Âm hưởng còn đây

13
Sư trưởng thượng Như hạ Thanh

  Giữa muôn ngàn sóng dậy trùng khơi, nghe âm hưởng đâu đây, lòng tri ân niệm ân và báo ân của những hàng hậu bối chúng con, trong thời đại công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Thật khó lắm, giữa thời buổi mà đời sống vật chất lên cao, cũng tỉ lệ nghịch với đời sống tinh thần đi xuống. Chẳng phải dễ khi chúng con thu nhiếp được lục căn không nhiễm lục trần. Để sống với bản tâm thanh tịnh, trở về chân tánh nơi mình là cốt lõi của người xuất gia tu đạo, thật chẳng phải chuyện dễ làm. Thấy rõ phận mình, chúng con thật hổ thẹn làm sao, nghiệp dày phước mỏng, chuyện tu hành còn nhiều khúc khuỷu chông gai. Nhớ đến những bậc Ni lưu, vang danh một thời, lưu lại sự nghiệp và đức độ của mình trong trần thế và lòng nhân sinh. Các Ngài là những tấm gương sáng điển hình, rất cụ thể đó là Sư trưởng thượng Như hạ Thanh. Trong sự nghiệp tu hành, Ngài đã để lại biết bao lời dạy nói lên chân lý tuyệt vời. Bài thơ Thiền nhân tự tỉnh thật tuyệt vời:

Lặng nhìn thông suốt tâm nguyên
Mới hay công đức đạo Thiền thẳm sâu
Dẹp phăng ý niệm vọng cầu
Phát huy tánh đức thâm sâu nơi lòng
Chiếu soi ngoại cảnh muôn dòng
Tỏ thông bản thể viên đồng một tâm
Đã cùng pháp giới thậm thâm
Viên dung nhất niệm lỗi lầm còn đâu
Thiền nhân tỉnh ngộ tâm đầu
Đấy là công dụng thâm sâu đạo Thiền
Ngoài tâm đầu chẳng chi riêng
Khai thông tỉnh ngộ, cơ huyền hiện ra
Phật, ma đâu phải riêng nhà
Thiền nhân nhất niệm dung hòa tự tâm
Tỉnh ra lìa khỏi lạc lầm
Bao nhiêu mê chướng muôn tầm còn đâu
Bồ đề Phật quả nhiệm mầu
Tự nhiên lưu lộ ứng hầu Thiền nhân.

Trong bốn câu thơ đầu, Sư trưởng dạy chúng ta khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần lặng lẽ không dính mắc, trú chấp và vướng kẹt thì thông suốt được nguồn gốc của tâm. Đó là bản thể tịnh minh như Kinh Lăng Nghiêm đã nói. Khi nhận chân được cội gốc của tâm mình, mới thấy được ân đức của Phật Tổ và những bậc thầy sâu rộng. Các Ngài đã vì lòng bi mẫn, biết bao pháp môn phương tiện thiện xảo chỉ bày cho chúng ta nhận ra được tâm mình. Trong Kinh Lăng Nghiêm, Đức Thế Tôn đã dạy, nếu không nhận biết được rõ ràng vọng tâm và chân tâm, lầm nhận vọng là chơn mà tu hành thì chẳng khác nào nấu cát muốn thành cơm ngon trọn không thể được. Thật sự chúng ta thấy trong thân tứ đại bại hoại của mình vẫn có cái bất sanh bất diệt. Tâm vọng thì lăng xăng duyên theo trần cảnh, nhưng bản thể thanh tịnh sáng suốt bất sanh bất diệt, không thể qua mặt được tâm hằng sáng suốt hằng tĩnh lặng bất kỳ điều gì. Đôi khi trong thời đại công nghệ thông tin, chúng ta sống quá vội, chạy theo vọng nhiều hơn trở về với bản tánh. Một bài thơ của Thiền sư Huyền Quang thật ý nghĩa:

春日即事
二八佳人刺繡遲
紫荊花下轉黃鸝
可憐無限傷春意
盡在停針不語時

Xuân Nhật tức sự
Nhị bát giai nhân thích tú trì
Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly
Khả lân vô hạn thương xuân ý
Tận tại đình châm bất ngữ thì.

Khi hiểu thấu đáo và rõ ràng bài thơ này, chúng ta cảm thấy thật thích thú với ý Thiền và thơ Xuân mà Thiền sư Huyền Quang đã dạy. Quả thật “Thiền là chiếc dao gọt ngọc của thi gia, thơ là chiếc áo thêu hoa của Thiền khách.” Nhà Thiền dùng thơ để chuyển tải đạo lý.
“Nhị bát”: hai nhân tám bằng mười sáu, ý nói tuổi mười sáu là tuổi trăng tròn, trong sáng, ngây thơ gần với đạo.

“Giai nhân”: ý chỉ cho Phật, Thiền sư và những bậc xuất cách, cũng có khi chỉ các Ngài lại dùng từ mỹ nhân, nhưng ở đây không chỉ cho người nữ đẹp mà chỉ cho những bậc xuất trần thượng sĩ.

“Thích”: là thêu, dệt. Trong cuộc sống, chúng ta thêu dệt rất nhiều, thêu dệt vọng tưởng rối rắm như tơ tằm. Hằng ngày, chúng ta tiếp duyên xúc cảnh, dính mắc chấp trước, đó là chúng ta đang thêu dệt những cái bại hoại.

“Tú trì”: chậm rãi, không gấp gáp, ý ở đây rất sâu. Muốn gần với đạo, những cái thêu dệt, dính kẹt chấp trước bởi vọng tưởng phải chậm lại, dừng bớt hay nói cách khác là sống chậm. Vì trong cuộc sống hiện tại, chúng ta sống nhanh, sống gấp và sống quá vội nên xa với đạo, xa với bản tâm thanh tịnh của chính mình.

Ở câu thơ thứ hai: “Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly”:
“Tử kinh”: chỉ cho hoa mùa xuân.
“Hoa hạ”: dưới lùm hoa
“Chuyển”: hót
“Hoàng ly”: chim Hoàng Oanh hót. Ý nói vào mùa Xuân, chim Hoàng Oanh hay Hoàng Ly hót dưới lùm hoa, đó là nghĩa đen, còn ý sâu chúng ta hiểu, khi thấy âm thanh, sắc tướng từ trần cảnh hoặc bóng dáng của khách trần… mà biết xoay lại chính mình. Tuy tả cảnh bên ngoài, nhưng từ huyễn cảnh mà trở về chân như. Tu không chỉ ngồi yên, ý nói tu trong động. Tịnh thì chúng ta lặng lẽ thật dễ dàng, nhưng tịnh trong động, đó mới là môi trường chúng ta thực tập công phu. Thấy từ ngoại cảnh nhưng trở về chân tánh, biết nghe, biết thấy… trở về tánh biết của sáu căn, đó cũng là tông chỉ tu hành mà Sư ông Trúc Lâm thượng Thanh hạ Từ thường nhắc. Khi tiếp duyên xúc cảnh, sáu căn ứng với sáu trần, chúng ta trở về với tánh biết thanh tịnh ban đầu, đâu đâu cũng là đạo, đâu đâu cũng là sự tu hành.

“Khả lân vô hạn thương xuân ý”
“Khả lân”: thương lắm ý xuân ở đây chỉ cho bản tánh thanh tịnh, sáng suốt, tôn trọng tánh linh, bản thể chân tâm của chính mình. Thương lắm ý xuân vô hạn nói lên sự trân trọng bản tánh và trân quý lắm tánh giác. Thường chúng ta thấy khi bản thân biết trân trọng, tôn quý và hướng về một điều gì đó thì trước sau chúng ta cũng sẽ đạt được, cũng trở về sống được với bản tánh nơi mình.

“Tận tại đình châm bất ngữ thì”
“Tận tại”: là khi cuối cùng (tột nhất, rốt ráo…)
“Đình châm”: dừng kim
“Bất ngữ” không nói năng.
“Thì”: khi.

Không dính vào đâu, không kẹt, không trú chấp, lìa đối đãi phân biệt của ngoại cảnh và tâm, thì bản thể, chân tâm xuất hiện.

“Ly phan duyên tướng” là chúng ta lìa không phan duyên theo tướng (đình châm: dừng kim, ý chỉ cho sự ngưng dệt theo vọng tưởng).
“Ly ngôn thuyết tướng” (bất ngữ thì: khi không nói năng).
“Ly danh tự tướng” lìa danh tự, ba yếu chỉ trên cũng là điều cốt lõi của Thiền tông. Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ khi đến Trung Hoa đã tuyên bố: “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật” cũng không ngoài những ý này.

Bốn câu thơ của Thiền sư Huyền Quang dạy cho chúng ta tiến trình tu tập, nếu muốn trở về bản tâm tanh tịnh nơi mình thì hãy sống chậm, bớt thêu dệt vọng tưởng, tu trong động từ ngoại cảnh trở về bản tánh, phải kính quý, tôn trọng và nhớ về bản tâm thanh tịnh của mình, trở về sống với tánh Phật. Nhưng muốn được như thế, chúng ta phải dừng kim không nói năng, ý chỉ cho dừng vọng tưởng không dệt thêm, không chấp kẹt, dính mắc vào đâu, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần trở về với tánh biết hằng hữu, như Kinh Kim Cang đã dạy: “Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm”. Chúng ta sống được với đạo, với nhân Phật trong mình. TT. Thích Thông Thiền dịch nghĩa bài thơ trên như sau:

Tức cảnh ngày xuân
Nhẩn nha thêu gấm tuổi tròn trăng
Líu lo chim hót khóm hoa gần
Bao nỗi thương xuân thương biết mấy
Là lúc dừng kim không nói năng.

Ý nghĩa thật sáng sủa, giúp chúng ta rõ hơn để nắm bắt tâm tông của Phật, ý chỉ của Tổ mà ứng dụng tu hành. Bởi thế Sư trưởng Như Thanh đã nói: “Dẹp phăng ý niệm vọng cầu. Phát huy tánh đức rộng sâu nơi lòng.” Trong tự tâm đều có đủ, khi trở về bản thể thanh tịnh hằng sa. Sư trưởng dạy tiếp:

Chiếu soi ngoại cảnh muôn dòng
Tỏ thông bản thể viên đồng một tâm
Đã cùng pháp giới thậm thâm
Viên dung nhất niệm lỗi lầm còn đâu.

Thật sự khi trở về với bản thể thanh tịnh, không vọng khởi tạo nghiệp thì lỗi lầm lúc này ở đâu? Không phải là trở về cái không ngơ, nhân nơi thể mà phát ra diệu dụng, Sư trưởng đã nói:

Chiếu soi ngoại cảnh muôn dòng
Tỏ thông bản thể viên đồng một tâm.

Sự chiếu soi là một diệu dụng, rõ ràng thường biết của bản tâm. Trở về viên dung nhất niệm, thể tánh thanh tịnh bặt dứt duyên trần, nên Sư trưởng đã nói: “Lỗi lầm còn đâu.”

Nhân thiền tỏ ngộ tâm đầu
Đấy là công dụng thâm sâu đạo mầu
Ngoài tâm đầu chẳng chi riêng
Khai thông tỉnh ngộ cơ thiền hiện ra
Phật, ma đâu phải riêng nhà
Thiền nhân nhất niệm dung hòa tự tâm.

Những câu thơ của Sư trưởng toát lên cho chúng ta thấy ý chỉ Thiền thật thâm sâu tất cả đều do tâm biến hiện, nhận được bản thể thì diệu dụng khôn cùng. Phật và ma không phải riêng nhà, tất cả đều ở trong ta, từ tâm biến hiện, nên trong Kinh Hoa Nghiêm đã nói: “Vạn pháp duy tâm tạo”. Lục Tổ Huệ Năng dạy, phiền não tức Bồ đề, tuy hai mà chẳng một. Mê tức chúng sanh, ngộ tức Phật, như trở bàn tay chỉ cách nhau trong lằn tơ kẽ tóc. Người tu thiền nhận thấu được bản tâm thì chánh niệm, hiện tiền dung hòa được tất cả. Bốn câu thơ cuối Sư trưởng dạy:

Tỉnh ra lìa khỏi lạc lầm
Bao nhiêu mê chướng muôn tầm còn đâu
Bồ đề quả Phật nhiệm mầu
Tự nhiên lưu lộ ứng hầu thiền nhân.

Khi chúng ta tỉnh ra, sống trong chánh giác (sống trong chánh niệm tỉnh giác) hiện tiền bao nhiêu sự chấp trước mê lầm đều tan biến, chân tâm Phật tánh hiển lộ trở về với bản thể thì mầu nhiệm không cùng, sống tự nhiên trong cuộc sống thường nhật, nhưng đều ứng hợp với cách sống của thiền nhân. Bốn câu thơ của Sư trưởng nhắc chúng ta sống trong ngoại cảnh, sống tự nhiên hợp với đạo, bình thường chứ không tầm thường, như Sơ tổ Thiền phái Trúc Lâm Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã dạy:

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền.
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi Thiền.

Thật sự tuyệt vời, lời thơ ý thiền mà những bậc tiền bối đã chỉ dạy. Sư trưởng thượng Như hạ Thanh đã viên tịch cách đây 21 năm (1999 – 2020) nhưng ý đạo trong những lời dạy của Người vẫn còn đâu đó, chỉ cần chúng ta nhận chân hiểu được, trong tự thân ai cũng có đủ bản thể tịnh minh, chân tâm hiện hữu, nơi huyễn cảnh mà trở về sống với chân tánh, cuộc sống này biết bao sự mầu nhiệm. Môi trường tu hành thật ý nghĩa làm sao, vui với lời kinh ý Tổ, vui với những lời dạy thoát trần của những thiền nhân, bậc Ni lưu xuất cách của một thời vang danh. Hàng hậu học chúng con ngưỡng vọng tri ân về Người, mạo muội ôn lại lời dạy của Sư trưởng để tự răn nhắc chính mình và chia sẻ cùng pháp lữ thân thương. Sư trưởng thượng Như hạ Thanh cũng là một trong những Ni lưu xuất cách, nối gót tiền nhân mà hàng hậu học chúng con noi gương, quý kính và cố gắng tu tập trong cuộc sống tu hành của vị nữ tu sĩ thời đại 4.0. Ngưỡng vọng về Người – Sư trưởng thượng Như hạ Thanh!

Hải Thuần