đạo, sáng tỏ được bản tâm, nên không cần phải tu, phải chứng chỉ cần khéo bảo nhậm là được.

Câu nói của Thiền sư Nghĩa Thanh, cần phải làm sáng tỏ để cảnh tỉnh những người chỉ học, hiểu trên lý thuyết. Thức ăn ngon không cần với người no bụng, chỉ cho người đã sống được với chân tâm thanh tịnh của mình, đến chỗ rốt ráo này không cần phải dụng công, tu hành gì cả. Nhưng đối với những người sơ cơ không được dùng câu nói này để làm bia đỡ đạn, bao che cho sự giải đãi, buông lung của mình. Như thời khóa của Thiền viện là ba giờ khuya phải thức dậy tọa thiền, thì những người biếng nhác lại nằm ì, không chịu dậy, hỏi nguyên nhân tại sao thì bảo rằng: “Thức ăn ngon không cần với người no bụng.” Đây quả thật là một đại nạn đối với những người ngông cuồng, nói bậy, chỉ biết “Liếm đàm dãi của Thiền sư”, mà chưa bao giờ sống với chỗ sống thực sự như các Ngài. Nếu ngôn hạnh tương ưng thì hãy nói ra lời nói này, bằng không phải nỗ lực công phu hơn nữa. Nếu không như vậy qua suông một đời, khi sanh tử đến lại không có vốn liếng gì để đối mặt, khi đó mới thấy thẹn mặc áo cà sa một đời mà chẳng liễu ngộ được chân lý.

“Hát bài ca thôn dã của ông tiều, thổi khúc nhạc đồng quê của chú mục đồng. Ngồi ngang trên lưng trâu, mắt nhìn trời mây”.

Đây là khúc hát tự tâm của người đã sống được với cái chân – thiện – mỹ nên rất an nhiên, tự tại. Cũng chỉ vì những được, mất, hơn, thua, phải, quấy, những khó khăn, gian khổ, chú mục đồng đều đã trải qua. Giờ đây chỉ ngồi trên lưng trâu tận hưởng giây phút bình yên, tịnh lạc, ngắm nhìn trời mây mà không một chút muộn phiền.

Có những người khi mới bước chân vào Thiền viện, thấy cuộc sống ở đây thật bó buộc, hà khắc. Mỗi mỗi đều phải thực hành theo nội quy, không được tự do chút nào. Như phải thức khuya, dậy sớm, tụng kinh, tọa thiền, làm việc. Hay đối với những nhu cầu sinh hoạt thiết yếu đều không được tự do sử dụng mà phải biết thiểu dục tri túc, ăn không được quá ngon, ngủ không được quá nhiều… Đây là cái nhìn còn hạn hẹp trong sự dục vọng của bản năng, của những con trâu hoang chưa được thuần phục. Nhưng theo thời gian khi được trui rèn, chuyển hóa những quan niệm sai lầm, tiêu cực, sự tu ngày một tiến bộ nên cảm thấy những nguyên tắc ấy không hề gò bó, ràng buộc mà là những điều rất bình thường, hiển nhiên không thể thiếu trong cuộc sống tu tập. Khi đã có niềm an vui thì cuốc đất, nhổ cỏ cũng không thấy mệt nhọc. Hay khi đang ngủ mà nghe tiếng kẻng thức chúng liền tỉnh dậy, vệ sinh cá nhân, áo tràng nghiêm trang lên tọa thiền, với một năng lượng tràn đầy, trong tâm niệm an vui, hỷ lạc.

“Kêu gọi chẳng quày đầu, cố giữ chẳng đứng lại”.

Trên đường đi có biết bao cảnh vật, đủ màu sắc lôi cuốn, thế nhưng chú trâu không còn đắm luyến, say mê nữa. Dù cho bên ngoài có bao nhiêu tiếng gọi, bao nhiêu cảnh đẹp cũng không làm chú bận lòng.

Tâm hành giả đến giai đoạn này quả thật rất kiên cố. Không còn bị dính mắc nơi trần cảnh, dù cho muôn duyên kéo đến tâm vẫn không lay động.

Chúng ta hãy nhìn lại quá trình tu tập của bản thân, xem mình có còn dính mắc, vướng kẹt với ngoại duyên không? Bất chợt nghe một bài hát với âm điệu du dương, ngọt ngào lúc đó tâm mình có bị dao động, có chạy theo bài hát đó không? Nếu có là đã quên mình chạy theo âm thanh rồi, lúc này trâu đã chạy thật xa, đã vào đồng ăn lúa mạ của người.
Hoặc khi tiếp xúc với nhau, nếu giữa hai người, một người ngay thẳng, chỉ thẳng những khuyết điểm để mình sửa chữa. Còn một người chỉ nịnh bợ, a dua với mình thì mình sẽ thích tiếp xúc với người nào hơn? Có lẽ là thích người hay a dua với mình. Thông thường chúng ta chỉ thích nghe những lời đường mật, khen ngợi chứ ít ai chịu nghe những lời thật thà, ngay thẳng. Thế nên, “trung ngôn” thì “nghịch nhĩ”. Nhưng hãy xét lại nếu sự khen ngợi chỉ là giả trá, vì muốn lấy lòng mình nên phải khen ngợi, liệu có đáng tin không? Còn người hay nhắc nhở những sai sót, khuyết điểm để mình sửa chữa ngày một tiến bộ hơn thì nên gần gũi, thân cận để cùng nhau tiến tu.

Cuộc sống rộn ràng với những màu sắc lung linh, luôn cuốn hút những người có tâm nhiễm ô, dính mắc. Nếu trên đường đi vẫn còn liếc ngó hai bên ngắm nhìn cảnh đẹp, nên biết rằng tâm mình vẫn chưa yên, chưa được an định, vẫn còn đắm luyến nơi trần cảnh. Phải thật tinh tế để nhận ra điều này. Chớ nên đem tâm duyên theo cảnh để rồi kết thành nghiệp. Tuy chỉ là âm thanh, hình ảnh, nhưng đều không sót một mảy trần, tất cả đều được thu vào trong tàng thức, để rồi tạo thành nghiệp lực. Chính nghiệp lực này sẽ dẫn mình đi trong sanh tử luân hồi.

Hãy cùng ôn lại đoạn đối thoại của Thiền sư Hy Thiên Thạch Đầu với Thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm:
“Thiền sư Thạch Đầu dạy:
– Nói năng động dụng chớ giao thiệp!
Thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm thưa:
– Chẳng nói năng động dụng cũng chớ giao thiệp!
– Ta trong ấy mũi kim mảnh bụi chẳng lọt vào.
– Con trong ấy như trồng hoa trên đá.
Thiền sư Thạch Đầu hứa khả”.

Trong sinh hoạt hàng ngày, nói năng, động dụng, đi, đứng, nằm, ngồi chớ dính mắc, phan duyên, hướng ngoại thì dù nói năng hay im lặng đều là Đạo. Có những người tuy nói rất nhiều nhưng chẳng dính dáng đến sự tu tập, họ chỉ thích nói chuyện thị phi, chuyện trên trời, dưới đất, để thời gian trôi qua một cách vô ích mà công phu lại bị luống trôi. Còn những người tuy im lặng, không nói năng gì, nhưng trong tâm chất chứa rất nhiều phiền não, vì đè nén không nói ra được, tâm tư không được lưu thông, nên sự tu tập ngày một trì trệ. Thế nên Tổ Thạch Đầu dạy rằng: Nói năng động dụng chớ giao thiệp. Chúng ta không nên vướng kẹt vào hai thái cực đó, mà phải sống với tâm thật bình thường, không phân biệt, dính mắc. Khi đối duyên xúc cảnh cần phải để miệng lên meo đối với những người thích nói chuyện thị phi, chuyện năm trên năm dưới. Và khi bàn luận, tương tác, trao đổi với nhau cần phải nói như Tổ Quy Sơn đã dạy: “Nói năng phải liên hệ đến Kinh điển, bàn luận thì dựa vào sự kê cứu về xưa”. Còn khi im lặng phải thực sự là một sự im lặng sấm sét, đó là do trong tâm đã vắng lặng, không còn bóng dáng của ngoại duyên, khách trần, có như vậy mới thực sự khế hợp với đạo, mới thực sự như trồng hoa trên đá, như mũi kim nhỏ bé không mảnh bụi nào lọt vào.

Nhìn lại từ bức tranh đầu tiên đến bức tranh thứ sáu, đến đây quả thật an nhiên, nhàn hạ. Cả một quá trình công phu tu tập, từ những bước tìm trâu, thấy dấu… cỡi trâu về nhà. Chú trâu đã được thuần phục hẳn, lúc này không cần phải dùng roi vọt, chỉ ngồi vắt vẻo trên lưng trâu, nhìn trời mây vời vợi. Hành giả tới giai đoạn này đã minh tâm, kiến tánh, đã trở về quê hương Hà Hữu của mình.

Lời tụng

Âm:

Kỵ ngưu dĩ lệ dục hoàn gia
Khương địch thanh thanh tống vãng hà
Nhất phách nhất ca vô hạn ý
Tri âm hà tất cổ thần nha.

Nghĩa:

Ven đường trâu cỡi trở về nhà
Sáo thổi vi vu tiễn chiều tà
Một nhịp một ca vô hạn ý
Tri âm nào phải động môi qua.

Lời bình

“Ven đường trâu cỡi trở về nhà”.

Chú mục đồng đã thực sự ngồi trên lưng trâu, cỡi trâu về nhà. Bao nhiêu gian lao, cực khổ đến đây đã hết.

“Sáo thổi vi vu tiễn chiều tà
Một nhịp một ca vô hạn ý.”

Đây là tâm trạng an vui của chú mục đồng. Đã qua những ngày tháng cam go, chiến đấu với trâu hoang. Trong buổi chiều tà chú theo cảm hứng mà thổi sáo, hát ca, vui mừng, hớn hở. Ngồi trên lưng trâu, tâm hồn bay bổng, trên là trời rộng mênh mông, dưới là niềm vui của một người đã xong việc.

“Tri âm nào phải động môi qua”.

Ai biết được niềm vui của chú mục đồng. Chỉ một mình chú biết, đến đây là “Uống nước nóng lạnh tự biết”, không thể nói thành lời, nên khó mà động môi qua.

Hành giả khi thuần phục được tâm viên, ý mã thì sẽ không bị mất mình trước trần cảnh. Tâm đã định, trí đã sáng. Người tu đến cảnh giới này là có niềm an vui, hỷ lạc. Chính ngay bây giờ là Niết bàn, Cực Lạc, không cần phải tìm kiếm đâu xa. Ngôn ngữ nào diễn tả được, nếu không phải là người thực tu, thực chứng, chớ có vọng ngôn, nói cuồng.

Lệ Quang