Ân đức Già lam Vạn Hạnh

84

  Vạn Hạnh yên bình trong hẻm sâu
Phật tử thành tâm đến khẩn cầu
Cầu xin bá tánh tâm an lạc
Giáo lý thâm sâu nghĩa nhiệm mầu.

Nhớ lại năm xưa 1950, khi tôi khoảng 12 tuổi. Chùa Vạn Hạnh ở Chợ Lớn là hai căn nhà lá của vợ chồng ông Hương Quản Nguyễn Văn Ký và bà Trần Thị Đàng, hiến cúng cho người em trai là Thầy Giác Ngươn tu tại đây.

Hàng ngày, Thầy Giác Ngươn đi khất thực độ nhật qua ngày, tối lại có khoảng 10 Phật tử đến tụng niệm. Bọn trẻ chúng tôi vào chùa được Thầy Tám (Thầy Giác Ngươn) cho bánh, chuối, nên thích lắm. Thầy Tám xuất gia năm 14 tuổi, tu ở núi Bà Đen Tây Ninh, sau giặc Nhật đuổi hết xuống núi, nên Thầy Tám về nhà sống với anh chị. Ông Hương Quản sợ ở nhà khó tu, nên đã mua hai căn nhà lá, cất làm thảo am cho em trai tu hành. Sau đó Thầy viên tịch, chuyển sang Thượng tọa Giác Đạo từ chùa Phổ Quang Phú Nhuận về trông coi ngôi Tam bảo. Được vài năm, thì Thượng tọa cũng theo Phật về Tây. Đến đời thứ ba, có chín Đại đức từ chùa Phổ Quang, Giác Sanh về phụng sự ngôi Tam bảo.

Năm 1975, đất nước hòa bình, giang sơn nối liền một mối, chín Đại đức hồi hương, về nơi chôn nhau cắt rốn, lo phần mộ cho ông bà, chùa Vạn Hạnh một lần nữa thiếu người chăm sóc. Phật tử bàn tính chuyển sang thỉnh Ni, chúng tôi đồng làm đơn đưa lên Hòa thượng Thích Thiện Thông xin thỉnh Trụ trì (Vì Hòa thượng là Sư huynh của Thượng tọa Giác Đạo). Xin thỉnh Sư cô Như Ngộ và Sư cô Phước Giác tu học tại chùa Từ Nghiêm quận 10 về trụ trì tại đây.

Năm 1980, chùa Vạn Hạnh xuống cấp trầm trọng, chỉ cần một cơn mưa là dột tứ bề, Phật tử không sao ngồi im để tụng niệm. Mọi người đều đồng tâm hiệp lực, phụ lo với Sư cô Trụ trì. Mãi đến năm 1985, ngôi Già lam Vạn Hạnh tạm sửa xong để che mưa che nắng. Mặc dù không được khang trang lắm, nhưng Phật tử chúng tôi đều vui mừng khôn xiết.
Trải qua 35 năm, thay đổi ba đời Sư, nhưng ngôi Già lam Vạn Hạnh vẫn im lìm không gian tịch mịch, dường như bị quên lãng. Hai Sư cô về tu học tại đây, đã đem hết sức mình ra phục vụ quần sanh. Khi gia đình của Phật tử có ma chay, tang gia bối rối, là hai Sư cô có mặt, lo lắng chỉ bảo. Những năm mới giải phóng kinh tế khó khăn, người chết đủ tiền mua quan tài, phải mua lá triệu, tấm tiền bàn riêng (không bao mão như ngày nay). Chính Sư Phước Giác, dân trong vùng thường gọi là Chú Giác, tự tay mua giấy hồng đơn về viết lá triệu, tấm tiền bàn tặng cho nhà đám tang. Ôi! Nói sao cho hết tấm thâm tình của hai Sư, đối với bà con địa phương rất là thâm trọng.

Bây giờ, chùa có bếp cơm từ thiện hàng tháng, ngày mùng Một âm lịch phát từ tám trăm đến một ngàn hộp, cho bà con nghèo trong các con hẻm, các bệnh viện cũng đến nhận phần, về phát cho thân nhân người bệnh. Tết Nguyên đán phát 50 phần cho Phật tử tại địa phương, mỗi phần trị giá 400.000 đồng, gồm gạo, dầu, đường, bột ngọt, và tiền bì thư. Lễ Phật đản phát khoảng một tấn gạo. Lễ Vu lan hồi hướng đến công ơn cha mẹ, Phật tử phụ lo phát gần 5 tấn gạo cho dân nghèo, không phân biệt tôn giáo nào cả, trong đó có gia đình tôi cũng được thừa hưởng ân đức ấy.

Gần 40 năm về tu học và làm Phật sự tại chùa Vạn Hạnh, đường Vĩnh Viễn (phường 5, quận 10, TP.HCM), Sư bà Như Ngộ đã cưu mang, nuôi nấng quý Sư cô đi tu học, khoảng 10 Sư cô có bằng cử nhân Phật học, bốn Sư cô tốt nghiệp Cao đẳng, hai Sư cô tốt nghiệp Trung đẳng, còn quý Sư cô lớn tuổi học tại chùa.

Như vậy, cuộc đời của hai Sư là một tấm gương sáng để chúng con noi theo. Hàng tháng còn tổ chức khóa tu Một ngày an lạc có khoảng 30 – 40 Phật tử tham dự, chúng con rất thích được nghe Ni trưởng Phước Giác chia sẻ Phật pháp ngắn gọn, giúp chúng con giải tỏa được những khó khăn từng gặp trong cuộc sống của đời thường. Một đời của con gắn liền với chùa Vạn Hạnh, từ tuổi ấu thơ, đến nay tuổi bát tuần, đã gói trọn biết bao kỷ niệm, thật là hạnh phúc, khi được viết về ngôi chùa mang nhiều dấu ấn thân thương của tình làng nghĩa xóm.

Mộng Linh
(Viết theo lời kể của ông ngoại tác giả Vũ Văn Tha, pháp danh Thiện Lực).