Bức tranh thứ mười thõng tay vào chợ

7

  Một ngày tươi đẹp bắt đầu, khi ta sống, sống chân thành, san sẻ yêu thương với mọi người xung quanh. Ngại ngần chi mà không nói lên lời “cảm ơn”. Cuộc sống này không phải của riêng ta. “Trái đất này là của chúng mình”, mỗi một cá nhân sẽ trở thành một đoàn thể. Phải chăng trong tôi có bạn, trong bạn có tôi? Mỗi khi thành công hay thất bại, hãy khẽ gọi tên nhau. Chỉ vì một sự biết ơn và trân trọng.

Lời dẫn

“Một mình khép cánh cửa gỗ, ngàn Thánh cũng chẳng biết. Chôn vùi vẻ sáng sủa của chính mình, bỏ qua lối mòn của bậc Thánh trước. Mang bầu rượu đi vào chợ, roi gậy trả lại nhà, nơi quán rượu hàng cá, hóa độ chuyển thành Phật hết.”

Lời bình

Cửa tùng đã khép lại, người ẩn sĩ một mình xuống núi, thực hiện chí nguyện và hoài bão của mình. Chỉ một mình y biết được con đường phía trước.

“Một mình khép cánh cửa gỗ, ngàn Thánh cũng chẳng biết.”

Bức tranh thứ mười – Thõng tay vào chợ – chỉ cho người đã xong việc lớn, nhập pháp giới để hóa độ chúng sanh. Nếu chìm đắm trong sự im lặng, chỉ biết tự lợi cho bản thân, như thế là cách tu ích kỷ, thành ra đạo Phật là đạo tiêu cực, yếm thế, mặc ai sống chết ra sao, riêng một mình hưởng an nhàn là được. Một mình khép cánh cửa gỗ, xuống núi để hành đạo, thể hiện tinh thần lợi tha, nói lên cái diệu dụng của đạo, đến chỗ này ngàn Thánh cũng chẳng biết được.

Chúng con được nghe dấu tích hào hùng của Sư ông Trúc Lâm. Thuở ấy, Ngài phát nguyện nhập thất chuyên tu, khi nào sáng đạo mới mở cửa thất để tiếp độ Tăng chúng, ngôi thiền thất Sư ông ở có tên là Pháp Lạc. Sau một thời gian chuyên tu, cuối cùng Ngài đã tỏ ngộ, thấu suốt lý Bát nhã, từ đó mở rộng lòng từ, giáo hóa chúng sanh. Thiền viện Chân Không, Thường Chiếu, Trúc Lâm, Linh Chiếu, Viên Chiếu được hình thành. Chúng sanh từ đây có nơi nương tựa. Ân đức của Ngài thật cao cả, vì chúng sanh mà không ngại gian lao, khó nhọc. Sư ông thường dạy Tăng, Ni rằng: “Người tu là đang thiếu nợ Phật tử, chúng ta có hai cách để trả. Một là chuyên tâm tu tập, sáng tỏ đạo lý để hướng dẫn Phật tử tu tập. Hai là mang lông đội sừng để đền ơn tín thí. Sư ông suốt đời hoằng pháp là một bài học cho chúng ta noi theo, đã làm sáng tỏ ý nghĩa tự lợi – lợi tha, tự giác – giác tha.

“Chôn vùi vẻ sáng sủa của chính mình, bỏ qua lối mòn của bậc Thánh trước.”

Người tu là đi đến chỗ vô ngã, vô tu, vô chứng. Chúng ta cứ nghĩ rằng một người khi đã ngộ đạo thì phải siêu phàm vượt thánh. Nhưng đối với các vị Tổ sư thì không dừng lại ở đó, quý Ngài không vướng kẹt nơi hình tướng, tùy vào căn tánh chúng sanh mà tùy duyên điểm hóa. Có những căn cơ lanh lợi chỉ cần một câu là khai ngộ. Trái lại, có những cơ duyên sai biệt nên các Ngài phải đánh, phải hét, đuổi đi. Như Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền ba lần hỏi Đại ý Phật pháp, ba lần đều bị tát tai. Thụy Lão Thiền sư khi hỏi Mã Tổ Đạo Nhất thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang, liền bị Mã Tổ tống cho một đạp té nhào, bỗng nhiên đại ngộ. Như vậy, đối với người chưa tỏ ngộ thì bảo rằng Thiền sư sao thô bạo quá, không từ bi gì cả, chỉ hỏi đạo lý tại sao lại đánh, đập, la hét,… nhìn bên ngoài không giống người tu hành. Nhưng đâu biết tâm lão bà của các Ngài thật bao la. Nếu chỉ nhìn trên hình tướng mà phán đoán là đã lầm qua.

Tiếp Tăng độ chúng không phải là việc dễ dàng.Vị Trụ trì cần phải có những đức tính hy sinh, nhẫn nhục, từ bi. Mài giũa thanh sắt trở thành cây kim thì dễ, nhưng để chuyển hóa người phàm phu với những tập khí sâu dầy thật khó khăn vô cùng. Buộc lòng vị Trụ trì phải dùng rất nhiều phương tiện, cách thức để hóa độ. Có những người đệ tử ngoan ngoãn, siêng năng tu tập, thời khóa tụng kinh, ngồi thiền đầy đủ, sống hòa hợp, vui tươi thì vị Trụ trì hẳn đã an lòng. Bằng ngược lại, có những vị đệ tử rất đặc biệt, cứng đầu, quậy phá,… bắt buộc vị Thầy phải dùng nhiều biện pháp, cách thức để bào mòn bản ngã, tẩy sạch mê mờ. Khi bị Sư phụ rầy la, quở mắng, phạt quỳ hương, làm vệ sinh, biệt chúng,… chúng ta phải biết phản quan, xem xét những lỗi lầm để sửa chữa, không nên có tâm oán trách Thầy Tổ, không ngại lời ra, tiếng vào. Với tấm lòng từ bi tha thiết, Thầy cũng không ngại đệ tử oán giận. Có ai thấu hiểu nỗi lòng của Thầy, một vị sứ giả lặng thầm gánh chịu biết bao gian lao, khó nhọc để cho chúng con có được sự bình an trên bước đường tu tập.

Chôn vùi vẻ sáng sủa của chính mình chỉ cho sự phá chấp, không thấy ta là người đắc đạo cũng không cần thiên hạ phải nể trọng. Đây là sự khác biệt giữa bậc chân tu và phàm phu. Phàm phu thích phô trương, khoe khoang hay “giả trang hiền tướng” để được mọi người khen ngợi, sùng bái. Còn chư vị Tổ sư lại ẩn thân, không cho người biết tin tức, dấu vết, sống đời bình thường nhưng vẫn toát lên sức mạnh của bậc Xuất trần Thượng sĩ, mấy ai thấy được chỗ này.

Thiền sư Hoàng Bá khi trụ trì chùa Đại An ở Hồng Châu, đồ chúng tìm đến rất đông. Có lần Sư tránh chúng tìm, đến chùa Khai Nguyên, hàng ngày vẫn làm công tác như chúng. Đến khi tướng quốc Bùi Hưu đến chùa hỏi một câu mà không ai đáp được, bèn hỏi vị Trụ trì: “Trong đây, có Thiền nhân chăng?” Vị Trụ trì bảo: “Vừa có một vị Tăng vào chùa làm việc in tuồng thiền giả.” Đến khi Bùi Hưu thưa hỏi, Thiền sư Hoàng Bá khai thị, Bùi Hưu liền ngộ nhập, bèn thỉnh Ngài vào phủ thờ làm Thầy.

Qua câu chuyện trên, chúng ta nên tự đúc kết một bài học và chiêm nghiệm lại sự tu tập của mình. Bậc Thượng sĩ dù có ẩn thân, làm những việc rất tầm thường, nhưng vẫn luôn toát ra cốt cách, tố chất phi thường. Còn những người phàm phu, tầm thường luôn làm những chuyện dị thường để khoe khoang bản thân, nhưng những việc đó chỉ khiến người sáng mắt cảm thấy thương xót vì sự vô minh, mê mờ của những con người ham cầu, truy tìm những thứ danh vọng huyễn ảo. Chúng ta sẽ được an lạc, hạnh phúc khi là chính mình, chớ vọng cầu, bắt chước một ai. Hãy luôn là chính mình. Hãy cứ sống với cái chân thật, mộc mạc nhất từ sâu trong nội tâm của mình. Sâu trong ánh mắt của mỗi người là cả một sự chân thành, yêu thương và chia sẻ. Đừng ngần ngại khi dùng ánh mắt yêu thương để nhìn cuộc đời. Hãy để thế giới ta đang sống đều ngập tràn niềm an vui, hạnh phúc, hãy buông bỏ cái ta ích kỷ, nhỏ nhen, hẹp hòi để hòa mình với thiên nhiên, vạn vật, với tất cả mọi người xung quanh.

Cuộc sống có rất nhiều việc nhỏ nhặt, giản đơn nhưng mang lại vô vàn điều diệu kỳ, ý nghĩa. Có những khi chúng ta cuốc đất hăng say trong tâm trạng an vui, cuốc một luống đất mà cây cuốc vẫn chưa chạm đất. Trồng cả một vườn rau cho Đại chúng ăn, mà cây rau chưa từng mọc rễ, cho đến chèo thuyền đưa khách sang sông mà mái chèo vẫn chưa chạm nước, có ai nhận ra cái phi thường, vô giá trong những điều tầm thường, giản dị này không?

“Bỏ qua lối mòn của bậc Thánh trước.”

Chư Phật, chư vị Tổ sư là những người đã sống được với tâm thể thênh thang, trùm khắp. Còn chúng ta những hạng phàm phu, căn tánh đần độn, không thể bắt chước theo các Ngài. Đối với Thiền sư, tất cả lời nói, hành động, việc làm đều là cơ phong, khiến người được vào cửa. Còn chúng ta, chưa có chỗ thực sống, không nên đi theo lối mòn của bậc Thánh trước, chớ có bàn huyền nói diệu, cũng không thể la, hét, đánh đập, chặt rắn hay chém mèo, nếu hành động như thế là đang “liếm đàm dãi của Thiền sư”, tạo tội nghiệp nặng nề, rất dễ sa hầm sụp hố.

“Mang bầu rượu đi vào chợ, roi gậy trả lại nhà, nơi quán rượu hàng cá, hóa độ chuyển thành Phật hết.”

Đây là bước vào pháp giới chúng sanh, nơi “những vị Phật” đang lấm lem màu trần tục. Phải mang bầu rượu đi vào chợ, đến hàng cá, hàng thịt hóa độ tất cả cho thành Phật hết. Như vậy, đến trà đình tửu điếm, quán rượu, hàng thịt là để độ sanh, không phải vì say mê, đắm nhiễm. Cách giáo hóa chúng sanh hiệu quả nhất là đồng sự với họ (đồng sự nhiếp), cùng làm chung để thấu hiểu, cảm hóa, sau đó mới nhiếp phục họ quay về với Phật pháp. Nhiều người không hiểu, thắc mắc tại sao các Ngài lại làm như vậy. Bồ tát Địa Tạng có lời phát nguyện: “Nếu ta không vào địa ngục, thì ai vào địa ngục để cứu vớt chúng sanh.” Muốn cứu vớt chúng sanh ở địa ngục thì phải xuống địa ngục để cứu độ, không thể ở trên trời, trên mây mà hóa độ được. Các vị Thiền sư cũng vậy, phải dấn thân vào chốn hồng trần, nhiễm ô, để đưa các “vị Phật con” trở về quê nhà. Những việc làm này đều vì sự mê mờ của chúng sanh, vì lòng từ vô lượng nên các Ngài bất chấp cả hình tướng, oai nghi, tế hạnh của người tu, làm những việc như người thế tục, mặc cho thế gian đàm tiếu, phê bình, chê trách, các Ngài đều không bận lòng, rốt ráo làm sao hóa độ được tất cả. Nhưng phải là người có đạo lực mới được, chứ còn yếu công phu chưa tới đâu, vào đó rồi không có ngày ra, lúc đó còn làm bạn với nhau là hỏng cả một đời tu. Phải là người mắt sáng mới làm được việc này.

Lục tổ Huệ Năng mười lăm năm ở chung với nhóm thợ săn, hàng ngày luộc rau trong nồi thịt để ăn và Ngài cũng tùy duyên, tùy thời khai thị cho họ. Cuối cùng, những người thợ săn cũng giác ngộ và xuất gia. Đến Mục Kiền Liên hóa độ Liên Hoa Sắc. Liên Hoa Sắc là một kỹ nữ xinh đẹp, trải qua biết bao đau thương, tội lỗi, sau được Tôn giả Mục Kiền Liên hóa độ cuối cùng cũng xuất gia, tu hành chứng được thánh quả A-la-hán, là bậc Thần thông Đệ nhất của chúng Tỳ-kheo-ni. Đâu không phải tất cả đều được độ thành Phật hết sao.
Lời tụng

Âm:

Lộ hung tiên túc nhập triền ai
Phù thổ đồ khôi tiếu mãn tai
Bất dụng thần thông chân bí quyết
Trực giao khô mộc phóng hoa khai.

Nghĩa:

Chân trần bày ngực vào chợ thành
Bôi đất trét bùn cười thật xinh
Bí quyết thần tiên cần chi nữa
Cây khô cũng phải nở hoa trình.

Lời bình

“Chân trần bày ngực vào chợ thành”

Hình ảnh người tu sĩ phiêu bạt, chân trần, áo xếch bày ngực, bước vào chợ thành, khiến ai cũng ngạc nhiên, há hốc mồm. Đây là tu sĩ ư? Sao không ở chốn già lam thanh tịnh mà vào chợ thành nhiễm ô làm chi. Ai trả lời thế dùm?

“Bôi đất trét bùn cười thật xinh”

Dẫu có bị bôi tro, trét đất nhưng vẫn cười thật xinh. Để hòa nhập với những chúng sanh đang si mê, các Ngài không ngần ngại, thân cận, phá bỏ mọi sự ràng buộc của giới luật, oai nghi tế hạnh, đến hàng rượu, hàng cá để hóa độ. Tuy làm những việc rất kỳ dị, tầm thường nhưng vẫn hiện bày được sự nhiệm mầu, diệu kỳ, nên mãi cười thật xinh.

“Bí quyết thần tiên cần chi nữa”

Khi những chúng sanh đã được hóa độ, chuyển mê khai ngộ, thấy tánh tỏ tâm, thì cần chi nữa bí quyết thần tiên, tức những thứ huyễn ảo, phép mầu đều không bị mê hoặc, động niệm.

“Cây khô cũng phải nở hoa trình”

Nói lên diệu dụng của người tu, khi liễu ngộ rồi phải ứng cơ tiếp vật, lợi lạc quần sanh. Đem ánh sáng giác ngộ đến với tất cả chúng sanh còn đang si mê, chìm đắm trong sanh tử luân hồi, phải khiến cho hoa tâm của họ được khai nở, sống lại với tâm Phật sẵn có nơi chính mình, tức là đã khiến cho cây khô được nở hoa.

Bức tranh thứ mười – Thõng tay vào chợ là nói đến sự viên mãn của hành giả trên công việc hoằng pháp lợi sanh. Cứu độ chúng sanh là phải thõng tay vào chợ, hòa quang đồng trần, tay lấm chân bùn, bôi tro trét trấu, cùng sống, cùng làm, cùng tu, cùng dẫn dắt nhau lên bờ giác. Đức Thế Tôn khô môi đắng miệng trong suốt bốn mươi chín năm cũng chỉ để thõng tay vào chợ, khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến. Tổ Bồ Đề Đạt Ma vượt bao gian khó đến Trung Hoa không ngoài yếu chỉ này. Chúng ta là những thế hệ con cháu, cần phải tiếp nối sứ mạng cao cả mà ông cha đã thực hiện. Nguyện độ tất cả chúng sanh đều được giác ngộ, giải thoát, đồng về cõi Phật.

Mười bức tranh chăn trâu đã toát lên quá trình tu tập của một hành giả. Từ những bước đầu tiên là tìm tâm, thấy được chân lý, công phu tu tập, ngộ nhập tri kiến Phật, sống lại với tâm Phật của chính mình cho đến những bước rốt ráo hòa quang đồng trần, tiếp vật lợi sanh. Tranh đã được vẽ hoàn tất, thế nên học nhân đời sau chớ cô phụ tấm lòng lão bà tha thiết của các bậc tiền bối, hãy thắp sáng lại chính mình. Ta hãy đi tìm trâu, hãy làm sống dậy sức sống chân thật nhất. Có ai thấy được đằng sau bức tranh này là gì không?

Lệ Quang