Thầy và trò trong thiền môn

92
Thiền viện Bảo Hải

  Như chúng ta đã biết, một giọt nước chẳng làm nên đại dương, một cây chẳng tạo thành rừng, một mình ta cũng chẳng có nghĩa lý gì giữa cuộc đời này. Thế nên mỗi người con Phật, đặc biệt là tu sĩ cần và rất cần sự nương tựa vào Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng. Trong đó, Tăng là những bậc gần gũi dạy dỗ, giúp đỡ ta tu tập trong Thiền môn, qua hình ảnh những bậc thầy và đại chúng. Khi còn là cư sĩ tại gia người không thể quên kể đó là cha mẹ. Còn khi đã xuất gia, Thầy Tổ là kim chỉ nam giúp ta đi đến lộ trình giải thoát. Cha mẹ cho chiếc thân tứ đại này, Thầy Tổ là người cho ta giới thân huệ mạng. Thân tứ đại sẽ không còn mãi theo thời gian, nhưng trí tuệ vô sư mà những bậc thầy giúp mình nhận ra thì vĩnh hằng từ đời này sang kiếp khác. Vậy để hiểu rõ hơn tầm quan trọng của những vị Thầy, chúng ta cùng nhau chia sẻ đề tài Thầy và Trò trong Thiền môn.

Thầy là gì? Trò là gì? Theo cuộc sống thực tế ngoài xã hội, những bậc thầy là người chỉ dạy kiến thức trí tuệ, trò được tiếp nhận sự chỉ dạy, lớn khôn từ sự giáo dưỡng ấy. Nhưng thầy và trò trong Thiền môn có sự khác biệt, ngoài trách nhiệm nuôi nấng, thầy là người, không chỉ hướng dẫn chúng ta về giáo lý, kiến thức của đạo Phật, mà còn là vị khai sáng nguồn tâm giúp ta nhận ra trí tuệ vô sư của chính mình, ấy cũng là cốt tủy và mục đích mà các Đức Phật ra đời chỉ dạy cho chúng đệ tử. Như Kinh Pháp Hoa đã nói: “Khai thị ngộ nhập Phật tri kiến” hay nói dễ hiểu hơn là giúp ta nhận ra tâm Phật trong chính mình. Bậc thầy trong Thiền môn cũng thế. Chính điều này mà thầy ngoài thế gian không thể sánh bì. Trong đạo Phật, thầy là một vị cực kì quan trọng, nuôi dưỡng Tăng chúng về vật chất lẫn tinh thần. Nhắc nhở, la rầy, rèn luyện, hình thành cho ta từ cung cách oai nghi trên thân tướng, lẫn tâm thức và đức độ của một vị tu sĩ.

Tăng Ni trẻ chúng ta hiện nay cần và rất cần những bậc thầy và môi trường đại chúng, một mình không thể đủ sức, đủ đức mà hình thành một tu sĩ chân chánh, trong thời đại văn minh tự do, đặc biệt là công nghệ thông tin rất dễ làm ta sa hầm sụp hố. Nên cần có Thầy Tổ và bằng hữu, như Tổ Quy Sơn đã dạy trong bài văn Cảnh Sách như thế này: “Sanh ngã giả phụ mẫu, thành ngã giả bằng hữu” nghĩa là: “Sanh ta là cha mẹ, tác thành nên ta là thầy bạn”. Tu sĩ trẻ thời nay thường không quan tâm đến vấn đề này, thầy và trò cũng có sự khác biệt so với thời xưa, tình thầy trò rất thiêng liêng, sự trung thành hiếu kính với thầy là tuyệt đối. Nhưng hiện nay thì sao? Chúng ta trẻ, có sức khỏe, trí tuệ và năng lực, bằng cấp… hầu hết những sự tướng nổi bật, thì đối với những vị thầy quê mùa không bằng cấp, không hay chẳng giỏi như ta, thì cách ứng xử với những bậc thầy ấy ra sao?

Kính trọng, yêu thương, lo lắng, giúp đỡ, vâng lời hay bỏ bê, khinh thường, chán ghét, bất cần, đối nghịch…? Điều này mỗi người tu sĩ cần xem xét lại, việc hành xử của mình là đúng hay sai đối với Thầy? Nếu như ta đã lỡ đối với Thầy Tổ mình không phải đạo, thì giờ hãy chưa muộn. Thầy còn hơn là cha mẹ, sẽ không bao giờ bỏ ta khi ta quay đầu. Vì các Ngài biết đây cũng là một nhân Phật tương lai. Hãy về lại bên Thầy, sám hối những lỗi lầm, sống trong sự yêu thương của Thầy bạn và nên khắc ghi rằng: “Nếu không có Thầy thì chẳng có mình hôm nay, ai cưu mang bảo bọc, cạo tóc, xuất gia, dạy dỗ truyền trao chánh pháp cho ta tu tập, nhận được bổn tâm? Liệu không có Thầy, ai là người giúp ta từ một phàm phu lên địa vị thánh, từ một người thường tình giờ đây đang được đi trên con đường giải thoát, con đường thánh đạo?” Thật sự: “Không thầy đố mày làm nên”. Dù chúng ta có hơn Thầy về mặt sự tướng tài năng, những cái ấy là sanh diệt không bền chắc theo thời gian, mà Thầy là người chỉ dạy giúp chúng ta sống với cái bất sanh, bất diệt tồn tại theo thời gian, đây mới là mục đích của sự tu hành. “Trò có hơn Thầy, vẫn thua Thầy nửa đức”. Những bậc thầy trong Thiền môn rất được xem trọng, trong những giới Sa di, Sa di ni cho đến Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, một trong bốn bộ luật trường hàng có một bài dạy rất kĩ về việc thờ Thầy. Trong Hạ Thiên Oai Nghi, bài Sự Sư Đệ Tam dạy rất chi tiết: Tu sĩ chúng ta cần học tập, thấu suốt phép tắt của người trò đối với những bậc ân sư của mình, để hành xử cho đúng pháp, góp phần làm Phật pháp trường tồn nơi đời và không đi sai những điều Chư Phật, chư Tổ đã dạy: “Thị Hòa thượng A Xà Lê như thị Phật đương kính ư sư thường phụ cận chi như pháp luật hành…” nghĩa là: “Chiêm ngưỡng Thầy như Phật, phải kính Thầy, thường gần gũi Thầy để hành trì đúng pháp đúng luật…” Thế nên, chúng ta cần phải ghi nhớ. Khó lắm giữa cuộc sống này mà chúng ta có được một bậc minh sư (Thầy sáng bạn lành), có môi trường tốt để tu tập. Nhưng nhiều lúc ta đã đủ phúc duyên có được, lại bị nghiệp thức che mờ, lâu ngày quên rằng mình đang hạnh phúc, tâm bồ đề lui sụt… nhưng đã có Thầy, những giờ lên lớp, những giáo từ nơi Thầy đã vực dậy ý chí trong ta, tiếp tục con đường tu tập thoát ly sanh tử luân hồi. Mỗi vị thầy có mỗi tâm nguyện và đức hạnh khác nhau, các Ngài dùng cả thân giáo và khẩu giáo để giúp ta tu hành. Thâm ân này làm sao có thể đáp đền cho cân? Vậy nên tu sĩ chúng ta cần cố gắng nhiều hơn nữa, lợi mình lợi người tốt đạo đẹp đời, sống được với những hoài bão mà Thầy mong mỏi nơi chúng ta, có như thế mới ngõ hầu đáp đền thâm ân trong muôn một. Khi xưa, Thiền sư tuy đã ngộ đạo mà vẫn ở lại bên Thầy ba mươi, bốn mươi năm để hầu Thầy, để bảo dưỡng nguồn tâm, còn chúng ta thời nay thì thế nào? Bằng cấp tiến sĩ, thạc sĩ… là đủ để chúng ta từ biệt Thầy mãi mãi rồi sao? Đây là vấn đề nóng bỏng mà Tăng Ni trẻ hiện nay đang và sẽ mắc phải rất nhiều, nếu chúng ta không cảnh tỉnh chính mình.

Phương pháp để có sự kết nối chặt chẽ tạo nên tình thầy trò thiêng liêng trong Thiền môn chúng ta cần:

Đối với trò: Chúng ta phải có niềm tin tuyệt đối với bậc thầy hướng đạo cho mình. Biết vâng lời, gần gũi, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ… tạo tình thầy trò thuận thảo, sự giao thoa và tương ưng giữa thầy trò phải có. Nhưng khi tình thầy trò suôn sẻ thì không có vấn đề phải nói, giả như khi ta phạm lỗi, biết lỗi sám hối mà vẫn không được Thầy chấp nhận thì chúng ta sẽ xử lý thế nào? Chán nản, buông xuôi, bất cần… hay sao? Đây là những điều không nên làm, mà chúng ta phải hạ thấp tự ngã của mình, sám hối năm lần bảy lượt, chờ thời gian, và tự thay đổi cách sống để Thầy thấy mà tha thứ cho ta. Tạo sự kết nối giao thoa giữa tâm ta và tâm Thầy, tâm của một vị lớn không tầm thường nhỏ bé, thế nên tự thân nỗ lực tu hành để tâm mình và Thầy tương ưng với nhau, để Người hướng dẫn dạy dỗ ta tu tập, tìm về quê xưa chốn cũ mà tự thân đã lãng quên từ vô thỉ kiếp.

Thiền sư Gettan (Nguyệt Am Tông Quang: Gettan Soko hay Osho 1326-1389, Lâm Tế tông Nhật), sống vào cuối triều đại Tokugawa. Ngài thường bảo: “Có ba hạng đệ tử: một hạng hoằng hóa giáo lý, một hạng tu tập ở chùa, và một hạng giá áo túi cơm.” Gasan (Thụy Nham Tông Thạc: Gasan Soseki, 1879-1965, Lâm Tế tông Nhật) cũng nói như thế. Khi Ngài còn tu học với vị thầy rất khắt khe là Tekisui (Đích Thủy Nghi Mục: Tekisui Giboku, 1822-1899, Lâm Tế tông Nhật) đôi khi còn bị Thầy nện cho mấy gậy. Nhiều Thiền sinh khác không chịu nổi đã phải bỏ đi. Gasan ở lại, nói: “Một đệ tử xoàng thì dựa oai Thầy. Một đệ tử khá thì ngưỡng mộ từ tâm của Thầy. Một đệ tử giỏi thì trở nên vững chãi hơn dưới kỷ luật của Thầy.” Vậy chúng ta hãy tự xét lại mình là hạng đệ tử nào đây? Cần phản quan để ta kịp thời chỉnh sửa, vì tu là sửa mà: “tu hành giả tu cải hành vi, xả ác thủ thiện, ly tục tùng đạo giả… ” (Sơ Đẳng Phật Học Giáo Khoa Thư).

Riêng với vị thầy: Nên dùng lòng từ bi đối với đệ tử, cảm thông, lắng nghe tâm tư nguyện vọng… để kịp thời răn nhắc dạy dỗ, đặc biệt khi đệ tử phạm lỗi, nếu y biết lỗi sám hối thì vị thầy nên mở lòng đại bi, để không bỏ lỡ một mầm Phật trong chúng sanh kia.

Khi nói đến người con Phật, thì tinh thần: “Tri ân – niệm ân và báo ân” là hàng đầu, vì đó cũng là truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam. Trong cuộc sống có vô vàn mối quan hệ, nhưng tình thầy trò trong Thiền môn là sự thiêng liêng không tính kể, chúng ta nên trân trọng quý kính những gì mình đang có, “vì thời gian chỉ được tính bằng những lúc ta được bên Thầy, lời Thầy như lửa thiêng đem mồi vào từng trái tim, ban cho con hùng lực, cho con tròn đầy bi trí. Con luôn nhớ ơn Thầy, Thầy dạy con hằng buông, con luôn kính yêu Thầy, Thầy dạy con nguồn tâm, Thầy nhắc con đừng quên tâm” (NS. Thích Nữ Hạnh Huệ, Thiền viện Viên Chiếu). Đối với những bậc Thầy là thế ấy! Một tình thương không vụ lợi tính toán, một trái tim bi từ ban rải cho muôn nơi… Thế mà lắm lúc chúng ta đã vô minh chạy theo tập nghiệp của riêng mình, để Thầy phải nặng lòng vì ta, thâm ân chưa báo, hổ phận kém hèn, giờ này biết nói gì thêm, chúng ta hãy cùng nhau tu sửa lại chính mình, vì hôm nay khác hôm qua, và khác hơn nữa ở ngày mai, chỉ cần tự thân không thối chí nản lòng thì việc gì mà chẳng đạt? Mỗi ngày xứng đáng hơn, là một người đệ đúng nghĩa đối với những bậc ân sư của mình. Làm cho thâm tình của thầy trò trong Thiền môn mỗi ngày mỗi tỏa sáng. Trọng thầy mới được làm thầy, mới mong tiếp dẫn được hậu lai, báo Phật ân đức, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu độ ba đường… tròn trách nhiệm, bổn phận của tu sĩ chân chánh trong Phật giáo.

Hải Thuần Bảo Hải