Bài hát không lời

20

  Tiếng ca không có âm thanh – hai mươi thiên tiểu luận trong quyển sách nhỏ này, tôi đã viết xong từ những ngày bận rộn trong hai năm qua, đã từng đăng nhiều kỳ trong Nguyệt san Giác Sanh (từ kỳ thứ mười đến kỳ hai mươi bảy thì ngưng) và Tạp chí Bồ Đề Thọ (từ kỳ thứ ba đến kỳ thứ bảy thì ngưng). Đây là một tác phẩm được viết theo thể loại văn xuôi và giọng điệu tự nói của các đồ vật hợp pháp và bất hợp pháp mà chúng ta thường thấy trong Phật giáo. Vì vậy khi khởi đăng “Vật ngữ một” và đăng tiếp “Vật ngữ hai”, có một số ít độc giả vẫn không hiểu rõ đối với ý nghĩa của hai từ “vật ngữ” (物語: tiếng nói của đồ vật).

Không có nguyên nhân nào khác, ý nghĩa của hai từ “vật ngữ” trong tiếng Nhật là “tiểu thuyết” hoặc “câu chuyện”, mà những gì tôi viết không phải là “tiểu thuyết” lại không phải là “câu chuyện”, đương nhiên, ở đây có một số độc giả đã hiểu lầm. Thật ra, chỉ cần có một chút trình độ văn tự Trung Quốc đều hiểu “vật ngữ” là sử dụng lời nói qua khẩu khí của đồ vật, giống như loại tiểu luận này, tác giả phải đứng trên lập trường của “vật” để nói thay cho chúng nó. Ngoài Duyên duyên đường tùy bút (緣緣堂隨筆) của nhà nghệ thuật Phong Tử Khải (豐子愷 1898 – 1975) có viết một hai thiên, còn có Tiểu Vũ Điểm (小雨點) của nữ sĩ văn học Trần Hoành Triết (陳衡哲 1890 – 1976), các nhà văn khác ở Trung Quốc đã không sử dụng qua cách viết loại này.

Tôi nhớ đó là vào mùa xuân năm thứ 35 của Trung Hoa Dân Quốc, trong vô tình tôi đã dùng khẩu khí của đồ vật viết một bài “Lời nói của tiền giấy” đăng trong phụ san của Tân Giang Tô Báo (新江蘇報) ở Trấn Giang. Có lẽ vì ý nghĩa của văn học là để biểu đạt tâm ý, mà cách viết này lại có khả năng thể hiện tình cảm một cách sinh động, do đó, mặc dù lúc đầu tôi không nhận được sự gợi ý của ai, nhưng tôi cảm thấy không có gì sai với cách viết như thế.

Hai mươi thiên “Vật ngữ” được thu thập ở đây, đã có lần công bố trên tạp chí, lúc đầu tôi đã đăng một số tập mà không nhất thiết phải vội vàng gì. Nhưng, nói ra thật sự khiến mọi người đặc biệt cảm động: Khi tôi viết “Vật ngữ” đến bài thứ mười bốn, niềm vui từ trên trời rơi xuống, Lão nhân Từ Hàng (慈航老人 1895 – 1954) – người mà tôi ngưỡng mộ nhất, đã nhờ người mang cho tôi một khoản tiền. Còn nhớ trong thư, Lão nhân đã nói với tôi: “Thầy còn tiếp tục viết “Vật ngữ” phải không? Trước hết, tôi tặng một ít tiền để thầy mau mau đem nó xuất bản nhé!” Một Tăng sinh trẻ hai tay trống rỗng như tôi trong những năm như vậy chưa bao giờ dám vọng tưởng xuất bản sách nào cả. Nhưng lòng từ bi của Lão nhân, người có thể quan tâm đến những nơi nhỏ bé này, bảo tôi làm sao có thể cô phụ ý tốt của Lão nhân? Cho nên, sau khi tôi đã xuất bản Phổ Môn phẩm giảng thoại, còn có thể có quyển sách nhỏ này gặp gỡ cùng độc giả.

Tôi cảm thấy rất xấu hổ vì nội dung của những bài viết này thật ra không đủ phong phú, nhưng đây không phải là không có lý do: Thứ nhất, trí tuệ của tôi kém, khả năng học tập bị hạn chế; thứ hai, không có một quyển sách nào để tham khảo, hoàn toàn dựa vào trí tưởng tượng của mình; thứ ba, mỗi lần đăng, vô hình trung bị giới hạn bởi một trang. Nói đến nguyên nhân này, tôi lại suy nghĩ qua câu chuyện Vật ngữ mà mình đã viết, tôi cảm thấy xúc động đối với môi trường mà một đời Tăng sĩ trẻ của chúng tôi đã gặp phải!

Còn nhớ khi tôi bắt đầu viết Câu chuyện Vật ngữ thứ nhất, đúng lúc có một vị Hòa thượng bảo tôi thay thế Người trông nom núi rừng. Người xuất gia không thể rời khỏi nhu cầu về ăn mặc đi ở trong đời sống, nên trong những ngày phiêu bồng trôi nổi, tôi phải cúi đầu trước cuộc sống, để có nơi ăn ngủ, tôi bắt đầu bán tuổi thanh xuân và sức lao động với giá rẻ mạt.

Lúc đó, mỗi ngày tôi lên núi xuống núi, thoạt ẩn thoạt hiện trong khu rừng rậm như một thợ săn, luôn chú ý đến động tĩnh trong núi. Đối tượng của thợ săn là hươu nai thỏ mèo, trách nhiệm của tôi là chú ý đến những kẻ gian trộm cây đốn cây. Ban ngày, nhìn ngắm những con khỉ, con sóc chạy nhảy trong rừng, và đếm thời gian chờ đợi bữa ăn từ chùa mang đến; ban đêm, lắng nghe tiếng gió vi vu thổi lay động cây tùng cây bách cho đến nghe cả âm thanh của loài chim cú mèo, tôi trú ngụ trong gian lều cỏ giữa núi.

Trong Phật giáo, những công tác này ngoài việc đổi lấy một lời khen ngợi “phát tâm” trống rỗng mà không có thù lao nào khác. Cứ như thế, ngày qua ngày, tôi bắt đầu cảm thấy khủng hoảng về thời gian không bao giờ dừng lại và tuổi xuân sẽ nhanh chóng qua đi! Trong cuộc sống của một thanh niên nào đó không tràn đầy ánh sáng và nhiệt huyết? Tuổi trẻ nào không có hy vọng đẹp đẽ đối với tương lai? Tôi nghĩ rằng tôi không thể để cho tuổi thanh xuân quý giá trôi đi và cuộc sống lãng phí một cách vô vị, tôi cần phải để lại một chút dấu tích trong cuộc hành trình của đời người. Vì vậy, trong gian lều cỏ bị bao phủ bởi đống cỏ rậm chỉ có thể chứa một thân một mình tôi, thì “Đại Chung” – câu chuyện Vật ngữ thiên thứ nhất tôi đã viết xong.

Tôi nhớ có một lần nói chuyện phiếm với Pháp sư Tâm Ngộ (心悟法師), Sư nói: “Người Trung Quốc thời hiện đại đối với việc thảo luận tri thức, nghiên cứu học vấn không sâu sắc, không uyên bác như người ngoại quốc, mà thanh niên Phật giáo so với thời cổ đại, sự thông minh cũng tỏ ra thiếu kém”. Những lời Sư nói quả thật không sai chút nào! Nhưng mấu chốt ở đâu? Ngược lại, chúng ta cần phải đặc biệt nghiên cứu và thảo luận. Ở nước ngoài, thường có các học giả nổi tiếng xuất hiện, đó là bởi vì hệ thống giáo dục của họ tốt, miễn là bạn có hứng thú quan tâm đến một chủ đề học vấn nào đó rồi sẵn sàng thực hiện nghiên cứu chuyên môn, thì chi phí sinh hoạt và chi phí nghiên cứu của bạn, lo gì chỉ trong vài mươi năm, Nhà nước đều có thể đài thọ cho bạn, không cần phải phân tâm. Cứ giam mình trong phòng thí nghiệm trong nhiều thập kỷ, như vậy nếu bạn không phải chuyên gia cũng trở thành một chuyên gia.

Nhưng ở Trung Quốc, anh cả (老大: người đưa đò) của chúng ta cho rằng đọc sách và nghiên cứu đều là việc riêng của mình, không liên quan gì đến người khác và không liên quan gì đến quốc gia, cho nên rất ít có đại chuyên gia xuất hiện ở đây. Nhất là trong Phật giáo, những thanh niên trẻ ngày nay đã cắt lìa tình ái và từ bỏ những người thân yêu của họ, tự mình bước vào cánh cửa của Phật giáo, không nhận được một nền giáo dục hợp lý và không được kế thừa thầy tốt. Ở trong đó, một mặt lật tung sách vở, mặt khác còn đánh vào chủ ý cho là thiếu sót giấy mực bút, ngoại trừ bạn có tiền tự mình mua vài quyển sách tôn giáo, chứ không có một thư viện Phật giáo nào cung cấp sách cho bạn đọc. Trong những tình hình này, tất nhiên, không thể trách thanh niên Phật giáo thiếu kém trí tuệ được.

Hơn nữa, sống dưới quyền lực của các Hòa thượng Trụ trì, điều mà họ hy vọng nơi bạn là có thể gánh nước, bửa củi, quét dọn, lau nhà, và hầu hết cho phép bạn vừa học vừa làm. Mà thông thường các tín đồ tại gia không hiểu biết, họ yêu cầu người xuất gia chỉ tụng kinh lạy Phật. Khi bạn đọc ba tạng, mười hai giáo điển, họ nói rằng bạn không tu hành; nếu trong tay bạn cầm chuỗi hạt niệm Phật lâm râm, họ nói bạn là người có đạo đức. Theo cách này để làm hài lòng các tín đồ, thì trí tuệ của các tu sĩ trẻ làm sao mà không nghèo nàn cho được?

Trong thời gian viết “Câu chuyện Vật ngữ”, tất nhiên, tôi đã nhận được rất nhiều lời khích lệ thú vị, nhưng cũng nghe qua những lời phê bình có thiện chí. Khi tôi viết “Lư Hương” – câu chuyện Vật ngữ thứ tám, trong đó có đoạn gọi là “Thập Đại Nguyện Văn” (十大願文), do đây dấy lên làn sóng phản đối, từ trong đám người mà tôi khiển trách là ngụy trang ngoan cố đó gọi đến tôi. Họ nói: “Người học Phật, không nên nguyền rủa mọi người, thậm chí có người còn nói rằng “Câu chuyện Vật ngữ” đều là nội tình trong Phật giáo, không nên cho người ngoài biết đến, tôi không nên đem câu chuyện này nguyền rủa người học Phật. Ở một khía cạnh nào đó, tất nhiên, tôi không phủ nhận rằng lời nói này là đúng. Giống như những người tu quả vị A-la-hán, ngay cả khi ai đó cầm dao giết họ, ngoài đưa cổ chịu chết họ quyết định không đưa tay đánh trả. Nhưng, nếu hàng Bồ tát Đại thừa lấy hạnh phúc của tất cả chúng sinh làm đối tượng, e rằng họ có thể tự mình cầm dao giết bọn ma quỷ để đời sống của mọi người được hài hòa yên ổn, điều này không thể nhìn từ một phía.

Hơn nữa, thể loại của “Vật ngữ” không phải là những bài văn chương sáo mòn rỗng tuếch, cũng có thể nói nó là một sáng tác văn học nghệ thuật. Ý nghĩa của văn học nghệ thuật là phản ánh hiện thực, thêm vào đó là ca ngợi và truyền bá điều thiện; nguyền rủa chỉ trích cái ác. Đối với văn học có người yêu cái đẹp, năng khiếu bẩm sinh của họ nếu là một nhân vật độc lập chắc chắn, họ cần phải dùng cái đầu độc lập của họ để suy nghĩ, cần phải dùng ánh mắt độc lập của họ để quan sát, và dùng trái tim độc lập của họ để cảm nhận! Bằng không, họ không phải là một con chim anh vũ (con vẹt) mà là một cái máy hát!

Văn học không phải là lời của một người muốn nói, mà là lời của đại chúng cần nói. Cho dù chúng ta nói: Đứng trên lập trường tôn giáo nếu đưa ra thái độ của học thuyết Đạo giáo, tốt hơn là nên nói những lời hòa nhã; nhưng trong Phật giáo, ngoại trừ những giáo đồ thờ ơ lạnh nhạt, hễ là người quan tâm đến Phật giáo đều có nguyện vọng và nhiệt tình với Phật giáo, đó không phải là một loại tâm lý hay sao? Giá trị của văn học và nghệ thuật chính là dám miêu tả những gì mà mọi người muốn nói, không trở ngại những trưởng lão lớn tuổi và thanh niên nhỏ tuổi của Phật giáo, cũng hy vọng không nên quá đa nghi mới tốt! Mặc dù tôi đã tạo khẩu nghiệp và nguyền rủa mọi người, ngay cả sau này tôi bất hạnh như thế nào, chỉ cần Phật giáo có thể thực sự hồi sinh, tôi sẽ sẵn sàng cam tâm tình nguyện chịu quả báo này.

Nói như vậy, người khác có thể có quan điểm không giống nhau, khi tôi nghe nói có một Pháp sư khai tòa giảng kinh, Sư đã đưa ra mười điều Đại nguyện này để giảng giải, và khen ngợi, nói rằng đây là sự nhiệt tình yêu tôn giáo dào dạt và đầy đủ. Tôi biết các bậc Trưởng lão và Đại đức chân chính trong Phật giáo suy cho cùng vẫn còn rất nhiều! Nhưng hiện tại tôi không muốn người khác nhân việc xuất bản cuốn sách nhỏ này mà phiền não, cho nên tôi đã lược và cắt bỏ đoạn này một ít.

May mắn thay, lúc đó chủ biên Giác Sanh là cư sĩ Chu Phỉ, Tổng biên tập Bồ Đề Thọ, là một người rất văn minh sáng suốt, bằng không thì sinh mệnh của “Câu chuyện Vật ngữ” lúc đó vừa bắt đầu thì đã đi đến kết thúc. Thứ nữa, có người nói rằng nội dung của “Câu chuyện Vật ngữ” là tình hình bên trong của Phật giáo và không nên tiết lộ với người ngoài, những lời nói này cũng làm cho tôi hoài nghi bối rối. Phật giáo không phải là chính trị, căn bản cũng không có cái gọi là tình hình nội bộ, Phật giáo chân chính chỉ sợ người khác không biết, ngược lại nếu biết thì rất dễ xử lý. Ý nguyện ban đầu tôi viết “Câu chuyện Vật ngữ”, tôi chỉ muốn phân biệt rõ ràng cái gì là Phật giáo và cái gì không phải là Phật giáo. Bởi vì chánh và tà, tốt và xấu, đúng và sai, hiện tại Phật giáo cũng không thể không tính toán một cách rõ ràng.

Trong thời gian viết “Câu chuyện Vật ngữ”, nhiều người cho rằng tôi đã cố tình làm khó họ, người hóa duyên (quyên góp) cho rằng tôi đã viết “những lời trong sổ hóa duyên” để đối phó với anh ta; làm thầy dạy kinh sám cũng cho là những lời nói của tôi gây khó khăn cho họ. Về vấn đề này, tôi không thể không nói rằng những suy nghĩ của họ hết sức nhạy cảm! Trong “Câu chuyện Vật ngữ”, tôi không thể đem lời nói của người đó, việc làm của người đó viết vào tác phẩm của mình; nhưng, trong bài viết của tôi, một số sự việc, một số lời nói được mô tả đích xác là có người đã làm, đã nói như vậy đó!

Hóa duyên là tạo sự nghiệp phúc lợi cho mọi người không phải là không tốt, mà là hóa duyên hoàn toàn vì quan niệm phước đức lợi lạc của cá nhân, cuối cùng vẫn bị chê trách là quá ích kỷ; làm kinh sám cũng không phải không thể làm, mà là không nương theo cách làm chân chính để mất sĩ diện của Phật giáo. Phật giáo đến ngày hôm nay, những vấn đề này đã đến giai đoạn nên đem tình hình sự việc công khai toàn bộ. Trong sự nghiệp của Phật giáo, mọi người đều lợi dụng chiêu bài của Phật giáo để làm con đường mưu cầu đời sống cho chính mình, “gửi thân cửa Phật để sống cho qua ngày đoạn tháng”, “buôn bán Như Lai”. Nói đến là đủ đau lòng rồi!

Tâm nguyện tôi viết “Câu chuyện Vật ngữ” là hy vọng Phật giáo chúng ta có thể khai trừ những thói quen xấu này, nhưng tôi biết đây là tham vọng quá lớn của tôi. Tuy nhiên, theo tôi hiểu, đích thực có nhiều người đọc “Câu chuyện Vật ngữ” đã nhận thức đâu là đúng và sai! Đọc “Câu chuyện Vật ngữ” đã hiểu biết Phật giáo, đồng tình Phật giáo, thậm chí tín ngưỡng Phật giáo!

Hiện nay “Câu chuyện Vật ngữ” đã được xuất bản và định danh là Tiếng ca không có âm thanh mà đã lược nói một chút nguyên nhân trên. Hai mươi hạng mục này là những vật dụng phổ biến và thường thấy trong Phật giáo, đợi sau này có thời gian, tôi sẽ viết bổ sung thêm mười hoặc hai mươi thiên. Tôi muốn đem toàn bộ Phật giáo với chút ít văn từ thay thế nó để lưu lại một hình ảnh thu nhỏ, như thế có phù hợp hay không, hy vọng các độc giả có thể chỉ giáo cho tôi!

Đại Sư Tinh Vân – Thanh Như (dịch)