Bức tranh thứ bảy: Quên trâu còn người

20

  Khi nhìn thấy một dòng sông đang chảy, dù âm thầm lặng lẽ, nhưng chúng ta biết rằng sông sẽ đổ ra biển, hòa cùng một dòng chảy. Sông và biển tuy hai mà một, cùng một tánh nước và dung chứa lẫn nhau. Cũng vậy, trong cuộc sống giữa thiện – ác, tốt – xấu đều không phân chia nhất định. Không ai xấu muôn đời và chẳng có ai tốt mãi mãi, nhưng bản chất của con người vốn là thuần lương, hướng thiện chỉ cần vứt bỏ những điều tầm thường, giả trá thì cái chân – thiện – mỹ sẽ hiện bày. Thế nên:

Lời dẫn
“Pháp không có hai pháp, trâu gọi là tâm. Dụ tên khác của thỏ bẫy, bày sai biệt của cá nơm. Như vàng ra khỏi khoáng, tợ trăng ra khỏi mây. Một đường ánh sáng lạnh ngoài kiếp Oai Âm”.
Lời bình
Khi sống với vọng thức, si mê thì sẽ thấy sự vật trong so sánh, phân biệt có ta – người, được – mất, nhưng khi đã trở về sống với cái chân thật thì:
“Pháp không có hai pháp, trâu gọi là tâm”.
“Vạn pháp duy tâm” muôn pháp đều do tâm sanh. Vì người mê mờ nên thấy có hai, đối đãi, sanh diệt. Đến khi giác rồi thấy không có hai pháp, tức đã thấu suốt thực tướng của các pháp.
Chiếc lá vốn dĩ là chiếc lá, nếu nhìn với tánh thấy hiện tiền, thì chỉ thuần chân là chiếc lá. Nhưng khi thấy chiếc lá có xanh, vàng, tàn úa và rơi rụng là thấy trên tướng sanh diệt. Dẫu cho chiếc lá có sanh diệt nhưng cuối cùng nó cũng trở về với bản thể của nó, chiếc lá vẫn là chiếc lá. Dù thời gian có đổi thay nhưng vạn vật vẫn luôn chuyển mình để bắt kịp sự thay đổi đó. Vẫn có cái chân thường trong cái vô thường, biến đổi. Ai nói chỉ riêng mùa xuân hoa mai mới nở. Hoa mai vẫn âm thầm sanh trưởng từng ngày để rồi khi mùa xuân đến nó sẽ được đâm chồi, nảy lộc. Và khi xuân tàn hoa mai chỉ thuận theo thời tiết mà tàn úa. Nhưng không dừng lại ở đó, nó vẫn được vun dưỡng, phát triển thành những cây mai tươi tốt khi mùa xuân đến, chứ đâu phải xuân tàn là không có hoa mai. Thế nên, Thiền sư Mãn Giác đã bảo rằng:

Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai.

Trong Kinh Lăng Nghiêm, Đức Thế Tôn đã khai thị cho vua Ba Tư Nặc tánh thấy chưa từng sanh diệt:
“Đức Phật bảo:
– Đại vương, thấy nước sông Hằng lúc mấy tuổi?
Vua Ba Tư Nặc thưa:
– Khi ba tuổi, mẹ con dẫn đến lễ bái Kỳ Bà Thiên, có đi qua sông này. Con được thấy nước sông Hằng khi ấy.
Đức Phật bảo:
– Đại vương vừa nói khi hai mươi tuổi thấy mình già hơn khi mười tuổi, cho đến sáu mươi tuổi, ngày qua tháng lại, niệm niệm đổi dời. Vậy khi đại vương thấy sông Hằng lúc ba tuổi, so với cái thấy nước sông Hằng lúc mười ba tuổi như thế nào?
Vua thưa:
– Cái thấy ấy không khác so với khi con ba tuổi, cho đến nay con đã sáu mươi hai tuổi, cái thấy ấy vẫn không khác.
Đức Phật bảo:
– Nay đại vương tự cảm thương tóc bạc mặt nhăn, mặt đại vương nhất định là nhăn hơn lúc trẻ. Vậy cái thấy sông Hằng của đại vương hiện nay và cái thấy sông Hằng của đại vương hồi nhỏ có già có trẻ chăng?
Vua Ba Tư Nặc thưa:
– Bạch Thế Tôn, không vậy.
Đức Phật bảo:
– Mặt đại vương tuy nhăn, nhưng tánh thấy này chưa từng bị nhăn. Cái bị nhăn thì biến đổi, còn cái không bị nhăn thì chẳng biến đổi”.
Dù cho ba tuổi hay sáu mươi hai tuổi thì tánh thấy vẫn thường hằng. Sông Hằng vẫn là sông Hằng. Cái biết thấy khi nhìn sông Hằng vẫn như như, không thay đổi. Đó là cái chân thật, là Như Lai Tàng Diệu Chân Như Tánh sẵn có nơi mỗi người.
“Trâu gọi là tâm”.
Từ bức tranh đầu tiên phân ra có trâu để tìm và có chú mục đồng. Thật ra, trâu và người chỉ là phương tiện chỉ cho tâm thể sáng suốt, nhiệm mầu, nên trâu cũng gọi là tâm, không có gì sai khác.
“Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu thượng đường bảo chúng:
Sau khi lão tăng trăm tuổi đến dưới núi làm con trâu, hông bên trái viết năm chữ “Quy Sơn Tăng Linh Hựu”. Khi ấy gọi là Quy Sơn tăng hay gọi là con trâu. Gọi là con trâu hay gọi là Quy Sơn. Gọi thế nào mới đúng”.
Nếu còn có tên để gọi là đã vướng kẹt vào hai bên, bị đóng đinh vào ba tấc lưỡi của Thiền sư Linh Hựu. Đến khi thấu suốt rồi thì gọi Quy Sơn hay gọi con trâu cũng chẳng can hệ đến Thiền sư Linh Hựu, bởi lẽ lúc này trâu chính là tâm. Đây là cái bẫy được đặt ra cho những ai còn chạy theo câu chữ, vướng kẹt vào chỗ gọi hay không gọi, thế nào là đúng, thế nào là phải.
“Dụ tên khác của thỏ và bẫy, bày sai biệt của cá và nơm”.
Bẫy là phương tiện để bắt thỏ, nơm là phương tiện để bắt cá. Muốn bắt được thỏ, cá phải có bẫy và nơm. Cũng vậy muốn tìm được tâm cần phải có bước sơ cơ là tìm trâu. Đây là phương tiện để giúp chúng sanh thoát khỏi si mê, tăm tối, trở về con đường giác ngộ, giải thoát.
Ở mỗi chốn Già lam, quý Thầy, quý Cô tạo rất nhiều phương tiện để mọi người có dịp tiếp xúc với chùa chiền nhiều hơn như: xuất gia gieo duyên, đạo tràng niệm Phật, tổ chức các khóa tu mùa hè cho các bạn học sinh, sinh viên, đây là cơ hội cho các bạn trải lòng, thực tập tu hành cũng như chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống, những khúc mắc trong tâm tư chưa giải bày được. Gia đình Phật tử là nơi xây dựng nền tảng đạo đức căn bản cho các bạn trẻ ngay từ thuở nhỏ, cho đến mở các lớp dạy giáo lý để mọi người thấu hiểu chân lý Phật dạy ứng dụng tu hành vào cuộc sống hàng ngày, giảm bớt những phiền não, khổ đau để có được cuộc sống an vui, hạnh phúc.
“Như vàng ra khỏi quặng, tợ trăng ra khỏi mây”.
Vàng khi ở trong quặng vẫn còn cát, sạn nhưng đến khi lọc sạch, được ra khỏi quặng thì tinh chuyên một chất vàng ròng. Trăng khi bị mây mù che sẽ không còn sáng, không thấy rõ, đến khi ra khỏi mây mù thì trăng mới sáng trong. Hai hình ảnh trên chỉ cho người phiền não đã rơi rụng, không còn vô minh, si ái nữa nên chân tâm được hiện bày. Như đêm mười lăm trăng tròn, sáng chiếu soi vạn vật.
Chúng con thường được nghe quý Thầy đi trước kể lại: Thuở quý Thầy còn ở trong Đại chúng, được Hòa thượng Trúc Lâm thượng Thanh hạ Từ hướng dẫn tu tập. Mỗi khi trong tâm tư có những phiền não, vướng mắc muốn đi đến chỗ Hòa thượng giải trình. Nhưng có một điều kỳ lạ, khi đến nơi, được nhìn thấy Tôn dung của Hòa thượng, cảm nhận được từ trường an lạc từ Ngài, ngay lúc đó không còn phiền não nữa, có một năng lượng huyền diệu làm đánh bặt tất cả những vướng mắc đang đè nặng trong tâm. Ở bên Người, Sư phụ khả kính, cảm thấy thật nhẹ nhàng và bình yên làm sao. Đó là diệu dụng được phát ra từ một bậc chân tu, một bậc thạch trụ mà chúng sanh hằng tôn kính.
Chúng ta hãy quán xét lại, có những khi trong tâm không còn lo âu, muộn phiền, lòng nhẹ nhõm, bình an. Thấy người, thấy cảnh đều bằng ánh mắt hiền hòa, vui tươi. Ngay khi nghe một lời trái tai, cũng không cảm thấy khó chịu, phiền lòng. Những sự đổi thay diệu kỳ đó, có được là do đâu? Tất cả đều do sự tu tập của mình, do công phu đã vững chắc, có đủ vốn liếng để đối mặt với những khó khăn, thử thách.
“Quan Thường Thị họ Vương đến thăm Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền, rồi cùng đi đến trước Tăng đường xem. Ông bèn hỏi:
– Cả Tăng đường này có xem Kinh chăng?
Sư đáp:
– Chẳng xem Kinh.
Thường Thị hỏi:
– Có học thiền chăng?
Sư đáp:
– Chẳng học thiền.
Thường Thị hỏi:
– Kinh đã chẳng xem, thiền cũng chẳng học, vậy cuối cùng làm gì?
Sư đáp:
– Thảy dạy y thành Phật, thành Tổ”.
Kinh đã chẳng xem, thiền cũng chẳng học vậy thiền tăng ở đây làm gì? Xem Kinh, tọa thiền chỉ là phương tiện làm sáng tỏ bản tâm, là ngón tay để chỉ mặt trăng. Trăng đến đây đã sáng, đã ra khỏi những đám mây vô minh, si mê, tham ái nên tất cả thảy đều là Phật, là Tổ.
“Một đường ánh sáng lạnh, ngoài kiếp Oai Âm”.
Đức Phật Oai Âm Vương là Đức Phật đầu tiên trong quá khứ. Nhưng ánh sáng nào có đủ sức mạnh để vượt ngoài kiếp Oai Âm. Đó chính là ánh sáng trí tuệ. Chỉ có ánh sáng này mới vượt qua tất cả phiền não, khổ đau, vượt qua cả không gian và thời gian, không có quá khứ – hiện tại – vị lai, mà chỉ là cái thấy biết hiện tiền.
Lời tụng
Âm
Kỵ ngưu dĩ đáo đắc gia san
Ngưu dã không hề nhân dã nhàn
Hồng nhật tam can du tác mộng
Tiên thằng không đốn thảo đường gian.
Nghĩa
Cưỡi trâu về đến tận nhà rồi
Trâu không người cũng thật thảnh thơi
Trời đã lên cao còn say giấc
Ném trong nhà cỏ bỏ dây roi.
Lời bình
“Cưỡi trâu về đến tận nhà rồi”.
Đã cưỡi trâu về đến tận nhà, “Về đến tận nhà” tức đã xong việc, chấm dứt quá trình chăn trâu.
“Trâu không người cũng thật thảnh thơi”.
Trâu không còn chạy rong, ngang bướng mà nằm yên một chỗ ở nhà, chú mục đồng không cần phải dòm chừng, chăn giữ, nên cảm thấy thật nhẹ nhàng, thảnh thơi.
“Trời đã lên cao còn say giấc”.
Trước kia, lạc mất trâu, nên phải vất vả tìm kiếm. Khi tìm được rồi, nhưng nó vẫn hung hăng, dữ tợn, phải ngày đêm thuần phục, cảm hóa nó. Đến khi trâu đã ngoan ngoãn, biết nghe lời, theo chú mục đồng trở về nhà, bao nhiêu gian truân, vất vả đến đây đã hết. Bây giờ không cần phải chăn giữ trâu nữa, Cho nên, dù trời đã lên cao, đã đứng bóng mà trong đây chú mục đồng không biết gì, vẫn còn say giấc. Bận lòng làm chi khi trâu về đến tận nhà.
“Ném trong nhà cỏ bỏ dây roi”.
Không còn chăn trâu, thì dây roi còn có tác dụng gì nữa, cũng đành bỏ lại, không một chút lưu luyến.
Bức tranh thứ bảy “Quên trâu còn người” rất khác biệt so với bức tranh thứ nhất Tìm Trâu. Bức tranh thứ nhất phải tìm trâu là vì chúng sanh điên đảo, vô minh, đắm mê nơi ngũ dục, lục trần, quên mất bản tâm nên phải đi tìm. Còn bức tranh thứ bảy chỉ cho người đã thấu suốt bản tâm, nhưng còn sót lại một chút niệm vi tế, đã sạch hết vọng tưởng, nhưng vẫn còn vướng kẹt vào cái tịnh, cái chân, nên mới gọi là “Quên trâu còn người”, tuy đã liễu ngộ nhưng chưa viên mãn.

Lệ Quang