Bên này bên kia (phần 2)

67

  Lan có dịp xa gần:
– Đàn ông về Việt Nam một mình nguy hiểm lắm, nếu không bị gạt thì cũng mang bệnh. Toàn biết tánh cả ghen của vợ, anh ta giả vờ ôm bụng, nhăn nhó:
– Ui da! Ui da!
Hưng và Thúy lật đật hỏi:
– Anh có sao không? Đau bụng ha?
Toàn lắc đầu, xua tay:
– Hổng phải, đói bụng!
Lan nguýt chồng một cái dài thượt:
– Tôi bắt đầu chiên rồi nè, ông thì xấu chứng đói lắm!

Lan tráng chảo, đổ bột vào nghe cái xèo! Nàng biết Toàn ngầm chọc tánh cả ghen, hay ngắt véo của mình nên tủm tỉm cười. Toàn cũng nháy mắt với vợ rồi cười ha hả.
Hưng, Thúy thấy vợ chồng Toàn vui vẻ cũng vui lây. Mùi bánh thơm lừng khiến họ cảm thấy đói. Thúy nếm lại tô nước mắm lần nữa, vừa ý. Nước mắm của Thúy pha rất ngon miệng mà chanh, ớt nổi trên mặt trông hấp dẫn lắm.
Mọi người quên hết chuyện gần chuyện xa, ngồi chung quanh chảo, chờ từng cái bánh nóng, giòn và thơm phức.

***

Chị Hai Xuyến bực dọc đi qua đi lại. Chị nhìn cái nhà mới cất, không vừa bụng chút nào. Muốn nhà đúc mà hóa ra nhà gác cây, trần giả, dàn cửa sắt sơn màu xanh sậm, tối hù. Sàn nhà lót gạch trơn trắng vàng chẳng phải loại gạch có vân như đá hoa mà chị muốn. Còn cái bếp nữa, không chịu cẩn gạch men cho sạch sẽ.

Nghĩ tức thằng cha thầu. Nó là bạn của em mình mà không nghe lời mình chút nào! Đòi cái gì nó cũng lắc đầu nguầy nguậy: Không đủ tiền chị ơi, phải liệu cơm gắp mắm!
Hai Xuyến lầu bầu: “Nó thầu cái nhà này lời cả ngàn đô chứ không ít đâu. Bạn bè, ăn thua gì; đời này tiền bạc trên hết!

Tức ông thầu lại sinh ra giận thằng em. Phải chi nó giao tiền cho mình đứng ra làm thì cái nhà đâu có tệ như vầy! Chị em mà không tin nhau, đi tin người dưng!

Chị lầm bầm như vậy rồi mới nhớ ra lúc sau này chị mất uy tín với em nhiều quá! Cái thằng Hưng cũng tài, nó ở bển mà mình làm gì nó cũng biết, qua mặt nó lần nào nó cũng hay!
Vụ đóng trước bạ để sang tên nhà từ bà già qua tên chị là cái vụ làm chị “quê” nhất. Sau khi ra ban nhà đất hỏi thủ tục và lệ phí sang tên, chị hối hả điện thoại qua cho Hưng, nói cần mười mấy triệu để lo vụ sang tên vì má đã lớn tuổi rồi, để lâu không tiện, chị nói lửng lơ, mười mấy triệu thì chắc mẩm thế nào Hưng cũng gửi về 1.500 đô, chị sẽ dư bộ bàng. Không dè Hưng liên lạc tìm hiểu ai ở ngay quận nhà, gửi về có 500 mà còn nói: “Tiền này đóng trước bạ còn dư, chị cứ dùng.” Mà thật vậy, đóng có 300 thôi.

Còn cái nhà lầu chị dụng mưu tính kế lâu lắm, vậy mà cũng thất bại. Chị nhờ những lúc trời mưa, nhà dột, chị tỉ tê với bà già: “Nó ở bển sung sướng, đầy đủ, đâu cần nhớ tới mẹ già sống trong cảnh nhà dột cột xiêu. Giả dụ cái nhà này có sập xuống nó cũng không hề biết tới. Mà coi đó, xóm mình mọc lên mấy cái nhà lầu rồi. Có con ở ngoại quốc thì được nhờ như vậy. Nhà mình vô phước nên phải chịu nghèo.”

Rồi hôm khác, chị lại nhỏ to: “Lần nào nói tới vụ cất nhà nó cũng trả lời chưa có tiền. Đó là cái kế hoãn binh để buông trôi. Má có điện thoại thì cho nó biết bác ba Lập bên này sẵn sàng cho mượn tiền, mấy chục cây cũng có. Mượn rồi trả từ từ, không cần trả một lần. Má nói vậy coi nó còn lý do để từ chối nữa không? Má phải làm dữ nó mới sợ, bằng không vợ nó cứ cản đản hoài, con dám chắc như vậy…”

Bà già bị huyết áp cao, bị nói khích hoài có thể bị nguy hiểm; chị cũng biết vậy nhưng đó là phương tiện duy nhất của chị vì Hưng rất kính yêu mẹ, ít khi dám cãi lời. Vậy mà lần này nó xì ra có năm ngàn, cất cái nhà hổng bằng ai!

Chị Hai Xuyến có con và em ở ngoại quốc, chị cảm tưởng mình bước vào một giai cấp khác, thuộc loại giàu sang chứ không thuộc về giới bình dân lao động như xưa, bởi vậy chị mới mơ ước có cái nhà lầu dữ tợn.

Hai đứa con gái của chị: quần áo đẹp, hợp thời trang. Con gái út của chị còn dám đóng mấy trăm đô đi học lớp thời trang để biết cách ăn diện nên trông nó bảnh lắm, không giống mấy đứa buôn gánh bán bưng ở xóm này.

Tụi nó trước sau gì cũng đi Mỹ; Đoàn sẽ bảo lãnh sau khi học thành kỹ sư. Bởi vậy, chị phải kén rể giàu sang, giới thượng lưu trí thức hoặc là Việt kiều mới được, nhóm thanh niên loàng xoàng ở xóm này thì đừng hòng.

 

Nhưng kẹt một điều nghề bán cháo lòng của chị lại không sang. Hai cô gái đòi dẹp lâu rồi, chị muốn nghe theo mà thấy cũng tiếc vì bán buổi sáng mà kiếm cũng khá tiền.
Lần này có nhà mới, tụi nó tấn công tới tấp:
– Tụi con nói má mở quán cà phê ca nhạc đi, vừa khỏe, vừa sang trọng.
– Sẵn có nhà mới, mình trang trí dễ lắm. Con kéo bạn bè tới làm một ngày là xong. Rồi mua cái máy Karaoke, bàn ghế, ly tách nữa thì được rồi, nhà mình có sẵn ti vi màu.
– Tụi bây nói nghe dễ lắm! Tiền đâu làm?
– Thì xin cậu Ba!

Chị Hai trề môi, lắc đầu. Chị thấy khó! Mới cất nhà xong, giờ lại xin tiền. Hưng có lý do từ chối. Bây giờ kêu bà già đứng ra xin, bả dữ liền. Nhiều lúc bả cũng sáng suốt lắm và nhìn thấy vấn đề, không dễ gì sai bả hoài được. Nhất là từ ngày có nhà mới, bả vui lắm và mỗi lần nhắc đến Hưng, bả lộ vẻ trìu mến, không giận dữ như xưa.

Còn mượn vốn làm ăn thì phiêu lưu lắm. Rủi thất bại, nợ mới, nợ cũ chất chồng, họ dám xiết căn nhà này chớ chẳng không. Chị Hai Xuyến hoàn toàn đồng ý với hai cô con gái trong việc đổi nghề nhưng suy nghĩ nát óc cũng không đào đâu ra vốn. Chị tính nhẩm: “Muốn làm cho sang trọng, hơn cả quán Màu Hồng ở xóm này, phải cả ngàn đô chứ không ít”.

Nghĩ tới, nghĩ lui cả tuần, chị Hai không buôn bán làm ăn được gì. Nồi niêu, tô muỗng dùng bán cháo chị còn dồn trong cái thùng cây to, để ở xó nhà; chị không muốn đụng tới vì trông nó cũ kỹ, nghèo nàn và quê mùa làm sao! Bà con chòm xóm lại đòi ăn tân gia, rồi mấy mối nợ lớn nhỏ kéo nhau tới nặng lời, làm dữ. Chị muốn điên lên. Ai dè ở nhà mới lại khổ như vầy!

Một đêm nằm trăn trở, thao thức hoài ngủ không được, chị Xuyến chợt nghĩ tới vị sư ở chùa Từ Bi. Đây là vị Thầy chung của cả gia đình chị. Mỗi đầu năm chị đều đưa bà già đến cúng sao giải hạn. Riêng Hưng thì rất thân với Thầy và kính nể Thầy lắm. Nếu Thầy giúp chị nói một lời với Hưng thì mọi chuyện sẽ vô cùng tốt đẹp.

Sáng hôm sau, chị dậy sớm, pha cà phê rồi mua bánh bao về cho bà già ăn sáng. Chờ bà ăn uống xong xuôi, chị nói:
– Má à, mình có được căn nhà như vầy cũng nhờ ơn Phật Trời. Bữa nay con đưa má đi chùa tạ ơn Trời Phật đã phù hộ cho mình, nghe má!
Bà cụ gật đầu:
– Ờ, phải đó!
– Má nhớ đem tiền theo cúng chùa, cúng chùa được phước!

Bà cụ vui khi nghe con gái nói đến việc đi chùa. Vô chùa nghe tiếng mõ tiếng chuông, thấy nhẹ nhàng làm sao!

Chị Hai Xuyến bao chiếc xích lô đạp trọn ngày, một phần vì chùa hơi xa, một phần vì không biết chừng nào về mà ở đó lại khó đón xe.

Chùa Từ Bi nằm cạnh Rạch Ông, con rạch nhỏ nên thơ, với những cây dừa nước xanh um. Chùa nằm trên khoảng đất rộng, quanh chùa trồng nhiều so đũa, thân cao mảnh khảnh, trái rủ dài, đong đưa trong gió. Vào mùa Xuân, hoa trắng nở đầy cả ngọn. Hoa so đũa luộc chấm tương hay nấu canh chua rất ngon. Chùa có trồng mấy chục luống huệ, bạn hàng hoa cứ canh đến kỳ thì lại cắt. Ngoài ra, rau cải, bí bầu, chùa đều tự túc được cả, nhiều khi còn nhường lại cho lối xóm.

Trước kia chùa cũng khá đông: Thầy Chơn Từ sống với bảy người đệ tử. Sau năm 1975, vì vấn đề hộ khẩu khó khăn, chỉ còn ba Thầy ở lại. Có hai đệ tử của Thầy Chơn Từ vượt biên sang Mỹ: một người là hoằng pháp, một người tiếp tục việc học, nghe nói đỗ đạt cao và đang lo nghiên cứu kinh điển.

Khi chiếc xích lô dừng lại trước cổng chùa, chị Hai Xuyến bắt đầu hồi hộp. Tuy đã sắp sẵn những gì đã nói, những gì nên tránh nhưng chị vẫn lo ngại vì Thầy Chơn Từ thông minh lắm, có thể đoán biết mưu sự của chị.

Chị đỡ bà cụ xuống xe. Bà cụ lột cái khăn rằn sọc đỏ ra để lộ mái tóc trắng phếu và cái búi tóc sau ót chỉ nhỏ bằng củ tỏi. Bà vắt khăn lên vai, nhìn quanh, mỉm cười vu vơ. Bà vịn vai con gái, bước qua cổng tam quan làm bằng tre.

Thầy Chơn Từ đang lui cui tỉa đậu cùng với hai Thầy khác, nghe tiếng chân người lào xào trên đường sỏi, Thầy dừng tay, bước tới:
– A Di Đà Phật! Chào bà cụ! Cụ vẫn mạnh giỏi chứ?
Bà cụ gật đầu, chấp tay xá xá. Thầy quay qua chị Hai Xuyến hỏi:
– Bữa nay đạo hữu không buôn bán sao mà đến chùa sớm vậy?
Chị Hai vừa đỡ mẹ bước lên bậc thềm xi măng vừa đáp:
– Dạ con ngưng bán hơn một tháng nay rồi tại mắc cất nhà.
Thầy Chơn Từ mời khách ngồi. Thầy chậm rãi rót ra ba tách trà, trà còn nóng hổi, tỏa mùi thơm.
– Mời cụ, mời đạo hữu dùng trà.
Rồi Thầy trở lại câu chuyện ban nãy:
– Đạo hữu xây nguyên cái nhà mới hay chỉ sửa chữa thôi?
– Dạ, đập bỏ nhà cũ xây nhà mới.
– Thời buổi này mà cất được cái nhà cũng giỏi lắm đấy! Tôi có lời chúc mừng đạo hữu.
Chị Hai phân bua:
– Mang tiếng cất nhà vậy chớ cũng không bằng ai Thầy ơi! Người ta lầu cao ba, bốn tầng, nhà con chỉ có cái gác cây.
Trước đây nửa tháng, Thầy Chơn Từ đã nhận được thư của Hưng nói về vụ cái nhà, Thầy hiểu nỗi khổ của Hưng cũng như sự bất mãn của chị Hai Xuyến. Thầy cười, pha trò:
– Dù sao chị cũng có phước hơn tôi. Chùa dột mà tôi còn không có tiền sửa, nói gì cất lại. “Nhìn lên thì chẳng bằng ai, ngó xuống lại chẳng thấy ai hơn mình”. Theo câu đó vậy mà dễ sống.
Chị Hai vẫn hậm hực:
– Thằng Đoàn dở quá phải chi nó học xong cái bằng kỹ sư thì con muốn gì chẳng được?
– Vậy sao? Làm kỹ sư nhiều tiền lắm à?
– Thầy nghĩ coi cả ba mươi mấy ngàn đô một năm, làm sao xài cho hết được?
Rồi chị thở dài thườn thượt:
– Số con kém phước, mang tiếng có con, em đi Mỹ mà vẫn phải buôn bán tảo tần, tay làm hàm nhai. Thằng Hưng em con cũng tệ, nghe nói nó đậu Tiến sĩ gì rồi đó, lương cao lắm mà để cho mẹ và chị phải sống trong thiếu thốn.
Bà cụ nghe chị Hai Xuyến than phiền như vậy đã nhiều lần, đã chán lắm rồi, nay chị lại đem chuyện gia đình kể lể với nhà Sư, bà thấy chướng mắt lắm nhưng chẳng biết làm sao. Bà lấy miếng trầu cao đã têm sẵn, bỏ vào miệng nhai bỏm bẻm, ngó mong ra cửa sổ.
Thầy Chơn Từ cất giọng hiền hòa:
– Đạo hữu bình tĩnh nghe tôi nói: Mỗi nơi có một hoàn cảnh sống khác nhau, không thể dùng khuôn mẫu ở bên này để đo lường bên kia được.
– Đạo hữu còn nhớ Thầy Chơn Trí và Chơn Lạc không? Hai Thầy đó đi hồi 1975, trước Hưng cả chục năm. Qua Mỹ Thầy Chơn Lạc đi làm để nuôi Thầy Chơn Trí đi học. Thầy Chơn Lạc đầu tiên vô làm ở lò bánh mì, nghe nói họ trả năm đồng một giờ. Hai tháng sau Thầy dổi việc vì nói lương thấp quá, không đủ sống. Ở bên này mấy Thầy bàn bạc với nhau: “Lương tháng tính ra hơn 800 đô mà Thầy Chơn Lạc bảo không đủ sống, khó hiểu thật”. Sau đó, Thầy Chơn Lạc viết thư về trình bày: Tiền lương phải trừ thuế lợi tức và hưu bổng hết một phần, tiền mướn cái phòng tệ nhất phải 500 đô, rồi tiền điện, tiền ăn uống, xe cộ linh tinh… Bên này mình không nhớ tới chuyện tiền nhà vì nhà cửa có sẵn rồi, ở bển tiền nhà là một mối nặng lo. Thầy Chơn Lạc chật vật như vậy trong mười năm thì Thầy Chơn Trí tốt nghiệp bằng Tiến sỹ. Thầy được mời dạy học, mỗi năm nghe nói bốn chục ngàn. Mấy Thầy ở đây lại được dịp xuýt xoa; nhưng hễ lớn thuyền thì lớn sóng. Hồi còn là sinh viên nghèo, đi xe buýt chẳng sao, bây giờ làm giáo sư Đại học, cũng phải có chiếc xe làm chân. Mua xe trả góp, tiền bảo hiểm phải đóng cao. Rồi Thầy Chơn Trí phải tạo điều kiện cho Thầy Chơn Lạc có cơ sở tu học và hoằng pháp, Thầy đứng tên mua trả góp, sửa lại làm chùa. Mỗi tháng lãnh lương cả hai ngàn mấy bạc mà góp tiền nhà, tiền xe, linh tinh đủ thứ rốt cuộc không đủ. Đạo hữu thấy không, chùa Tổ của hai Thầy đã hư dột mà chưa sửa được; nếu không hiểu rõ tình cảnh của hai Thầy ấy có lẽ ai cũng chê trách. Nhờ hiểu biết mới có cảm thông và tránh được sự phê phán. Phê phán chỉ tạo khẩu nghiệp cho mình và gây khổ cho người.

Bà cụ nghe Thầy nói, chịu lắm. Bà gật gù, nghĩ thương thằng Hưng. Chị Hai Xuyến làm thinh.

Thầy Chơn Từ tiếp:
– Thầy Chơn Trí làm hộ pháp cho Thầy Chơn Lạc một thời gian, đâu bảy, tám năm gì đó. Khi Thầy Chơn Lạc có thể tự lo được, vì nhiều Phật tử giúp đỡ thì Thầy Chơn Trí xin nghỉ việc. Thầy đi qua Anh để nghiên cứu kinh điển như chí nguyện của Thầy. Cả hai Thầy đã hành động sáng suốt. Tôi rất vui lòng. Như vậy là hai Thầy đã không phụ ơn tôi. Riêng trường hợp của Hưng, tôi không nghĩ là Hưng đã đổ Tiến sĩ như đạo Hữu nói. Bởi vì Hưng phải đi làm cả ngày để lo cho gia đình, ban đêm theo học một lớp đã mệt rồi, đâu thể học nhiều giờ như Thầy Chơn Trí. Để đủ tín chỉ cử nhân một sinh viên thuần túy phải mất bốn hoặc năm năm, một người dành thì giờ đi làm nhiều hơn đi học thì chắc mất tám hoặc chín năm cũng chưa xong cử nhân được. Hưng đã trình bày với tôi như vậy. Hưng mới đi học được tám năm nay phải không? Kể ra Hưng cũng có ý chí lắm, lại biết lo cho gia đình. Vợ chồng Hưng cất nhà được cho bà cụ là đáng khen. Hai người đó chắc phải cần kiệm lắm! Bởi vì với mức lương của người chưa có văn bằng Đại học, họ khó có dư. Tôi đoán Hưng phải vay nợ ngân hàng để gửi tiền về xây nhà.

Bà cụ nghe nói, mủi lòng, sụt sịt khóc. Bà hối hận đã nghe lời con gái mắng mỏ Hưng.
Chị Hai Xuyến cảm thấy ngượng, chị lấy cớ ra xe tìm cái lon cho mẹ nhổ trầu. Xe đậu dưới tán cây Bồ đề giữa sân chùa. Anh phu xích lô nằm trên xe ngủ say, ngáy ồ ồ.

Chị trở vào nói lảng sang chuyện khác:
– Giờ này mà bác xích lô ngủ ngon lành.
Thầy Chơn Từ cười hiền hòa:
– Người vô tâm như vậy thì khỏe. Suy tính, lo lắng nhiều chừng nào mệt chừng ấy.
Chị Hai Xuyến không muốn tiếp tục câu chuyện nữa vì thấy chiều thế hoàn toàn bất lợi cho mình. Thầy nói sự thật chẳng lẽ không tin nhưng mà Việt kiều về nước rầm rộ, ăn mặc sang trọng, xài tiền như nước, thì sao? Họ làm chị tối tăm mặt mũi!
Chị vừa đỡ bà cụ đứng lên, vừa nói:
– Con đưa má ra sân chơi.
Thầy vui vẻ:
– Phải đó, mấy luống huệ đang trổ búp sai lắm, mời cụ ra xem.
Chị Hai cầm tay mẹ đi giữa mấy luống hoa mơn mởn, mấy chậu kiểng tươi tốt mà lòng rối bời. Chị ngao ngán nhớ tới nồi cháo vừa to vừa nặng, cũ kỹ, đen đúa, mấy chục cái tô đá, muỗng sành đang chờ chị. Chị càng khổ tâm hơn khi nghĩ tới hai cô con gái. Hai cô sẽ không tiếc lời cằn nhằn, trách móc chị như chị đã cằn nhằn trách móc mẹ chị mấy lâu nay để bà làm áp lực cho Hưng.

Bác xích lô đã tỉnh giấc, bác nằm trên xe thoải mái ngân nga câu thơ Kiều:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.

Hai câu thơ này càng làm chị rầu thúi ruột. Chị nén tiếng thở dài để đóng tuồng “trong héo ngoài tươi”.

Thầy Chơn Từ bước ra mời bác xích lô vào chùa uống nước. Bác cười, ánh mắt cũng sáng theo:
– Dạ, Thầy để con tự nhiên, hễ đói thì ăn, khát thì uống.
Thầy Chơn Từ chú ý nhìn kỹ người đối diện: tóc bác cắt ngắn, trổ hoa râm; khuôn mặt ốm xương xương, đen đúa nhưng đôi mắt sáng quắc như hai vì sao; lại thêm bộ đồ nâu đã bạc màu làm Thầy liên tưởng đến hình ảnh của một thiền sinh trên đường tham vấn, cầu sư học đạo.

Bác xích lô bước xuống xe. Hai người thong thả tiến về đài Quan Âm lộ thiên. Họ đứng đó, dưới bầu trời xanh ngắt không gợn chút mây sầu. Họ nhìn chị Hai Xuyến thấy chị có vẻ không vui. Bà cụ thì say sưa nhìn ngắm, nâng niu mấy bó hoa vạn thọ nở vàng tươi, thơm nồng.

Bỗng Thầy Chơn Từ cất tiếng nói:
– Thôi đậu hái chừng đó đủ rồi. Hai Thầy vào sửa soạn cúng ngọ, làm cơm đãi khách.
Bác xích lô cũng vui miệng nói bâng quơ:
– Bữa nay con cũng đủ cơm vì có người bao xe cả ngày, khỏi phải lo gì nữa.
Chị hai Xuyến uể oải ngồi xuống bờ cỏ cạnh lối đi. Chị nghe rõ lời nói của bác xích lô. Chị cúi đầu ngẫm nghĩ: “Phải chi mình cũng biết đủ thì đâu có khổ như vầy!”

Diệu Nga