Bàn về sinh hoạt Thiền tông

35

  Mối quan hệ y phục, thực phẩm, trú xứ và giao thông đối với cá nhân chúng ta vô cùng mật thiết. Khi nói đến đời sống hằng ngày, chúng ta đều không thể xa rời chúng; các vị Thiền sư tu hành trong nhà Phật cũng vậy, tình hình ăn mặc ở đi của họ như thế nào? Tôi xin phân ra bốn điểm đơn giản dưới đây để chúng ta học tập:

1. Từ vân du tham học để nói về sự sinh hoạt của Thiền sư

Các Thiền sư ư? Họ cũng rất thích dạo chơi bốn phương và thăm viếng mọi nơi: Đến tận cùng sâu thẳm của rừng xanh mây trắng, để thấy sự bao la hùng vĩ của vũ trụ; đến những ngọn núi bờ sông, để nhận rõ thật tướng chân như của cuộc sống. Có rất nhiều ngôi chùa lớn ở Trung Quốc, họ lần lượt đi từ Bắc Kinh đến Ngũ Đài Sơn, từ Sơn Tây đến Phổ Đà Sơn, ngày đi đêm ngủ, bất chấp gió rét mưa dầm, từng bước từng bước tham học, thời thời khắc khắc khai ngộ. Tam muội tuệ căn của các Thiền sư khắc sâu vào tâm trí không mất, và vấn đề ăn, mặc, ở, đi đối với họ cũng trở thành đạo tràng học Phật. Xin nêu một vài công án của các Thiền sư khi vân du tham học:

Một ngày nọ, có hai huynh đệ Trí Học và Trí Đạo đi tham học cầu Pháp. Họ đến chỗ Thiền sư Vô Tam (无三禅师) nổi tiếng. Vị Thiền sư này, đối với những người đến tham học với Sư, chỉ cần mở miệng hỏi, Sư không nói bất cứ lời nào, cũng không đợi câu thứ hai, xuất kỳ bất ý cho một gậy, mỗi lần hỏi là bị đánh. Để cầu đạo tham học, hai huynh đệ Trí Học không thể không hỏi, kết quả hôm nay cũng bị đánh, ngày mai cũng bị đánh, không một lần trốn thoát. Kỹ thuật đánh người của Thiền sư Vô Tam rất cao minh, lúc bạn không chú ý, tâm trí bị phân tán, thì “bốp”, một cái tát, một cây gậy bay qua cái vèo. Mỗi lần hỏi thì nhất định sẽ bị đánh, hai huynh đệ thương lượng: “Hôm nay, anh em chúng ta không vào thất, chỉ ở ngoài cửa hỏi, nếu Sư trả lời, chúng ta lắng nghe, nếu Sư muốn đánh, chúng ta sẽ co chân chạy trốn thật xa, không cho Sư đánh”. Hai huynh đệ bàn bạc như vậy, tự cho là rất thông minh, rất giỏi. Liền ở ngoài cửa cất cao giọng: “Thiền sư! Thiền sư! Chúng con có câu hỏi, xin Người khai thị.” Thiền sư Vô Tam đánh họ bằng giọng nói thật to: “Các người là vật gì?” Hai huynh đệ vừa nghe tiếng nói như sư tử rống, đầu óc choáng váng, họ không kiềm chế được ngã quỵ xuống bất giác chỉ còn một nửa hồn phách.

Thiền sư truyền dạy pháp thiền, vốn luôn nằm ngoài sức tưởng tượng của tâm phàm phu. Giống như âm thanh của dây đàn thường ở ngoài dây đàn, núi xanh nằm ngoài núi xanh, thậm chí không có các tướng ngã, tướng nhân, không những hàng Thanh văn, Duyên giác, thảy đều niệm Phật, niệm pháp, mà ngay cả quần áo, thức ăn, chỗ trú ngụ và đi đứng đều là hóa thân của Bồ đề Bát nhã.

Thiền sư Tiên Nhai (仙崖禅师) có một người đệ tử, muốn đi nơi khác để tham học tu hành. Thiền sư rất vui mừng, liền dặn dò chú nên đến ngôi chùa đó, viện đó, ngọn núi đó… để tham vấn học hỏi, giống như khi lưu học ở đây. Các Sư sẽ cho con biết sẽ vào Trường Đại học nào để nghiên cứu từ thấp đến cao. Đương nhiên là chú rất vui mừng, liền tuân theo lời chỉ thị của Thiền sư Tiên Nhai chuẩn bị cho một chuyến tham học. Trước khi đi, chú đến từ biệt Sư phụ. Thiền sư Tiên Nhai vui vẻ gọi chú: “Đứng lại”, rồi đột nhiên đánh chú một gậy. Chú bị đánh ngơ ngác không hiểu gì cả kêu to: “Sư phụ! Người đã cho phép con đi học, tại sao lại đánh con?” Thiền sư cười ha hả rồi quay đi. Chú vội tìm người nhờ hỏi giùm, Thiền sư trả lời rất hay: “Ta à! Bởi vì chú ấy muốn đi, đánh một gậy cho chú biết thế nào để làm Sư phụ.” Thiền sư Tiên Nhai rất từ bi và rất thương yêu người đệ tử này. Sư đánh chú một gậy để chú luôn luôn nhớ đến tâm ban đầu của mình. Cho dù vân du tham học ở đâu, tận núi sâu rừng thẳm, hay chân trời góc biển, đêm cũng như ngày nên cảnh giác, chớ quên bỏ, chớ đánh mất tâm ban đầu của mình. Vật tùy thân là lấy đạo niệm làm y phục, lấy thiền duyệt làm thức ăn, lấy Chánh pháp làm chỗ ở và lấy sự tham học làm giao thông. Một gậy của Thiền sư, hàm ý của người sâu sắc biết bao!

Thiền sư Lại Dung (懒融禅师) còn gọi là Pháp Dung) rất nổi tiếng, sau thời gian vân du tham học, Sư đã tìm thấy một hang động trong núi sâu và tu hành ở đó, nhiều năm không xuống núi. Vì uy danh của Sư chấn động từ dân gian đến triều đình không ai mà không biết, hoàng đế đặc biệt phái một vị đại thần đến thăm và mời Sư về hoàng cung tương kiến. Khi ông quan đến, Thiền sư Lại Dung lười hở môi, e tiêu phí thời gian của mình. Trước mặt ông ta, nước mũi của Sư cứ chảy và chảy không ngừng, vị quan nhìn thấy không nhịn được, liền khuyên: “Thưa Thiền sư, nước mũi của Ngài chảy vào miệng, hãy lau đi!” Thiền sư Lại Dung quét mắt qua một lượt: “Ông đang nói cái gì vậy? Tôi mới không có thời gian vì người tục các ông mà chùi nước mũi đâu nhé!”

Ngay cả nước mũi cũng không có thời gian để lau, có thể thấy sự tu hành tinh tấn của Sư đã ở trình độ nào. Sau đó, vị quan đã đói bụng, Thiền sư Lại Dung lấy một ít viên đá bỏ vào nồi để nấu, ông ta thấy lạ liền hỏi: “Sư nấu đá làm gì?” “Này, ăn đi!” Ông ngạc nhiên: “Cái gì! Đá làm sao có thể ăn được?” Thiền sư liền cầm viên đá đến trước mặt ông, để nó vào miệng ăn từng viên, từng viên, giống như ăn khoai tây khoai sọ.

Vị quan vẫn không từ bỏ, nhắc lại câu nói “Hoàng đế mời Ngài về triều gặp mặt”, Thiền sư Lại Dung đặt viên đá xuống và nói một bài kệ rất có thiền vị:

Thế sự du du
Bất như sơn khâu
Ngọa đằng la hạ
Khối thạch chẩm đầu
Bất triều thiên tử
Khởi tiện vương hầu
Sanh tử vô lự
Ngô phục hà ưu.

世事悠悠, 不如山丘
卧藤萝下, 块石枕头
不朝天子, 岂羡王侯
生死无虑, 吾复何忧.

Tạm dịch:

Thế sự rất xa vời,
Không sánh bằng núi đồi
Nằm dưới dây leo ngủ
Dùng đá tảng gối đầu
Không triều kiến hoàng đế
Chẳng hâm mộ vương hầu
Sống chết nào lo sợ
Ta có gì lo đâu.

Mấy câu kệ này làm nổi bật sự siêu việt trong lúc tu hành của Thiền sư Lại Dung: Thiền sư, Ngài xem công danh phú quý của thế gian giống như bụi đất, trong lòng buông bỏ tất cả, nằm trên cỏ xanh, gối đầu trên đá tảng, nghỉ ngơi dưới sợi dây leo, cảm thấy có sự tự tại thù thắng vi diệu. Thiên tử vương hầu là cái gì? Sống chết không sợ hãi, đâu có gì âu lo buồn phiền? Đâu có gì phải buông xuống?

Người tu đến mức vô cầu thì phẩm chất tự thanh cao. Thiền ư? Đặc điểm lớn nhất của các Thiền sư chính là không ham muốn, không mong cầu, không buồn phiền, không sầu não. Loại đặc biệt này xuất hiện rõ ràng trong lúc họ vân du tham học, hiển lộ phẩm cách siêu việt và thanh tịnh – y phục, thức ăn không câu chấp, tùy duyên phóng khoáng; nơi ở, chốn đi là mây nước, tự đến rồi tự đi. Đối với một Thiền sư, việc ăn mặc ở đi là chân đế tinh diệu, nơi nào cũng là tự tại.

2. Từ đời sống lao tác để nói về sinh hoạt của Thiền sư

Các Thiền sư rất xem trọng việc chấp lao phục dịch trong đời sống tu hành, như: Thiền sư Hoàng Bá Hy Vận (希运黄檗禅师) từng cày ruộng, hái rau mồ hôi nhỏ giọt trên cánh đồng; Thiền sư Qui Sơn Linh Hựu (灵佑沩山禅师) đã từng hái trà, làm tương, đắp xi măng lên tường. Từ công tác vườn trà đến nhà trù; từ làm tương dưa đến khiêng vác gạch ngói, đất đá, xi măng, bột vôi…, tất cả thảy đều làm qua; Thiền sư Thạch Sương (石霜禅师) sàng thóc ở phố gạo, đôi tay lao động không ngừng; Thiền sư Vân Nham (云岩) làm giày, may, vá, bện giày cho mọi người một cách chăm chỉ; Thiền sư Lâm Tế (临济) cuốc đất trồng tùng bách, gieo hạt ươm cây giống; Thiền sư Ngưỡng Sơn (仰山) chăn trâu, khai khẩn đất hoang, suốt ngày lặn lội trên đồng không mông quạnh; Thiền sư Động Sơn (洞山) cuốc xới vườn trà, mỗi cuốc xuống đất là mồ hôi đổ như trút; Thiền sư Vân Môn (云门) gánh lúa, cơm gạo trong tự viện đều do Sư nghiêng vai đảm trách; Thiền sư Huyền Sa (玄沙) chẻ củi, tay chai sần bởi luôn cầm chiếc rìu dày và nặng; Thiền sư Triệu Châu (赵州) quét đất, ngày cũng quét, đêm cũng quét, bao nhiêu não phiền quét thành đống; Thiền sư Tuyết Phong (雪峰), chặt cây làm máng chứa đựng thức ăn, nấu cơm, vỡ ruộng, không một lời thở than cực khổ, không nói một câu mệt mỏi, âm thầm cày bừa dưới ánh mặt trời gắt gao; Thiền sư Đan Hà (丹霞) nhổ cỏ, trồng hoa, từ trong một đóa hoa, một ngọn cỏ Sư đã ngộ ra chân đế của cuộc sống…

Đây là công việc chấp lao phục dịch mà các Thiền sư thực hiện trong đời sống, qua trăm nghìn thử thách tôi luyện, chịu đựng cực khổ, làm cho cơ thể của họ mạnh mẽ hơn, làm cho tâm trí đơn thuần hơn. Giống như thanh kiếm sắc bén nung trong lửa đỏ sau đó bị dìm vào nước lạnh, các Thiền sư cũng vậy, nhờ lao tác mà thoát ra khỏi nhọc phiền của thân tâm. Đừng cho rằng những người tham thiền không hề nhọc phí tâm lực, mà thân thể nhẹ nhàng phiêu dật, trái tim mở rộng giống như vượt ra ngoài thế giới, giống như thần tiên nương mây cưỡi gió… Thiền chân chính thực sự không phải như vậy! Thiền là đối mặt với đời sống thực tế, phải công tác, phải lao tâm khổ trí, ý chí phải mạnh mẽ, phải lao động gân cốt, phải có nền móng vững chắc… chầm chậm thăng hoa, từ từ rộng mở, tâm linh mới có thể cao tận muôn trượng tận trời xanh, còn đôi chân đạp vững chãi trên mặt đất. Đây là nội dung chủ yếu mà Thiền đòi hỏi nơi chúng ta.

Tôi đào tạo đồ chúng tại Phật Quang Sơn, lúc đầu, cũng theo phương thức chấp lao phục dịch trong chốn Tòng Lâm thời cổ, muốn mọi người phải lao tác chẻ củi, cuốc đất…, sau đó rất nhiều gia đình và Trụ trì các tự viện đều không cho con em, đệ tử đến Phật Quang Sơn để tu học nữa, họ nói chúng tôi rất kỳ quái, không hiểu biết gì cả! Nếu làm việc tại sao không ở nhà, phải chạy vào Phật Quang Sơn? Mọi người cho rằng không tốt. Được! Vậy, cho tất cả bọn họ ngưng việc đào đất và vận chuyển gạch ngói… Mười năm trôi qua, họ đã không còn làm công tác nữa, hằng ngày chỉ tu hành, hằng ngày chỉ đọc sách, cái gì cũng không chạm tới. Ôi chà! Cha mẹ họ lại lần nữa hét toáng lên: “Này! Phật Quang Sơn chỉ yêu cầu học tập và tu hành, không cho họ trải nghiệm công việc, tương lai sẽ không làm được bất cứ điều gì!” Như thế đấy, làm thế này không được, làm thế kia cũng không được, rốt cuộc làm thế nào cho tốt?

Đời sống của người tu Thiền, vấn đề quần áo, thức ăn, nơi ở và phương tiện đi lại không thể tách rời công việc chấp lao phục dịch. Giống như cá không thể rời khỏi nước, cây không thể thiếu đất, tác vụ trong đời sống là lộ trình lương thực của người tu Thiền, rất nhiều Thiền sư đều ngộ đạo giữa lúc cong lưng bổ cây chặt củi, thẳng mình gánh vác trách vụ… Giống như người xuất gia chúng ta, dù chăm chỉ nỗ lực như thế nào đi nữa cũng có một số người chê là làm chuyện tầm phào; nếu như bạn có tâm huyết để viết một bài báo và xuất bản, họ sẽ nói: “Người đó chỉ có thể viết được mà không giảng được”; nếu bạn đi hoằng pháp, giảng kinh, có người còn phê bình chỉ trích rằng biết nói mà không biết làm. Tốt thôi! Phát tâm xây dựng những ngôi tự viện trong nước, mở các đạo tràng ở ngoài nước, thiết lập nền giáo dục, quảng bá văn hóa Phật giáo, làm từ thiện, mở phòng khám miễn phí, thành lập viện Dưỡng lão, viện Cô nhi… lại bị một số người công kích, nói rằng việc làm này chỉ để kinh doanh, chứ chẳng tu hành gì. Được thôi! Chúng ta hãy nêu lên sự nghiệp tu hành: Ngồi thiền, niệm Phật, khai đàn truyền giới, giảng pháp cho tín đồ, bế quan, suốt đêm không ngủ, qua giờ Ngọ không ăn… tất cả cùng vùng lên, cùng vùng lên! Được lắm! Họ lại phê bình: “Cho dù tu hành như thế nào, một câu tiếng Anh cũng nói không được!”
Thật ra, Thiền là nguồn gốc căn bản trong đời sống ăn, mặc, ở, đi, tất cả những công tác khó khăn của sự tu hành không phải để khoe khoang, mọi người đừng cho rằng Thiền là một cái gì đó kỳ lạ: khép mi nhắm mắt (buông rèm), tay lần tràng hạt không thèm nhìn người; kiết ấn ngồi thiền, không ăn đồ nấu củi lửa của nhân gian, đó là thiền trống rỗng của diện mạo thần chết. Phải công tác, phải nghiên cứu thực tế, phải trải nghiệm, mài tâm chí và gọt xương tủy mới gọi là Thiền!

Đại sư Tinh Vân
Thanh Như dịch